 |
Thời
Sự Y Học số 129
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CÚM A BÂY GIỜ
LAN TRÀN TRÊN 6 LỤC ĐỊA
Theo OMS, thế giới đang tiến gần đến trận đại dịch cúm toàn cầu đầu tiên
của thế kỷ 21. Chậm mà chắc, virus H1N1 tiếp tục lan tràn trên toàn thế
giới. 6 lục địa từ nay bị tác động bởi bệnh cúm được gọi là “heo” hay
“mexico”, trong thời gian chưa được hai tháng, đã làm nhiễm bệnh gần 20.000
người và gây tử vong cho hơn 100 người, chủ yếu ở Mễ Tây Cơ và Hoa Kỳ.
Thật vậy, hôm qua, một trường hợp đầu tiên đã được chính thức chẩn đoán
ở Châu Phi, chính xác hơn là ở Ai Câp, một trong các nước đã bị ảnh hưởng
nhất thế giới bởi một loại cúm khác, virus của cúm gia cầm H5N1, với 27
trường hợp tử vong, được ghi nhận cho đến ngày hôm nay.
“ NHỮNG LAN TRÀN ĐẦU TIÊN ”
Thế giới đang tiến gần đến giai đoạn báo động đại dịch tối đa cấp 6, phó
tổng giám đốc OMS, BS Keiji Fukuda đã báo cho biết như vậy, lúc nêu lên
rằng những đợt lan tràn đầu tiên có tính chất tự trị của virus H1N1 đã
được quan sát thấy trong dân chúng của các nước nằm ngoài lục địa châu
Mỹ, cái nôi của dịch bệnh, như ở Vương Quốc Anh, Nhật Bản, Chí Lợi và
Úc. “ Tuy nhiên, chúng tôi vẫn còn chờ đợi một hoạt động thật sự lan tràn
của virus trong dân chúng của những quốc gia này ” trước khi nâng mức
báo động, đã được định ở cấp 5 (báo hiệu một đại dịch “ sắp xảy ra ” )
từ ngày 25/4, nhân vật số 2 của OMS đã nói thêm như vậy.
“ Rõ ràng là virus dường như lan tràn trên quy mô toàn thế giới. Chúng
ta biết rằng một số quốc gia nào đó đang trong giai đoạn chuyển tiếp,
với bước chuyển từ các trường hợp liên quan đến các chuyến đi du lịch
(đến các nước bị dịch) đến một sự đóng chốt rõ rệt hơn của virus trong
lòng dân chúng ”, ông đã nói tiếp như vậy. Đây là điều mà các chuyên gia
gọi là sự truyền “ cộng đồng ” (transmission communitaire). Theo lời khuyên
của các chuyên gia quốc tế, OMS đã quyết định tính đến tiêu chuẩn “ mức
độ nghiêm trọng ” (gravité) của bệnh để chuyển qua giai đoạn đại dịch
tối đa, chứ không chỉ căn cứ trên tiêu chuẩn lan tràn địa lý, thường được
xét đến trong hệ thống báo động của OMS, BS Fukuda đã chỉ rõ như vậy.
Thế mà hoạt tính của cúm heo hiện nay chỉ ở mức độ “ vừa phải ”, ông đã
ước tính như thế, đồng thời bác bỏ từ “ hiền tính. Theo bilan mới nhất
của OMS được công bố hôm qua, 19.273 người đã bị lây nhiễm trong 66 nước
bởi virus H1N1. 117 người chết vì bệnh cúm này.
Sự tiến triển mạnh nhất của những trường hợp cúm được xác nhận, đã được
ghi nhận ở Úc, với một sự gia tăng gấp đôi trong 48 giờ, để đạt một tổng
cộng 501 trường hợp, ở Canada (1530 trường hợp), ở Vương quốc Anh (339
trường hợp) và nhất là ở Hoa Kỳ , nơi đây 1078 bệnh nhân bổ sung đã được
ghi nhận trong các ngày qua, nâng tổng số lên 10.053 trường hợp lây nhiễm
trong đó 17 tử vong. Hôm qua, tổng thống Barack Obama đã viết cho bà chủ
tịch hạ viện Nancy Pelosy, để yêu cầu 2 tỷ dollar bổ sung, ngoài phong
bì 1,5 tỷ đã được đòi hỏi cách nay một tháng, nhằm tăng cường khả năng
đáp ứng của Hoa Kỳ với “ một khả năng tiến triển của bệnh. (LE
FIGARO 4/6/2009)
2/ H1N1 : “ SẼ PHẢI TIÊM CHỦNG
CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI ”
G.S Sylvie Van der Werf, nữ giám đốc của một đơn vị nghiên cứu ở Viện
Pasteur, Paris, trong một cuộc mạn đàm, đánh giá rằng toàn dân sẽ phải
được tiêm chủng chống virus H1N1 ngay khi vaccin, hiện đang được bào chế,
sẽ có sẵn để sử dụng.
Hỏi : Có phải chúng ta đang ở trong một tình
huống mới lạ, với virus H1N1 đã phát khởi ở Mễ Tây Cơ ?
Sylvie Van der Werf : Vâng, rõ ràng là chúng ta đang đối diện với một
virus mới, đang lưu hành trong cộng đồng (communauté) (nghĩa là phát xuất
từ những ổ bệnh tự trị chứ không còn được nhập cảng từ nước ngoài nữa),
trên nhiều lục địa. Chúng ta đang ở trên bờ của giai đoạn báo động đại
dịch cấp 6 của OMS. Thực ra giai đoạn 6 được đặc trưng bởi sự truyền “
cộng đồng ” (transmission communautaire) của virus trên ít nhất hai lục
địa. Hiện chúng ta đang ở giai đoạn này. Ngoại trừ những mức độ báo động
này đã được xác định trong khung cảnh của một đại dịch do virus H5N1 của
cúm gia cầm, độc lực hơn nhiều. Trong khi tính chất sinh bệnh của virus
H1N1 hiện nay chỉ ở mức độ trung bình. Điều này giải thích vì sao OMS
đang còn chần chừ trong việc nâng cao mức báo động.
Hỏi : Mùa hè đến có sẽ làm ngưng sự lưu hành
của virus ở Châu Âu hay không ?
Sylvie Van der Werf : Đúng vậy. Có những yếu tố khí hậu thuận lợi ít hay
nhiều cho sự truyền của bệnh cúm. Cúm mùa (grippe saisonnière) được truyền
hơn vào mùa đông, nhưng đó không phải là một tiêu chuẩn tuyệt đối. Ở vùng
nhiệt đới, các virus cúm lưu hành suốt năm, với hai đỉnh cao, đặc biệt
là vào mùa ấm. Ở châu Âu, dịch bắt đầu hơn vào tháng 12. Nhưng chúng ta
hiện nay đang ở trong một tình huống đặc biệt, vì lẽ ở Hoa Kỳ và Canada,
virus này hiện đang lan tỏa, trong khi lại đang vào mùa hè, và như thế
là ở ngoài những thời kỳ cổ điển mà virus cúm có thể lưu hành. Có lẽ,
sự việc dân chúng, không hề thụ đắc một khả năng miễn dịch nào, làm cho
dễ bị nhạy cảm hơn. Nhưng hiện nay chúng ta không ở trong trình trạng
lan truyền bình thường.
Hỏi : Bà thấy sự tiến triển của tình hình
ra sao ?
Sylvie Van der Werf : Tôi không hề tưởng tượng một giây phút nào là sự
lan tràn sẽ dừng lại và rằng virus mới này sẽ biết mất như một phép nhiệm
màu. Virus hiện đang lưu hành một cách tích cực, đặc biệt ở Nam bán cầu,
với một tình huống phức tạp, vì lẽ có một sự lan tỏa đồng thời với virus
của cúm mùa. Từ trước đến nay, mỗi khi một virus mới xuất hiện, nó sẽ
thay thế virus của cúm mùa. Hiện nay không phải là như thế. Chúng ta đang
ở trong một tình hình mới. Chúng ta không biết, vào mùa thu sắp đến, ở
Bắc Bán cầu, sẽ có một sự lưu hành đồng thời của hai virus hay là chỉ
một mà thôi. Điều này sẽ tùy thuộc vào những gì sẽ xảy ra trong Nam bán
cầu. Ở Úc cũng như ở Nam Mỹ, sự lan truyền cộng đồng (transmission communautaire)
là tích cực. Châu Phi đang được theo dõi sát. Tất cả điều này khiến nghĩ
rằng virus mới này sẽ gây bệnh lên toàn bộ Bắc bán cầu với một sự lan
truyền cộng đồng. Vào cuối tháng 6 ? Cuối tháng 8 ? Cuối tháng 9 ? Chúng
ta không thể loại trừ rằng virus bắt đầu lan tràn vào một thời kỳ bất
thường.
Hỏi : Độc lực của virus có đáng quan ngại
không ?
Sylvie Van der Werf : Đến nay, tỷ lệ tử vong khoảng 1 đối với 1000 người
bệnh. Điều này vẫn gần với tỷ lệ tử vong của cúm mùa. Chỉ khác ở chỗ là,
thường thường chính những người già bị nhiễm bệnh và dân chúng phần lớn
được miễn dịch, hoặc tự nhiên, hoặc nhờ tiêm chủng. Do đó số những bệnh
nhân tiềm tàng có thể rất cao. Đến nay, chúng tôi đã không phát hiện thấy
những chỉ dấu độc lực. Chúng ta biết rằng virus cúm biến dị thường trực.
Và chúng ta không tránh khỏi một sự thay đổi làm gia tăng độc lực và khả
năng lan truyền của virus. Chúng tôi đang liệt kê tất cả các biến dị nguy
hiểm có thể có. Mặt khác, phòng thí nghiệm của chúng tôi đang xem xét
cấu trúc di truyền của mỗi virus của bệnh cúm này đối với mỗi trường hợp,
để theo dõi sát hơn tiến triển, như những phòng thí nghiệm khác trên thế
giới. Chúng tôi cũng sợ những phối hợp di truyền (réassortiments génétiques)
giữa virus này và những virus của cúm mùa, và nhất là với một H1N1 khác,
mà đa số đề kháng với Tamiflu.
Hỏi : Có phải chúng ta sẽ hướng về một sự
tiêm chủng đại trà cho dân chúng để chống lại virus mới này không ?
Sylvie Van der Werf : Chúng ta sẽ buộc phải tiêm chủng tất cả mọi người,
ở Bắc bán cầu cũng như ở Nam bán cầu, trong các nước giàu cũng như trong
các nước đang phát triển. Và ý kiến của tôi là phải thực hiện càng nhanh
càng tốt, nếu xét đến tình hình tiến triển hiện nay. Nhưng có những thời
hạn mà ta không làm giảm bớt được. OMS đã cho tất cả các phòng thí nghiệm
chuyên về vaccin, loại giống gốc virus cơ bản. Nếu mọi chuyện diễn biến
tốt đẹp, nếu năng suất tốt, nếu giống gốc này không tạo nên những mối
bất ngờ, chúng ta cũng sẽ phải cần 4 đến 6 tháng trước khi có vaccin sử
dụng. Mặt khác, đó là một vaccin mới, với một dân chúng còn trong trắng
về mặt miễn dịch, do dó chúng ta không ở trong các điều kiện cổ điển.
Sẽ phải thực hiện những thử nghiệm lâm sàng để kiểm tra tính hiệu quả
và sự vắng bóng của các phản ứng phụ. Có lẽ sẽ cần 2 liều, để chống lại
virus mới này. Những công tác chuẩn bị cho một vaccin chống đại dịch do
H5N1 gây nên, đã góp phần đáng kể cho việc chống đại dịch H1N1 sắp đến.
Hỏi : có phải sẽ vừa tiêm chủng chống virus
mới này và đồng thời chống virus cúm mùa hay không ?
Sylvie Van der Werf : Các kho dự trữ chống lại cúm mùa gần như đã được
tạo thành. Do đó các phòng bào chế bắt đầu chế tạo vaccin mới. Không có
một yếu tố nào cho phép nói rằng cúm mùa cũng như virus mới H1N1 này sẽ
ngừng lưu hành. Và như thế có tất cả các lý do để dự kiến một sự tiêm
chủng kép. Nhưng cần có những quyết định để đánh giá lại một cách thường
trực đối với tiến triển của tình hình. (LE FIGARO 4/6/2009)
3/ H1N1 : “ SỰ CHIA XẺ CÁC
THUỐC KHÁNG VIRUS SẼ LÀM GIẢM ĐẠI DỊCH ”
Những mô hình cho thấy những khuyết điểm của một lối quản lý “ ích kỷ
” các thuốc men của nhà nước. Một diễn tập giả (une simulation) về sự
lan tỏa của một bệnh cúm từ Á Châu. Cuộc diễn tập giả này giả sử rằng
một virus cúm bắt đầu lan tràn vào tháng 10 ở Hà Nội. Lúc đưa ra một giả
thuyết về một mức độ lây nhiễm trung bình (1,7 người lành mạnh bị nhiễm
bệnh bởi một bệnh nhân), các tác giả đưa vào mô hình của họ 3 kịch bản.
Hoặc là không có một điều trị nào cả được sử dụng, hoặc là mỗi quốc gia
giữ các thuốc kháng virus chỉ riêng cho dân của nước mình, hoặc là các
nước giàu có sẽ trao một phần của kho dự trữ cho những nước không có dự
trữ thuốc.
MẠN ĐÀM
Trận dịch do giống gốc virus mới A/H1N1 sẽ tiến triển như thế nào? Các
nhà nghiên cứu người Pháp, Ý và Hoa Kỳ đã phát triển một mô hình về sự
lan tràn của bệnh, đặc biệt căn cứ trên các vận chuyển hàng không, cấu
trúc của dân số thế giới, những đặc điểm sinh học của virus và những chiến
lược chống lại dịch bệnh được thực hiện bởi các giới hữu trách y tế.
Marc Barthélemy, nhà nghiên cứu của Commissariat à l’énergie atomique,
đã tham gia vào những công trình thiết lập các mô hinh này. Theo nhà vật
lý thống kê này, có hai bài học lớn cần được rút ra từ những diễn tập
giả này. Bài học thứ nhất là, chính sự vận chuyển hàng không chi phối
nhịp độ lan tràn của bệnh. Thứ hai là một sự quản lý hợp đồng và “ vị
tha ” các kho dự trữ thuốc kháng virus, có thể làm giảm một cách đáng
kể tác động của một trận đại dịch toàn cầu, như trận đại dịch mà hiện
nay giới cầm quyền y tế đang lo sợ.
Hỏi : Làm sao đánh giá sự thích đáng của
một mô hình diễn tập giả về sự lan tràn dịch trên quy mô thế giới ?
Marc Barthelemy : Trong trường hợp mô hình mà chúng tôi đã phát triển,
chúng tôi đã muốn đánh giá những tác động của sự vận chuyển hàng không
trên thế giới lên trên sự lan tràn của bệnh. Chúng tôi đã trắc nghiệm
mô hình này trong trường hợp SARS (hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng,
xuất hiện vào tháng 11 năm 2002 ở Trung Quốc và tổng cộng đã ảnh hưởng
lên 30 nước) và chúng tôi đã tìm thấy phương cách lan tỏa của bệnh, như
người ta đã có thể nhận xét vào thời kỳ đó. Dĩ nhiên có những điều không
chắc chắn về những điều kiện dịch bệnh đã xảy ra, vì lẽ giới cầm quyền
Trung Quốc đã chậm trễ trong việc khai báo những trường hợp đầu tiên.
Nhưng khi đưa ra những giả thuyết hợp lý và khi cho rằng trận dịch xuất
phát từ Hồng Kông, mô hình tạo lại với một mức độ sai lầm thấp, số các
trường hợp xảy ra trong mỗi nước.
Vậy thì sự vận chuyển hàng không có vẻ như là yếu tố quyết định của sự
lan tỏa một bệnh nhiễm trùng trên quy mô thế giới, kết luận này đặc biệt
được áp dụng đối với virus H1N1.
Hỏi : Vậy thì có nên hạn chế sự không lưu
để tránh đại dịch không ?
Marc Barthelemy : Không. Do tính chất phức tạp của hệ thống các interconnexion
của khoảng 3.000 plates-formes aéroportuaire trên thế giới, việc giới
hạn đơn thuần (trừ khi gần như đình chỉ) không có tác dụng. Nhờ mô hình
của chúng tôi, chúng tôi đã kiểm tra nhận thấy rằng những sự hạn chế này
hầu như không làm thay đổi gì hết sự phát tán của bệnh.
Sự gia tăng theo dõi các chuyến bay trực tiếp phát xuất từ những vùng
bị dịch có thể có ích. Mặt khác, hôm nay chúng ta có thể quan sát thấy
rằng hầu như tất cả các trường hợp “nhập cảng” từ Mễ tây cơ phát xuất
từ những chuyến bay trực tiếp.
Hỏi : Trong trường hợp này, cần tác động
đòn bẫy nào để làm chậm lại sự lan tràn của H1N1 hay để làm giảm những
hậu quả của nó ?
Marc Barthelemy : Chúng tôi đã thực hiện cuộc diễn tập giả bắt chước sự
lan tràn của một bệnh thuộc loại cúm, có thể được truyền giữa người với
nhau, và đã trắc nghiệm 2 chiến lược sử dụng các kho dự trữ thuốc kháng
virus có trên thế giới. Trong chiến lược đầu tiên, mỗi nước sử dụng kho
dự trữ thuốc của mình một cách ích kỷ, chỉ dành cho dân nước mình mà thôi.
Trong chiến lược thứ hai, những nước giàu có nhất gởi một phần nhỏ (khoảng
10% đến 20%) của kho dự trữ thuốc cho những nước đầu tiên bị tấn công
bởi dịch bệnh. Trong những diễn tập giả của chúng tôi, sự quản lý “ vị
tha ” hay “ hợp tác ” của những kho dự trữ thuốc kháng virus, làm giảm
tác động của đại dịch toàn cầu. So sánh với những kết quả mang lại bởi
một lối quản lý “ ích kỷ ” , số trường hợp bệnh trên thế giới có thể được
chia từ 10 đến 1000 tùy theo nước và mùa mà dịch bệnh khởi phát.
Ngoài ra, nhờ cách quản ý này, sự xuất hiện của đỉnh cao dịch bệnh (pic
épidémique) có thể được xê xích một năm về mặt thời gian. Sự gia hạn này
có thể tỏ ra mấu chốt bởi vì nó cho phép phát triển và sản xuất một vaccin
trong trường hợp của các virus cúm như H1N1. Việc tác động tận nguồn phải
càng nhanh càng tốt, bằng cách gởi đến các nước đầu tiên bị dịch bệnh
các thuốc kháng virus, dường như là một ưu tiên tuyệt đối.
Hỏi : Những tham số nào khác đóng một vai
trò trong sự phát triển của dịch bệnh ?
Marc Barthelemy : Cái điều mà chúng ta gọi là “những tình trạng ban đầu“
là rất quan trọng. Những tình trạng ban đầu này chỉ nơi sự biến dị virus
xảy ra, làm phát khởi đại dịch và thời kỳ trong năm xảy ra sự biến dị
này. Tùy theo ổ bệnh ban đầu nằm ở Bắc hay Nam bán cầu, tùy theo mùa,
sự lan tràn của dịch bệnh sẽ là rất khác nhau bởi vì các virus cúm vào
mùa đông truyền bệnh ít dễ hơn mùa hè. Đứng trên quan điểm này, tình hình
hiện nay khá thuận lợi ở Bắc bán cầu, đông dân nhất, là nơi mùa hè sẽ
bắt đầu.
Dịch bệnh cũng sẽ khác nhau tùy theo các tham số dịch tễ học của bệnh
(tính chất lây nhiễm của nó, thời kỳ ủ bệnh và thời gian mà người bị bệnh
có thể lây nhiễm). Đến nay, mặc dầu các virus cúm tương đối được biết
rõ, nhưng chúng ta không biết được những tham số này đối với H1N1.
Hỏi : Các kết quả của sự diễn tập giả đã
được thực hiện về sự lan tràn của các virus loại cúm này là gì ?
Marc Barthelemy : Chúng tôi đã đưa ra giả thuyết về sự xuất hiện, vào
tháng 10, ở Hà Nội, của một sự biến dị làm cho virus H5N1 có thể truyền
giữa người với nhau. Vì virus bị biến dị (nghĩa là có khả năng lây truyền
giữa người với nhau) chỉ là một giả thuyết, chúng tôi đã đặc biệt làm
làm biến thiên tính lây nhiễm (contagiosité) của nó (tính lây nhiễm được
định nghĩa là số trung bình những người bị nhiễm trùng bởi một người bị
lây nhiễm) giữa các trị số 1,1 và 2,3 điển hình của các virus cúm. Không
sử dụng các thuốc kháng virus, và với một mức độ lây nhiễm của virus trên
1,5, gần 50% dân chúng của thế giới sẽ bị tác động. Con số này sẽ rất
giảm trong tất cả các vùng của thế giới khi sử dụng các thuốc kháng virus
một cách hợp tác. (LE MONDE 2/5/2009)
4/
ĐÀN ÔNG CÓ NÚM VÚ CÓ LỢI LỘC GÌ ?
Không những chỉ có vú (tétons), hay các núm vú (mamelons), đàn ông, cũng
như các động vật có vú giống đực nói chung, còn có những tuyến vú hoàn
chỉnh, chỉ có khác là bị teo đi, như các tuyến vú của một thiếu nữ trước
tuổi dậy thì. Những tuyến vú này phát triển dưới tác dụng của các hormone
nữ, vả lại điều này có thể xảy ra nơi đàn ông, trong những trường hợp
hiếm hoi bị mất cân bằng hormone. Dầu sinh ra là nam hay nữ, mầm vú của
chúng ta được thiết đặt trong tuần thứ tư của thời kỳ phôi thai, ngay
trước quá trình biệt hóa sinh dục (différenciation sexuelle), xảy ra vào
tuần lễ thứ 7. Nhưng, nếu ta loại trừ trường hop một loài dơi mà con đực
cho con bú, thì các vú của các động vật có vú giống đực đã không bao giờ
được sử dụng làm gì cả. Thế thì tại sao chúng có vú ? Đơn giản thế này
thôi : quá trình chọn lọc tự nhiên làm cho, đối với mỗi loài, con đực
và con cái tiến hóa cùng nhau. Nếu một thuộc tính không tạo vấn để đối
với con đực hay con cái, thì thuộc tính này được duy trì trong bộ gène
(génome) của hai giống. Nếu vú mang lại một ưu điển cho các phụ nữ về
mặt sinh sản và do đó về mặt sinh tồn, thì những chiếc vú này cũng không
gây hại đối với đàn ông. Như thế chính bởi vì các phụ nữ có vú mà các
đàn ông cũng được phú cho những chiếc vú này. (SCIENCE
ET VIE 6/2009)
5/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 1: MỘT BƯỚC
NGOẶT VỚI KỸ THUẬT GHÉP NHỮNG TẾ BÀO GỐC?
G.S Jean-Jacques Robert, thầy thuốc chuyên khoa nhi-đái đường, G.S Lucienne
Chatenoud, chuyên gia miễn dịch học, giải thích niềm hy vọng mang lại
do những thử nghiệm đầu tiên của kỹ thuật tự ghép những tế bào của tủy
xương (autogreffe de cellules de la moelle osseuse).
Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những
đặc điểm của bệnh đái đường loại 1 ?
G.S Jean-Jacques Robert : Loại đái đường này là một bệnh lý tự miễn dịch:
các tế bào tiết insuline của tụy tạng bị tấn công và bị phá hủy bởi chính
những tế bào lympho của hệ miễn dịch của người bệnh (chưa bị bệnh), điều
này dẫn đến một nông độ glucose quá cao trong máu. Nếu không tiêm đều
đặn insuline, những hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng, có thể dẫn đến hôn
mê đái đường (coma diabétique). Insuline là một hormone cần thiết cho
cơ thể, nhất là để điều hòa nồng độ đường trong máu.
Hỏi : Đến nay, người ta điều trị bệnh đái
đường như thế nào ?
G.S Jean-Jacques Robert : Đó là một sự gò bó thật sự đối với các bệnh
nhân khi bị buộc phải tự tiêm insuline từ hai đến sáu lần mỗi ngày. Bố
mẹ đảm trách điều trị cho các con và sau đó các con tự quản lý lấy điều
trị của chúng.
Hỏi : Hiện nay, những kết quả thu được là
gì ?
G.S Jean-Jacques Robert : Ngày nay, người ta đã giảm được nhiều những
nguy cơ biến chứng đáng sợ nhất của bệnh đái đường, như giảm thị lực,
suy thận, bệnh thần kinh hay tim mạch Những công trình nghiên cứu mới
đây cho thấy rằng các biến chứng trở nên ít xảy ra hơn. Nhưng nhiều bệnh
nhân không chịu được những gò bó vì phải tiêm thuốc hàng ngày.
Hỏi : Mục đích của kỹ thuật ghép những tế
bào gốc của tủy xương là gì ?
G.S Lucienne Chatenoud : Các tế bào gốc “ hoàn toàn mới ” (chưa được biệt
hóa) : chúng chưa có những chức năng chuyên biệt. Tủy xương giàu các tế
bào gốc. Mục đích của kỹ thuật tự ghép (autogreffe) gồm hai phần : 1.Tái
tạo hệ miễn dịch bằng những tế bào mới không có khả năng hủy diệt của
những tế bào lympho đã tấn công những tế bào của tụy tạng. 2. Tái sinh
những tế bào nhằm chế tạo insuline.
Hỏi : Công trình nghiên cứu tự ghép mới đây
được thực hiện như thế nào ?
G.S Lucienne Chatenoud : Đó là một công trình nghiên cứu Brésil, được
giám sát bởi G.S Richard Burt, thuộc Northwestern University de Chicago,
đã đưa vào 23 bệnh nhân (trong đó 9 phụ nữ), những thiếu niên và những
người trưởng thành trẻ tuổi, tất cả đều bị bệnh đái đường loại 1. Trước
hết họ đã nhận một mũi tiêm gồm một phối hợp các thứ thuốc (trong đó có
một yếu tố tăng trưởng của những tế bào tủy xương), nhằm làm di chuyển
những tế bào gốc vào trong tuần hoàn máu. Sau khi đã được tiếp thu từ
máu, những tế bào này chịu một quá trình thanh lọc tế bào trong phòng
thí nghiệm rồi được tiêm trở lại vào các bệnh nhân. Nhưng trước khi nhận
tiêm truyền này, tất cả những người tham dự, trong 5 ngày, đã chịu một
điều trị làm suy giảm miễn dịch (traitement immunosuppresseur). Những
bệnh nhân này đã được theo dõi trong một thời gian từ 7 đến 58 tháng.
Hỏi : Những kết quả thu được là gì ?
G.S Jean-Jacques Robert : 23 bệnh nhân đã có thể không cần phải tiêm insuline
suốt trong 14 đến 52 tháng liền, tùy theo trường hợp. Một trong những
bệnh nhân này đã có thể không cần insuline hơn 4 năm ! 4 bệnh nhân khác
trong 3 năm và 3 bệnh nhân khác trong hai năm. 15 bệnh nhân mới được tuyển
mộ gần đây hơn (đã được hưởng những cải thiện kỹ thuật mang lại bởi các
nhà khoa học Hoa Kỳ) luôn luôn không cần đến insuline 19 tháng sau kỹ
thuật tự ghép.
Hỏi : Theo ý kiến của ông, kỹ thuật ghép
những tế bào gốc này có tạo nên một niềm hy vọng điều trị thật sự hay
không ?
G.S Jean-Jacques Robert : Thành công làm ngưng tiêm insuline lâu như vậy
là một kết quả khác thường. Công trình nghiên cứu này, ngay cả khi cần
được xác nhận bởi những thử nghiệm khác, vẫn là một niềm hy vọng thật
sự.
G.S Lucienne Chatenoud : Những người tham gia công trình nghiên cứu này,
bị một mức độ độc tính nào đó nơi các cơ quan sinh dục do việc họ được
điều trị bởi các thuốc làm suy giảm miễn dịch, có thể có vấn đề trong
việc sinh đẻ tương lai. Sẽ phải tìm cách thực hiện phẫu thuật tự ghép
mà không gặp phải những hậu quả tai hại này. (PARIS
MATCH 14/5-20/5/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr125.htm
(TSYH 125, bài số 7)
6/ TINH TRÙNG ĐÔNG LẠNH : CÁC VỤ
KIỆN TỤNG.
Đông lạnh tinh trùng của một người đàn ông nhằm thụ thai nhận tạo sau
khi qua đời, là một việc làm đang xảy ra trong nhiều nước, đặc biệt là
ở Hoa Kỳ , nơi tòa án của Bronx (Nữu Ước) đã cho phép một người đàn bà
thu nhận tinh trùng của người bạn đường đã mất. Đã là bố mẹ của một đứa
bé 2 tuổi, Gisela Marrero và người bạn đường Johnny Quintana mong ước
có một em bé thứ hai, nhưng người đàn ông đã chết lúc 33 tuổi, hình như
do một cơn đau tim. Phương tiện duy nhất để Gisela Marrero có con là thu
lấy tinh dịch của người bạn đường trong 36 giờ sau khi chết, vì trên thời
hạn này tinh trùng của một người đàn ông không còn có thể sử dụng được
nữa. Để được như vậy, Gisela phải có giấy phép của tòa án, vì lẽ trước
đó họ đã không cưới hỏi.
Vài ngày trước đó, cũng vẫn ở Hoa Kỳ, một vụ án tương tự gây nhiều xôn
xao. Missy Evans (42 tuổi), dân Texas, được giấy phép của quan tòa để
lấy một ít tinh dịch của đứa con bà chết vào năm 21 tuổi, do một chấn
thương sọ não, xảy ra sau một cuộc ẩu đả.
Tòa án đã thỏa mãn đơn thỉnh cầu bằng cách ra lệnh các thầy thuốc bảo
quản thi hài của Nikolas ở nhiệt độ ít nhất 39, 2 độ C, nhiệt độ mà các
tinh trùng còn có thể sống được. Sau đó một thầy thuốc chuyên khoa tiết
niệu đã thu lấy tinh dịch được chứa trong các tinh hoàn : đại đa số các
tinh trùng còn sống được và do đó có thể được dùng về sau này. Missy Evans
như thế hy vọng thực hiện những ước nguyện của con bà, đó là có 3 con
trai mà con bà đã chọn tên họ lúc còn sống. Vấn đề còn lại là cần đến
một người cho noãn nặc danh và một bà mẹ mang thai (mère porteuse), điều
này có thể thực hiện và hợp pháp ở Hoa Kỳ, nhưng cũng vẫn tiếp tục đặt
nhiều vấn đề về mặt đạo đức.
Mặt khác, vẫn luôn luôn ở Hoa Kỳ, một người Mỹ 38 tuổi, Christopher Biblis,
đã trở nên bố của một bé gái Stella, sinh bằng thụ tinh nhân tạo với tinh
dịch được bảo quản nhờ đông lạnh từ 22 năm qua. Bị bệnh ung thư máu lúc
còn thiếu niên, vào năm 1986, Christopher Biblis đã quyết định bảo tồn
tinh dịch của mình. 35% các tinh trùng đã sống sót sau những năm tháng
đông lạnh. Trong số các tinh trùng sống sót này, các thầy thuốc đã chọn
những tinh trùng con vẹn toàn chức năng nhất. (LE JOURNAL
DU MEDECIN 15/5/2009)
7/ MỘT HƯỚNG MỚI ĐỂ LÀM NGỪNG
NGỨA NGÁY ?
Bằng cách bắt chước các con khỉ đả ngứa lúc gãi như thế nào, các loại
thuốc mới sẽ tác dụng lên các neurone gây ngứa (neurones démangeurs).
Gãi, đối với loài người đó là một động tác thường ngày. Người ta gãi mũi
hay tai để thể hiện một biểu lộ, người ta gãi chân sau khi cỡi giày, người
ta xua đuổi các con kiến tưởng tượng đang chạy dọc theo cẳng chân.
Nhưng vài bệnh nhân chịu đựng những ngứa ngáy nghiêm trọng, gây nên hoặc
bởi chính căn bệnh, hoặc do thuốc men dùng để chống lại những căn bệnh
này, đến độ họ gãi đến rách da.
Đó là trường hợp của bệnh sida hay của bệnh Hodgkin, cũng như trường hợp
của vài điều trị những đau đớn mãn tính, Vài bệnh nhân đi đến chỗ ngừng
cả điều trị, chỉ để làm giảm sự ngứa ngáy. Hiểu được “ tiếng gọi kêu gãi
” hoạt động như thế nào, là chủ yếu để phát triển những thuốc mới nhằm
làm dịu bớt những ngứa ngáy mãn tính này.
Glenn Giesler Jr, nhà khoa học thần kinh của đại học Minnesota, xuất bản
các kết quả của ông trong tờ báo Nature Neuroscience, đã quan sát nhận
thấy rằng khi các con khỉ gãi, thì các dây thần kinh tủy sống của chúng,
phát xuất từ phía sau của lồng ngực, gởi một tín hiệu làm giảm ngứa (signal
de soulagement) đến não bộ của chúng. Glenn Giesler và nhóm nghiên cứu
của ông đã cho các con khỉ macaque đuôi dài thuốc an thần trong thời gian
thí nghiệm, và đã đặt các điện cực ghi nơi các dây thần kinh tủy sống
của chúng. Sau đó các nhà nghiên cứu đã tiêm một chất hóa học vào dưới
da nơi một cẳng chân dưới để kích thích nhằm gây ngứa. Các dây thần kinh
đáp ứng lại bằng cách phóng ra những tín hiệu điện đến các neurone của
bó gai-thị (faisceau spinothalamique). Trong thời kỳ hai, các nhà nghiên
cứu đã gãi cẳng chân của khỉ bằng một máy kim loại cầm tay, giả ba ngón
tay.
“ NHƯ THỂ MỘT NÃO BỘ NHỎ TRONG TỦY SỐNG ”
Khi đó mức độ đáp ứng điện bị giảm, thể hiện rõ ràng dấu hiệu thuyên giảm.
Ngược lại, khi các nhà nghiên cứu gãi cẳng chân, nhưng trước đó không
gây ngứa, thì mức độ đáp ứng điện gia tăng, chứng tỏ rằng không có, hoặc
có ít sự thuyên giảm.
Kết luận : các dây thần kinh chắc chắn biết phản ứng rất khác nhau tùy
theo có một triệu chứng ngứa cần làm thuyên giảm hay không có triệu chứng
ngứa.
“ Như thể là có một não bộ nhỏ trong tủy sống, Glenn Giesler đã bình luận
như vậy. Chúng tôi thật sự muốn hiểu điều đó, bởi vì chúng tôi nghĩ rằng,
sau đó, chúng tôi sẽ hiểu làm giảm ngứa như thế nào.” Các nhà khoa học
có lẽ có thể nhận diện những tín hiệu nói với các dây thần kinh cung cấp
đáp ứng làm giảm ngứa. Do đó họ có thể bắt chước tác dụng này nhờ các
thứ thuốc hay một loại kích thích tác động trực tiếp lên bó gaí thị. (LE
SOIR 10/4/2009)
(LE FIGARO 22/4/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr67.htm
(TSYH 67, bài số 5)
8/ NHIỄM TRÙNG ÂM ĐẠO CÓ
THỂ LÀ DO NỒNG ĐỘ VITAMIN D THẤP.
Bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis) là nhiễm trùng âm đạo
thông thường nhất nơi phụ nữa trong lứa tuổi có con, và một công trình
nghiên cứu mới đây nhận thấy rằng nhiễm trùng này được liên kết với sự
thiếu hụt vitamin D. Rối loạn này có thể được điều trị bằng thuốc kháng
sinh, nhưng có thể dẫn đến sinh non và là một nguyên nhân quan trọng của
tỷ lệ tử vong nhũ nhi. Công trình phân tích, được công bố trong số tháng
sáu của Journal of Nutrition, đã xem xét 209 phụ nữ có thai da trắng và
260 phụ nữ có thai da đen ở Pittsburgh clinic và đã nhận thấy rằng hơn
một nửa có nồng độ vitamin D dưới 37 nanomoles/lít. Một trị số 80 thường
thường được cho là thích đáng. Sau khi đã điều chỉnh những yếu tố khác,
một nồng độ 50 hoặc ít hơn được liên kết với một sự gia tăng 26% khả năng
bị viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis), và một trị số dưới 20
được liên kết với một nguy cơ gia tăng 65%. Khoảng 52% các phụ nữ da đen
bị viêm âm đạo do vi khuẩn, so với 27% phụ nữ da trắng và các phụ nữ da
đen hầu như 3 lần có khả năng bị thiếu hụt vitamin D hơn, có lẽ bởi vì
da đen ngăn cản sự tổng hợp đầy đủ các vitamin D. Công trình nghiên cứu
khuyến nghị các phụ nữ bàn với thầy thuốc về việc bổ sung vitamin D. (HERALD
INTERNATIONAL TRIBUNE 28/5/2009)
9/ NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIỂU CÓ THẾ
LÀM CÁC NHŨ NHI KHÓC THÉT LÊN.
Sự xuất hiện triệu chứng khóc quá mức nơi một nhũ nhi không bị sốt, phải
làm nghi ngờ sự hiện diện của một nhiễm trùng đường tiểu. Đó là điều được
xác nhận bởi một phần tích của gần 250 hồ sơ trẻ em dưới một tuổi, được
nhập viện vì khóc không cưỡng được. Trong 5% các trường hợp, các cơn khóc
là do một thương tổn thực thể nặng, chẩn đoán thường được đặt ra là chẩn
đoán nhiễm trùng đường tiểu. (SCIENCES ET AVENIR 6/2009)
10/ PHỤ NỮ SỐNG LÂU HƠN NHƯNG THẾ
LỰC ÍT TỐT HƠN.
Chứng béo phì và viêm khớp, mắc phải theo dòng thời gian, góp phần một
cách đáng kể vào việc làm giảm chất lượng sống của những phụ nữ trong
suốt tuổi già. Đó là điều được giải thích bởi các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ.
Căn cứ trên công trình nghiên cứu Cardiovascular Health Study (thăm dò
những yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch và tai biến mạch máu não nơi những
người 65 tuổi hoặc hơn), các nhà nghiên cứu của Đaị Học Duke (Hoa Kỳ)
đã thực hiện một công trình nghiên cứu bao gồm 5.888 người già trên 65
tuổi. Những người này đã được hỏi về khả năng thực hiện những công việc
hàng ngày như tắm, ăn, mặc quần áo, quản lý tiền bạc và về những cử động
cao hoặc thấp của cơ thể (với được, cầm, bước và lên cầu thang).
Heather và các đồng nghiệp của ông đã nhận thấy rằng các phụ nữ chịu những
tình trạng tàn phế 2 lần rưởi thường hơn so với những người đàn ông cùng
lứa tuổi và rằng những tỷ lệ béo phì và viêm khớp cao hơn nơi những phụ
nữ này giải thích gần một nửa những sự dị biệt giới tính này. “Nếu các
phụ nữ có khuynh hướng sống lâu hơn các người đàn ông, công trình nghiên
cứu này cho thấy rằng họ có một nguy cơ cao hơn sống với những tật nguyền
và sự mất năng lực quá mức này là do họ có tỷ lệ mắc phải chứng béo phì
và viêm khớp cao hơn, BS Heather Whitson, tác giả chính của công trình
nghiên cứu, được trình bày ở hội nghị hàng năm của Hiệp hội lão khoa Hoa
Kỳ (29/4-5/5, Chicago), đã xác nhận như vậy. Đó là quan trọng vì điều
này gợi ý rằng khuynh hướng của các phụ nữ lên cân trong thời kỳ thai
nghén hay trong thời kỳ mãn kinh được thể hiện bởi một sự mất độc lập
ở một lứa tuổi cao hơn ”
“ Sự khác nhau này trong mức độ tật nguyền chưa được hiểu rõ lắm nhưng
chúng tôi đã nhận thấy rằng, các bệnh mãn tính mà các phụ nữ gặp phải
có số lượng lớn hơn đàn ông, có thể giải thích một phần điều đó ”, Harvey
Jay Cohen, một trong những tác giả của công trình nghiên cứu đã nói thêm
vào như vậy. “ Các phụ nữ có một khuynh hướng tự nhiên lên cân nhiều hơn
đàn ông trong suốt cuộc đời, nhưng họ có thể có động cơ hơn để duy trì
một thể trọng sức khỏe nếu như họ hiểu rằng những kilo thêm bổ sung này
sẽ làm họ dễ bị các tật nguyền lúc về già và như thế trở nên một gánh
nặng đối với các con họ hoặc họ phải được đưa vào nhà dưỡng lão ”, BS
Whiston đã nói tiếp như vậy.
PHÒNG NGỪA LÀ THEN CHỐT
Ngoài chứng béo phì và viêm khớp, công trình nghiên cứu cũng đã nhận thấy
rằng các phụ nữ thường bị hơn đàn ông gãy xương, rối loạn thị giác và
viêm phế quản, trong khi đàn ông thường là nạn nhân của khí phế thủng
(emphysème), các bệnh tim mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não,
đái đường và rối loạn thính giác.
Các tác giả đặc biệt chú ý đến hai vấn đề : chứng béo phì và sức khỏe
tim mạch. Vì chứng béo phì không ngừng gia tăng, người ta dự kiến một
sự gia tăng của số các tật nguyền nơi các người già. Thế mà, các phụ nữ
thường bị thặng dư thể trọng, do đó họ cũng sẽ bị liên hệ bởi những vấn
đề này trên chất lượng của cuộc sống. Sau đó vì các phụ nữ trở nên bình
đẳng với đàn ông trên bình diện tim mạch, nên các tai biến mạch máu não
và khí phế thủng, các tỷ lệ bi bệnh tim mạch, ở họ, không được cải thiện
nhanh như các đồng loại nam giới. Cũng đừng quên rằng họ không còn được
tha miễn nữa bởi các bệnh lý liên quan với thuốc lá.
“ Nếu như tần số của những bệnh lý này trở nên giống nhau giữa đàn ông
và phụ nữ, điều đó có thể được thể hiện bởi một cái hố ngày càng lớn giữa
các tỷ lệ tật nguyền giữa hai giới tính. Do đó chúng ta phải giúp đỡ các
phụ nữ có những quyết định tốt hơn, sớm hơn trong cuộc đời của họ ”, Harvey
Jay Cohen đã nghĩ như thế.
Đối với các nhà nghiên cứu, hiện nay vấn đề là xác định xem các lão phụ
bị yếu đi do chứng béo phì và viêm khớp có phục hồi về mặt chức năng được
không, họ có thể theo một điều trị nhằm giúp đỡ họ đạt được một trọng
lượng lành mạnh hay kiểm soát chứng đau do viêm khớp. “Nếu không, thì
phải gia tăng nỗ lực để ngăn ngừa chứng béo phì và chứng viêm khớp nơi
các phụ nữ trẻ tuổi”, các nhà nghiên cứu đã kết luận như vậy. (LE
JOURNAL DU MEDECIN 19/5/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (7/6/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |