 |
Thời
Sự Y Học số 127
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CÚM A (H1N1) BÙNG NỔ
Ở NHẬT BẢN VỚI 80 TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC XÁC NHẬN
EPIDEMIE. Sự phát triển của virus ở Nhật Bản có thể khiến OMS gia tăng
mức báo động. Virus H1N1 tiếp tục tiến triển trên thế giới. Mới còn vô
sự vào đầu tháng năm, hôm chủ nhật, Nhật Bản đã ghi nhận 80 trường hợp
cúm heo được xác nhận, gây bệnh cho đại đa số những học sinh và thầy giáo,
trong vùng Osaka và Kobe. Những trường hợp đầu tiên, được khám phá cách
nay 10 ngày, liên hệ đến một giáo sư và 3 học sinh người Nhật, đã mắc
bệnh lúc đi du học ở Canada. 4 người bệnh đã được chữa lành. Từ đó, bệnh
cúm này ở Nhật Bản, hiện nay, dường như được lan truyền phần lớn trong
giới học đường.
Tuy nhiên, Shigeru Omi, trước đây là người hữu trách cao cấp của OMS,
từ nay đứng đầu ủy ban chính phủ chống bệnh cúm ở Nhật Bản, đã cảnh cáo:
“Chúng tôi ước tính rằng nhiễm trùng bắt đầu lan tràn trong khắp nước”,
ông đã tuyên bố như vậy. Một người hữu trách của Osaka tuyên bố rằng hiện
nay, chính quyền đã không thể xác lập một cách rõ ràng sự hiện hữu của
những mồi tiếp xúc giữa các học sinh của Osaka và Kobe, và đã xác nhận
rằng những học sinh của Kobe mới đây đã không đi du lịch ra nước ngoài.
1000 TRƯỜNG HỢP MỚI TRONG 24 GIỜ.
Ở Osaka, thêm 100 học sinh đã phát triển các triệu chứng đáng nghi và
đã được làm xét nghiệm. 7 người dân của tỉnh Hyogo cũng có thể bị bệnh
cúm. OMS đã tuyên bố theo dõi “rất sát ” diễn biến tình hình ở Nhật Bản
cũng như ở châu Âu đối với cúm heo. Việc xuất hiện một ổ tự trị truyền
bệnh cho người trong một vùng khác với lục địa châu Mỹ, nơi đã phát xuất
virus mới H1N1, có thể biện minh cho sự phát động giai đoạn báo động tối
đa của OMS ; giai đoạn 6 là dấu hiệu của trận đại dịch cúm toàn cầu của
thế kỷ XX.
Trong khi 1000 trường hợp mới đã được thống kê trong 24 giờ và gần 8.500
người bệnh đã được nhận diện, và trong khi bệnh vừa xuất hiện ở Án Độ
và Thổ Nhĩ Kỳ, những người hữu trách cao cấp và các chuyên viên quy tụ
về Genève để xem xét những phương tiện nhằm chận đứng trận dịch. (LE
FIGARO 18/5/2009)
2/ BÓNG MA CỦA MỘT SỰ BIẾN DỊ VIRUS
“Chúng tôi đã có tất cả các lý do để lo ngại những tác dụng hỗ tương của
virus mới với những virus khác, trong đó có virus cúm gà, hiện nay đã
được xác lập chắc chắn nơi các gia cầm trong nhiều nước”. Lời tuyên bố
của BS Margaret Chan, nữ tổng giám đốc của OMS, ngoài lề đại hội đồng
đang diễn ra ở Genève, đã làm các con tim nhảy xổ lên trong lồng ngực.
Nếu theo dõi sát, chúng ta thấy bà tổng giám đốc đã không nói gì khác
từ hai tuần nay : “ Có lẽ virus đã ban cho chúng ta một thời gian hưu
chiến, nhưng chúng ta không biết được thời gian tạm nghỉ này sẽ kéo dài
bao lâu ”, bà đã nói dằn từng tiếng như vậy, không muốn rằng việc khám
phá mức độ tương đối ít nghiêm trọng của virus so với những e ngại đầu
tiên sẽ biến thành sự lơi lỏng cảnh giác y tế và sự tháo bỏ những biện
pháp theo dõi và sự định mức nhằm làm giảm mối nguy cơ.
Bởi vì cái nguy cơ mà bà nói đến, hoặc là khả năng của một sự trao đổi
gène của virus mới A (H1N1) với virus của cúm gà, đã được biết rõ bởi
các chuyên gia virus. Trên nguyên tắc, đó là chuyện thường tình : đó là
một sự sắp xếp lại di truyền (réarrangement génétique) giữa một virus
cúm gà và một virus người. Trong quá trình tái phối hợp này, một virus
người sẽ có được một số những khúc đoạn gène nào đó của một virus cúm
gà trong lòng một tế bào bị nhiễm bởi cả hai virus.
“ Nhưng tuyệt đối không có gì có thể cho rằng sự tái phối hợp mà bà lo
ngại lại không có thể xảy ra hơn một sự tái phối hợp khác, thí dụ giữa
H1N1 mới và một giống gốc H3N1, thường xảy ra hơn. Cái điều mà BS Chan
đã muốn nói, đó là, một sự tương tác như thế có thể làm phát sinh một
virus có khả năng lây nhiễm cao đối với người như H1N1 có nguồn gốc từ
heo, và cùng độc lực như H5N1 của cúm gà. Khi đó ta sẽ có một virus vừa
lan truyền dễ dàng và lại vừa có khả năng giết người nhiều hơn.. Thật
vậy, đó là một khả năng... trong số nhiều khả năng khác ”, G.S Yves Van
Laethem, chuyên gia các bệnh nhiễm trùng ở bệnh viện Saint-Pierre, Bruxelles,
đã giải thích như vậy.
B.S Chan có quyền quyết định mức độ báo động đại dịch tối đa sau khi đã
tham vấn một ủy ban các chuyên viên. “ Tất cả chúng tôi đều dưới áp lực
để thực hiện những biện pháp khẩn cấp và có tầm quan trọng trong một bầu
không khí được mang dấu ấn bởi một điều rất khó dự kiến về mặt khoa học
”, bà đã công nhận như thế. Nhiều quốc gia đã năn nỉ, trong hành lang,
để đừng nâng cao mức báo động, vì lo sợ những hậu quả nặng nề đối với
kinh tế và du lịch. (LE SOIR 19/5/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1VuVDzi_CumHeoGapCumGa_DaiHoa.htm
3/ CÚM A (H1N1) : CÁC CHUYÊN GIA
VIRUS VẪN TỎ RA BI QUAN.
EPIDEMIE. Họp ở Helsinki, các chuyên gia không loại bỏ những kịch bản
rất đáng quan ngại. “Mối đe dọa của virus H1N1 là nghiêm trọng. Virus
sẽ có 3 phương thức. Hoặc là nó có thể biến mất một cách ngẫu nhiên, nhưng
tôi không tin chắc rằng điều đó sẽ xảy ra. Cũng có thể nó sẽ gây nên một
đại dịch “nhẹ” như cúm Á Châu năm 1957-1958”, Albert Osterhaus, chuyên
gia virus của đại học Rotterdam đã đánh giá như vậy. Cúm Á Châu năm 1957-1958
đã giết chết từ 1 đến 4 triệu người. Để dễ so sánh, cúm mùa (grippe saisonnière)
giết chết từ 250.000 đến 500.000 người mỗi năm. Albert Osterhaus đã phát
biểu như thế tại Hội nghị châu Âu về vi trùng học lâm sàng và các bệnh
truyền nhiễm, đã diễn ra hôm chủ nhật ở Helsinki. Chính ông là người đầu
tiên đã cho thấy rằng virus cúm gia cầm có thể được truyền cho người.
“ Trong một kịch bản đại họa thứ ba, G.S Osterhaus đã nói tiếp như vậy,
chúng ta sẽ có một trận đại dịch nghiêm trọng, tương tự với cúm Tây Ban
Nha, có thể phát xuất từ sự biến dị của virus.” Sự phân tích này giống
với sự phân tích của nhiều chuyên gia : thật vậy, những biến dị đúng lúc
có thể làm gia tăng độc lực của virus, sự tăng sinh của nó trong tế bào,
thậm chí sự thích ứng của nó đối với ký chủ người, hoặc gây nên những
phối hợp của toàn thể các yếu tố di truyền (recombinaison d’éléments génétiques
entiers), có thể làm cho sự lan truyền được dễ dàng hơn. và những triệu
chứng nặng hơn.
Đối với G.S Javier Garau, thuộc đại học Barcelone, cũng là thuyết trình
viên ở Helsinki, tốc độ lan truyền của virus H1N1 hơi lớn hơn tốc độ lan
truyền của một virus cúm thông thường : mỗi cá nhân bị lây nhiễm truyền
bệnh cho từ 1,4 đến 1,6 người.
Những ước tính của các nhà dịch tễ học của OMS, được công bố hôm thứ hai
11/5 trong Science, tính được số người Mễ bị nhiễm bởi H1N1 từ cuối tháng
tư là 23.000, với một tỷ lệ tử vong trung bình 0,4%. Hãy ghi nhớ rằng
virus đại dịch 1918-1920 đã gây 20 triệu người chết, “ chỉ đã giết chết
” 1-2% những người bị nhiễm bệnh.
Ổ BỆNH ĐỘC LẬP MỚI Ở NHẬT BẢN.
Yếu tố mới đang quan ngại khác: virus chủ yếu tấn công những người trưởng
thành trẻ tuổi và mạnh khỏe. Điều này gợi ý rằng những lão niên có một
dạng miễn dịch (ngay cả bị giảm bớt), do những tiếp xúc trước đây với
những virus tương tự. Giới trẻ không có được hình thức miễn dịch này.
Thí dụ: trong làng Mễ La Gloria trong vùng Vera Cruz, tỷ lệ tấn công của
virus hai lần quan trọng hơn nơi những trẻ em dưới 15 tuổi, so với những
người trưởng thành.
Các chuyên gia virus họp ở Helsinki cũng đã nhất trí kết luận rằng mặc
dầu một vaccin chỉ chống H1N1 có thể được sản xuất, nhưng tính hiệu quả
của nó có thể bị xét lại, trong trường hợp có biến đổi di truyền quan
trọng từ nay đến tháng 11 đến. Kết luận của BS Osterhaus: “Chúng ta phải
cải thiện khả năng sản xuất vaccin chống cúm của chúng ta.Theo ước tính
thì những liều có sẵn sử dụng hiện nay là 1 tỷ. Nhưng với một dân số thế
giới 6,7 tỷ người, điều đó rõ ràng là không đủ ”.
Hôm chủ nhật, lần đầu tiên, Nhật bản đã khai báo 80 trường hợp được xác
nhận và virus cũng hiện diện ở Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ. Ổ dịch tự trị mới
này, được báo cáo bởi chính phủ Nhật đã làm gia tăng căng thẳng week-end
này ở Genève. Thật vậy, nếu đúng đó là một ổ được chứng tỏ có khả năng
lan truyền (không có liên quan với các du khách) trong một vùng khác với
lục địa châu Mỹ, thì tình hình Nhật Bản, theo những tiêu chuẩn của OMS,
sẽ khiến phải nâng mức báo động lên tối đa (giai đoạn 6), tức là mức báo
động loan báo sự xuất hiện của trận đại dịch cúm đầu tiên của thế kỷ XX.
Tuy vậy, hôm qua trước đại hội hàng năm của 193 nước thành viên của OMS,
bà giám đốc Chan đã quyết định vẫn giữ mức báo động hiện nay (giai đoạn
5). (LE FIGARO 19/5/2009)
4/ CÚM : NĂM 2009 KHÔNG PHẢI LÀ
NĂM 1918
Tuy nhiên, nhà sử học y khoa Patrick Zylberman, chuyên gia về cúm Tây
Ban Nha, cho rằng giới hữu trách y tế đã không “ phản ứng thái quá ” đứng
trước virus mới A (H1N1).
Là nhà sử học y khoa và y tế công cộng, thuộc Trung tâm nghiên cứu y học,
khoa học, sức khỏe và xã hội, Patrick Zylberman đã nghiên cứu những đại
dịch lớn, và nhất là phương cách nước Pháp đã phản ứng đối với dịch cúm
Tây Ban Nha, căn bệnh đã gây hơn 50 triệu người chết trên thế giới vào
năm 1918 và 1919. Ông bình luận phương cách mà giới hữu trách y tế đã
nắm hiểu được những thời kỳ khủng hoảng y tế và cảnh giác những cạm bẫy
trong việc so sánh giữa các thời kỳ khác nhau.
Hỏi : Ông nhìn như thế nào về đợt dịch bệnh
cúm A (H1N1) hiện nay ?
Patrick Zylberman : Điều lạ lùng nhất là ở Mễ Tây Cơ, những trường hợp
tử vong xảy ra nơi các người trưởng thành trẻ tuổi. Điều này làm nghĩ
ngay đến trận đại dịch năm 1918, đã tấn công vào lứa tuổi từ 16 đến 40
tuổi, hơn là nhằm vào những người già hay các trẻ em rất nhỏ tuổi.
Hỏi : Thế thì không có một sự khác nhau giữa
hai thời đại khi so sánh hai đợt dịch bệnh này ?
Patrick Zylberman : Nhất thiết là như vậy. Trận đại dịch 1918 đã trở thành
một hình thái tu từ (figure de rhétorique). Từ khi xảy ra SARS (syndrome
respiratoire aigu sévère), vào năm 2003, tất cả các thầy thuốc, các chuyên
gia dịch tễ học và những người phụ trách y tế công cộng, trình bày sự
trở lại của cúm Tây Ban Nha như là một lễ thiêu sinh (holocauste) sắp
đến. Người ta hiểu rõ tại sao cần phải đánh mạnh vào các trí tưởng tượng,
để những người hữu trách chính trị, các công dân phải chịu bỏ tiền ra
để tập thể có thể ở trong tư thế sẵn sàng đương đầu.
Nhưng mà thế giới năm 1918 và thế giới hôm nay không thể so sánh với nhau
chút nào cả. Virus và khả năng sinh bệnh của nó không phải là tham số
duy nhất của một trận dịch hay của một đại dịch, dầu đó là tỷ lệ bệnh
tật hay tỷ lệ tử vong. Ngày nay, chúng ta có những kiến thức khoa học
về virus, trái với năm 1918 (H1N1 chỉ được phân lập nơi người vào năm
1933). Chúng ta có những thuốc kháng virus và các vaccin. Các kháng sinh
cho phép điều trị những bội nhiễm. Đó là chưa nói về sự theo dõi dịch
tễ học, được thiết lập từ năm 1955, và những kế hoạch ứng đối dịch bệnh
được dự kiến, mặc dầu tất cả không được hoàn hảo.
Hỏi : Chúng ta đã học được gì về năm 1918
?
Patrick Zylberman : Các anh hãy nhìn phản ứng rất đặc sắc của chính quyền
Hồng Kông vào năm 1997, khi phải đối phó với cúm gà. Sau vài trường hợp
tử vong nơi người, họ đã hạ sát toàn bộ các gia cầm, điều này lúc đó là
một quyết định rất tốt. Vào lúc đầu, phản ứng đối với SARS diễn biến khá
tồi, nhưng sau đó các chánh phủ, ở châu Á và Canada, đã biết cầm cương
trở lại và đã xoay xở khá giỏi. Có được một thành tựu, đó là điều không
thể tranh cãi được. Nhưng có phải như thế là đủ chưa ? Công trình nghiên
cứu mới nhất về việc chuẩn bị chống đại dịch, được thực hiện vào năm 2006
bởi London School of Hygiene and Tropical Medicine, đã kết luận rằng nếu
vài nước như Pháp hoặc Anh tương đối đã chuẩn bị tốt, nhưng ở Châu Âu
không phải tất cả đều như vậy.
Hỏi : Có phải vào năm 1918, người ta đã có
ý thức ngay phải đương đầu với một đại dịch ?
Patrick Zylberman : Các nhà chức trách đã hoàn toàn bị bất ngờ. Chúng
ta đừng quên rằng chiến tranh lúc đó chưa chấm dứt. Các nước ở xa vùng
chiến trận, như Hoa Kỳ, cũng không biết là họ đang gặp phải cái gì nữa.
Cái điều đã góp phần vào tỷ lệ tử vong rất cao (4% ở châu Âu, cho đến
22% ở Đông Samoa), là tình trạng rất hỗn loạn của các công quyền và những
phương tiện hành động ít ỏi của họ (đóng cửa các nơi công cộng).
Hỏi : Thí dụ trường hợp năm 1976, há không
phải là sự minh họa cho thấy rằng một phản ứng quá mức của các nhà cầm
quyền có thể gây nên nhiều thiệt hại hơn là chính bản thân trận dịch hay
sao ?
Patrick Zylberman : Thật ra, trận dịch năm 1976 ở Hoa Kỳ là trận dịch
“đã chưa bao giờ xảy ra”. Lúc đó có vài trường hợp trong một đồn lũy ở
New Jersey. Ngay tức khắc chúng tạo nên một sự hoảng sợ, chính là bởi
vì những hồi ức về năm 1918 vẫn đang còn dai dẳng. Đó là một giống gốc
H1N1, đã không lưu hành ở Hoa Kỳ từ năm 1920 và chính điều này đã khiến
tổng thống Gerald Ford ra lệnh cho tiêm chủng toàn dân Mỹ. Chiến dịch
tiêm chủng bị dừng lại sau hai tháng bởi vì những tai biến do tiêm chủng
đã xảy ra, và cũng bởi vì virus đã biến mất một cách ngẫu nhiên. Vào lúc
đó quyết định tiêm chủng được thực hiện vì những lý do cảm xúc nhiều hơn
là vì những lý do khoa học.
Hỏi : Phản ứng hiện nay của giới hữu trách
y tế phải chăng còn nặng về cảm xúc ?
Patrick Zylberman : Hôm nay, một số người trách Tổ chức Y Tế Thế Giới
là đã phản ứng quá mức. Điều đó không đúng : tất cả các chính phủ, khi
thiết đặt những kế hoạch đối ứng, đều đã dựa trên kế hoạch của OMS. OMS
chỉ nâng cao mức báo động lên để có một ảnh hưởng hơi lớn hơn trên các
chính phủ liên hệ : tăng cường các ban chỉ đạo vùng, gọi các đội công
tác đến hiện trường...Từ năm 2003, tất cả các cuộc thảo luận về sự chuẩn
bị chống các dịch bệnh, khủng bố sinh học (bioterrorisme)... đều đặt vấn
đề nóng bỏng về cách ứng phó tập thể cần phải tuân theo : OMS phải chăng
phải là một bộ tham mưu cho những hoạt động này ? Châu Âu cũng khá ủng
hộ điều đó, Bắc Mỹ thì hơi ít hơn, còn châu Á lại còn ít hơn nhiều.
Hỏi : Ảnh hưởng nào có thể có của trận tiền
đại dịch (prépandémie) này lên các nước nghèo đang bắt đầu bị lây bệnh
?
Patrick Zylberman : Đó là mối ưu tư lớn. Một làn sóng dịch bệnh trở nặng
thứ hai ở Bắc bán cầu vào mùa thu đến, sẽ gây thiệt hại nhiều hơn trong
những nước không có một hệ thống y tế thích đáng hay không có những thuốc
kháng virus, so với những nước giàu có được trang bị tốt để đối phó với
nhiễm trùng. Có những phương cách để làm chậm lại sự lan tràn của bệnh,
bằng cách chia xẻ một phần (từ 10% đến 20% theo lời các chuyên gia) các
dự trữ thuốc kháng virus, với những nước có lợi tức thấp. Về mặt chính
trị, điều đó có vẻ tế nhị : về việc đó, công luận có thể không muốn “
chia xẻ ” lắm.
Hỏi : Nỗi lo lắng chung đối với việc quản
lý các nguy cơ có phải là dấu hiệu của một sự tiến hóa của xã hội của
chúng ta ?
Patrick Zylberman : Hoàn toàn đúng như vậy. Bước chuyển từ những vấn đề
của lãnh vực kỹ thuật sang lãnh vực chung là một sự tiến hoá đáng chú
ý, là một trong những lý do giải thích vì sao thế giới hiện nay hoàn toàn
khác với thế giới của năm 1918. Bước ngoặt diễn ra trong những năm 1980
với những mối lo âu gia tăng đứng trước các bệnh mới phát khởi (maladies
émergentes), nhất là trận dịch VIH/SIDA, cũng như với những cuộc khủng
hoảng an ninh dinh dưỡng vào cuối thế kỷ XX.
Hỏi : Đâu là vai trò của giới truyền thông
trong sự tiến hóa của những nhận thức này ?
Patrick Zylberman: Giới truyền thông đóng một vai trò chủ yếu và các chính
phủ đều biết điều đó. Trong thời kỳ khủng hoảng, thông tin là một thực
phẩm để giới hạn hậu quả của một trận dịch, cũng quan trọng như các thuốc
kháng virus, nhưng là một thực phẩm của những vấn đề được đặt ra cần phải
quản lý. Công tác truyền thông dự phòng (communication préventive) nhằm
hạn chế hiện tượng hoảng sợ, nhưng đồng thời phải khuyến khích người ta
đừng thụ động. Về mặt chuẩn bị, có lẽ đó là một trong những lãnh vực mà
chúng ta ít tiến bộ nhất.
Hỏi : Tại sao vậy ?
Patrick Zylberman : Các chính phủ miễn cưỡng không muốn tách rời một phần
của việc kiểm soát thông tin, còn giới truyền thông thì đã ít lý thuyết
hóa những vấn đề này. (LE MONDE 9/5/2009)
5/ VACCIN CHỐNG H1N1 : OMS VẪN
CÒN THONG THẢ
VIROLOGIE. Một buổi họp các chuyên gia đã không cho phép quyết định khi
nào sản xuất vaccin. Nhất định là họ sẽ không rời nhau được nữa ! Các
nhà công nghiệp chế tạo vaccin một lần nữa được triệu tập hôm thứ năm
cho một hội nghị được tổ chức bởi BS Keiji Fukuda, phó tổng giám đốc của
OMS. Cuộc họp nhằm xem xét khả năng phát động sự sản xuất quy mô lớn một
vaccin chống lại H1N1, virus đã làm lây nhiễm hơn 7.500 người trên thế
giới (trong đó 65 tử vong). Cuối cùng ông quyết định phải đợi chờ : “
Không thể nói vào ngày tháng nào chúng ta sẽ quyết định, đó là một quá
trình thật tỉ mỉ và khó khăn ”, Dr Fukuda đã tuyên bố như vậy, nhưng không
xác định rõ gì hơn. Tò mò muốn biết thêm, Figaro được trả lời bởi phòng
báo chí của OMS rằng ông ta không có quyền thông báo về chủ đề nhạy cảm
này… Theo thông tin của chúng tôi, 24 nhà chế tạo “đại bài và tiểu bài”,
trong đó có các hãng bào chế khổng lồ GlaxoSmithKline, Novartis và Sanofi
Pasteur, đều hiện diện trong hội nghị. Trước đó, mỗi hãng chế tạo đã cung
cấp cho OMS những con số về khả năng sản xuất vaccin trong những nhà máy
riêng của mình. Như thế, nhiều kịch bản sẽ có thể được dự kiến. Hoặc là
virus H1N1 vui lòng chờ đợi đến giữa tháng 8 để thật sự trở thành đại
dịch (giai đoạn 6). Và vào thời gian này, các nhà chế biến vaccin đã sản
xuất xong vaccin truyền thống của cúm mùa mùa đông (grippe saisonnière
hivernale).
“ THEO DỖI NAM BÁN CẦU ”
Hoặc virus trở nên độc lực hơn trước khi mùa hè chấm dứt. “ Khi đó có
thể xuất hiện những biến dị (mutation) làm virus trở nên đề kháng với
Tamiflu, hoặc virus có thể thụ đắc các gènes de “fitness”, cải thiện việc
chuyển qua và lan truyền nơi người, Vincent Enouf, thuộc Viện Pasteur
Paris đã chỉ rõ như vậy. Chúng ta cũng phải theo dõi tình hình ở Nam Bán
cầu bởi vì vùng này là nơi tốt nhất để các virus thực hiện sự tái phối
hợp (recombinaison).
Trong trường hợp giả thuyết thứ hai, khi đó sẽ phải ngưng các dây chuyền
sản xuất vaccin chống cúm mùa để chế tạo vaccin chống H1N1. Nhưng để được
như thế, OMS phải đã phải để cho các nhà sản xuất sử dụng một “hạt giống
virus”, có cở sở là những yếu tố di truyền của virus H1N1, được tô điểm
bởi những chuỗi (séquences) làm cải thiện khả năng nẩy mầm trên trứng
gà, kỹ thuật hiện nay được sử dụng để sản xuất vaccin. Theo Alain Bernal,
phát ngôn viên của Sanofi Pasteur, giống gốc này sẽ có sẵn sàng để sử
dụng, “có thể vào cuối tuần tới”. Và ông nói thêm: “Đã có lúc người ta
dự kiến thêm vào vaccin cúm (chứa 3 giống gốc khác nhau), giống gốc mới
H1N1, thế cho cho giống gốc cũ. Nhưng hôm nay điều đó có vẻ không phải
là một giải pháp tốt, bởi vì như thế buộc phải làm trì hoãn việc đưa ra
thị trường vaccin cúm mùa và điều đó buộc pha trộn một giống gốc mà chúng
ta không biết được những tác dụng của của nó lên vaccin truyền thống."
(LE FIGARO 17/5/2009)
6/ VIRUS A (H1N1) : CHUỖI
DI TRUYỀN CỦA VIRUS ĐÃ ĐƯỢC XÁC ĐỊNH.
Các nhà nghiên cứu Canada đã thực hiện bước tiến được cho là quan trọng
này, vì việc xác định toàn thể chuỗi di truyền (séquençage) của virus
H1N1 từ nay cho phép hiệu chính một vaccin. Bắt đầu từ các mẫu phân lập
virus cúm xuất phát từ hai tỉnh Ontario và Nouvelle-Ecosse của Canada,
các nhà khoa học của phòng thí nghiệm vi trùng học quốc gia của Cơ quan
y tế công cộng của Canada ở Winnipeg, đã thành công phân tích hoàn toàn
chuỗi di truyền (séquence génétique) của virus cúm A (H1N1). Bộ trưởng
Y tế, Leona Aglukkaq, đã khen ngợi các nhà khoa học về thành quả được
gọi là ngoại lệ này. “Đó là một đầu tiên trên thế giới”, bà Bộ trưởng
đã hoan hỉ phát biểu như vậy.
Nhất là khám phá này giờ đây chỉ rõ cho các nhà nghiên cứu rằng mặc dầu
căn bệnh đến nay ở Mễ Tây Cơ độc lực hơn nhiều so với Canada và Hoa Kỳ,
nhưng tác nhân gây bệnh đều cùng giống gốc virus. “ Cấu trúc di truyền
trong các mẫu nghiệm không cho thấy một khác nhau nào giữa các virus ”,
B.S Frank Plummer, tổng giám đốc khoa học của Phòng thí nghiệm vi trùng
học quốc gia, đã tuyên bố như vậy. Nhóm nghiên cứu của ông đã làm việc
ngày đêm trong một tuần lễ để có thể xác định chuỗi di truyền của virus.
Đó cũng là một bước quan trọng để hiểu được nguồn gốc của virus, cách
truyền bệnh của nó và những biến dị có thể xảy ra, BS David Butler-Jones,
quản trị trưởng của Sở y tế công cộng của Canada đã giải thích như vậy.
Kiến thức về bộ gène (génome) này từ nay cho phép xác định vị trí các
protéine đặc hiệu của virus H1N1 và do đó cho phép bắt đầu việc hiệu chính
một vaccin. Ở Hoa Kỳ, nơi có 3 trường hợp tử vong, những bước đầu tiên
theo chiều hướng này đã được thực hiện, một người hữu trách của Viện Y
tế đã tuyên bố như vậy tại Hội Nghị. Mặt khác, ở Luân Đôn, Trung tâm các
bệnh nhiễm trùng của Cơ quan bảo vệ y tế, cơ quan nhà nước Anh, đã loan
báo là lần đầu tiên đã thực hiện việc phân tích chuỗi di truyền (séquençage
génétique) của giống gốc châu Âu của virus H1N1. Các đôi mắt từ nay hướng
về công nghiệp chế biến vaccin để vaccin được sản xuất với lượng đầy đủ
càng nhanh càng tốt. (LE JOURNAL DU MEDECIN 15/5/2009)
7/ UNG THƯ THẬN VÀ ĐIỀU TRỊ BẢO
TỒN.
G.S Bertrand Dufour, thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu của Hôpital américain,
ủy viên của Viện hàn lâm ngoại khoa, bình luận những công trình nghiên
cứu chứng minh tính hiệu quả của một phương thức phẫu thuật vi xâm nhập
đối với những trường hợp ung thư thận kích thước nhỏ được phát hiện sớm.
Hỏi : Tần số mắc bệnh của ung thư thận là
gì ?
G.S Bernard Dufour : Tỷ lệ mắc bệnh của các ung thư này tương ứng với
3% của tất cả các ung thư. Chỉ riêng ở bệnh viện Necker, Paris, 1.219
bệnh nhân ung thư thận đã được mổ trong mười năm qua ! Tần số này đang
gia tăng và thường nhất là ở những người trên 50 tuổi.
Hỏi : Những triệu chứng nào có thể làm báo
động ?
G.S Bernard Dufour : Ngày nay, người ta khám phá 70% các trường hợp ung
thư một cách tình cờ, trong lúc thực hiện một bilan, nhất là bằng một
siêu âm. Bệnh tiến triển thầm lặng và khi nó gây nên những triệu chứng
như xuất huyết hay đau bụng, thì giai đoạn đã tương đối tiến triển. Scanner
và siêu âm đủ để mang lại tất cả những xác nhận về vị trí, thể tích và
mức độ lan rộng của khối u, cũng như tình trạng của chiếc thận kia, hiếm
khi bị thương tổn cùng một lúc.
Hỏi : Người ta xếp loại khối u theo giai
đoạn tiến triển của chúng như thế nào ?
G.S Bernard Dufour : Có 3 giai đoạn trầm trọng (stade de gravité). Những
khối u nhỏ dưới 4 hoặc 5 cm, không lan ra ngoài thận (không xâm nhập bao
nang thận cũng như các hạch) được xếp giai đoạn 1. Giai đoạn 2 gồm những
khối to lớn hơn với bao nang của thận bị xâm nhập. Những khối u to lớn
này thuộc giai đoạn 3 khi các hạch bị xâm nhập. Mức độ trầm trọng của
khối u cũng tùy thuộc vào loại và cấp độ tế bào (grade cellulaire).
Hỏi : Bình thường, tùy theo các giai đoạn
trầm trọng, người ta áp dụng điều trị nào ?
G.S Bernard Dufour : Phương thức cổ điển là ngoại khoa. Có hai kỹ thuật
: giải phẫu cổ điển, nặng nề, phải mở bụng, và ngoại khoa soi ổ bụng (coeliochirurgie),
khi thể tích khối u không quá quan trọng (không hơn 10 cm), không xâm
nhập tĩnh mạch. Với kỹ thuật ngoại khoa soi ổ bụng, phẫu thuật viên thực
hiện 5 đường xẻ rất nhỏ, qua đó các dụng cụ và một minicaméra được đưa
vào. Một đường xẻ lớn hơn, khoảng 5 cm, sau đó được thực hiện để lấy thận
bị bệnh ra. Trong cả hai trường hợp, hậu phẫu đều đơn giản. Nhưng với
ngoại khoa soi ổ bụng, thời gian nhập viện ngắn hơn (4 hay 5 ngày thay
vì 10) và sự hồi phục của bệnh nhân nhanh hơn.
Hỏi : Những kết quả có được với hai kỹ thuật
giải phẫu này là gì ?
G.S Bernard Dufour : Ngoại khoa “ mở bụng ” (chirurgie à ventre ouvert)
và ngoại khoa soi ổ bụng (coeliochirurgie) mang lại cùng kết quả. Nhưng
những kết quả này thay đổi tùy theo giai đoạn ban đầu của khối u. Đối
với những ung thư có kích thước nhỏ và không có một xâm nhập nào các mô
kế cận, người ta ghi nhận được tỷ lệ chữa lành là 85%. Khi chẩn đoán muộn,
tiên lượng trên nguyên tắc ít thuận lợi hơn... nhưng ngày nay, với những
điều trị nhắm đích (traitements ciblés) mới, các triển vọng đã được cải
thiện đáng kể.
Hỏi : Trong những trường hợp nào có chỉ định
bảo tồn quả thận ?
G.S Bernard Dufour : Khi ta có cơ may khám phá một khối u rất ít lớn,
không vượt quá 4 cm. Nhờ có scanner, ngày nay chúng ta có thể đảm bảo
rằng một khối u là đơn độc, kích thước nhỏ và không lan rộng (trường hợp
một hạch bị xâm nhập là hiếm). Không nên quên rằng cắt bỏ thận mang lại
những hậu quả không phải là không đáng kể, do đó lợi ích một điều trị
bảo tồn chừng nào có thể được. Tốt hơn là giữ một quả thận dự phòng trong
trường hợp xảy ra tai nạn.
Hỏi : Chúng ta có thể sợ điều gì sau khi
cắt bỏ một quả thận ?
G.S Bernard Dufour : Trong 4-5 % các trường hợp, có một nguy cơ, trong
những năm sau đó, một khối u sẽ phát sinh trên thận còn lại. Mặt khác,
suy thận (mặc dầu trường hợp này ít xảy ra) phát triển nhiều hơn nơi những
người chỉ có một quả thận. Thật là đáng tiếc khi phải hy sinh một quả
thận nếu ta có khả năng bảo tồn nó, đồng thời chỉ cắt bỏ khối u mà thôi
!
Hỏi : Những kỹ thuật nào được sử dụng đối
với ngoại khoa bảo tồn này ?
G.S Bernard Dufour : Phương tháp phẫu thuật là phức tạp, chỉ có thể được
thực hiện bởi những phẫu thuật viên giàu kinh nghiệm. Nhà giải phẫu thực
hiện một đường xẻ ở một bên bụng (lombotomie) để có một lối trực tiếp
vào thận. Khi khối u rất nhỏ (dưới 4 cm), nằm đúng trong phần ngoại biên
của quả thận, thì động tác phẫu thuật có thể được thực hiện với ngoại
khoa soi ổ bụng (coelioscopie).
Hỏi : Những kết quả thu được với phẫu thuật
vi xâm nhập, tùy theo kỹ thuật này được sử dụng là gì ?
G.S Bernard Dufour : Những kết quả rất là tốt : tỷ lệ chữa lành hơn 90%
! Do đó lợi ích của việc phát hiện ung thư càng sớm càng tốt. Đứng trước
những kết quả này, dĩ nhiên người ta đã tự hỏi : chúng ta có thể làm hoại
tử khối u mà không cần phải mổ hay không ?
Hỏi : Khi đó chúng ta đã hiệu chính những
điều trị nào ?
G.S Bernard Dufour : Một điều trị bằng sức nóng (làm tăng nhiệt bằng tần
số phóng xạ) và bằng sức lạnh (cryothérapie). Nhưng, theo ý kiến của tôi,
với hàn liệu pháp (cryothérapie), chúng ta còn có quá ít kinh nghiệm để
có thể nói đến.
Hỏi : Phương pháp điều trị bằng tần số phóng
xạ (traitement par radiofréquence) diễn ra như thế nào ?
G.S Bernard Dufour : Phương thức này nhằm cắm một hay nhiều điện cực (những
chiếc kim mảnh), dưới kiểm tra siêu âm và IRM, đến tận lòng của khối u.
Sau đó khối u được sưởi nóng với một nhiệt độ từ 50 đến 100 độ. Bệnh nhân
được gây tê tại chỗ nên không cảm thấy gì hết. Thường thường, chỉ cần
một buổi can thiệp là đủ. Ở bệnh viện Necker, G.S Correas đã tiến hành
một công trình nghiên cứu với phương pháp điều trị này trên 123 bệnh nhân
bị một ung thư thận nhỏ, dưới 4 cm, đã ghi nhận được tỷ lệ chữa lành 80%.
Những kết quả của ông đã tương ứng với những công trình nước ngoài khác,
đặc biệt là của Hoa Kỳ. (PARIS MATCH 30/4-6/5/2009)
8/ BỆNH PARKINSON : “NIỀM HY VỌNG
CỦA MỘT KỸ THUẬT KÍCH THÍCH ĐIỆN NHẸ NHÀNG”
Được thử nghiệm thành công nơi chuột, phương pháp kích thích điện tủy
sống (stimulation électrique de la moelle épinière) dấy lên niềm hy vọng
đối với những bệnh nhân bị bệnh Parkinson. Niềm hy vọng một ngày nào đó
phương pháp kích thích điện tủy sống thay thế phương pháp kích thích vùng
sâu trong não bộ (stimulation intracérébrale profonde), phương pháp đòi
hỏi một phẫu thuật nặng nề.
Hỏi : Kích thích điện tủy sống là gì ?
David Grabli : Cũng như phương pháp kích thích sâu trong não bộ, phương
pháp này nhằm tạo một dòng điện để làm biến đổi hoạt động của vài vùng
của hệ thần kinh. Nhưng, thay vì đặt các điện cực vào trong não bộ, người
ta cắm chúng tiếp xúc với lớp vỏ bảo vệ tủy sống, bằng một đường dễ tiếp
cận hơn.
Hỏi : Kỹ thuật này được trắc nghiệm trên
chuột như thế nào?
David Grabli : Các tác giả đã chọn những con chuột thường được dùng như
mô hình động vật đối với bệnh Parkinson. Não bộ của chúng được làm thương
tổn một cách cố ý để làm giảm sự sản xuất dopamine trong striatum. Khả
năng vận động của chúng bị giảm. Và chúng có những đặc tính riêng của
bệnh Parkinson xảy ra nơi người : một sự gia tăng những dao động tần số
thấp trong vỏ não vận động và một sự đồng bộ hóa quá mức của hoạt động
neurone trong vùng này. Trước hết các tác giả đã kiểm tra hai tham số
này bằng cách ghi hoạt động não của vỏ vận động của các con chuột. Rồi
họ đã kích thích với một dòng điện có tần số cao (400 hertz) các cột sau
(colonnes dorsales) của tủy sống ngực của chúng, những vùng có những bó
sợi thần kinh vận chuyển những thông tin cảm giác từ các chi dưới lên
đến não bộ. Lý thuyết của họ là, bằng cách điều biến những đường thần
kinh hướng thượng này, họ sẽ tái lập hoạt động của não bộ của những con
chuột này, vốn bị rối loạn tổ chức vì căn bệnh.
Hỏi : Các tác giả đã đạt được điều gì ?
David Grabli : Hiệu quả đã xảy ra tức thời : Họ đã quan sát nhận thấy
một sự gia tăng hoạt động vận động của các con chuột và sự phục hồi hoạt
động bình thường của não bộ chúng trong vùng vỏ não vận động, nghĩa là
sự biến mất những nhịp chậm và sự mất đồng bộ bình thường của các neurone.
Hỏi : Người ta có thể suy diễn ra điều gì
nơi người ?
David Grabli : Đó là điều rất đặc sắc cho người, bởi vì can thiệp ngoại
khoa dễ thực hiện hơn nhiều so với phương pháp kích thích vùng sâu trong
não bộ. Nhưng nhất thiết phải kiểm tra tính hiệu quả và vô hại của kỹ
thuật này nơi khỉ, mô hình động vật tương cận với người hơn chuột. (LA
RECHERCHE 5/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr123.htm
(TSYH 123, bài số 9)
9/ NƠI TRẺ EM, BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LÀ
DO VIRUS.
Các virus đúng là có thể làm phát khởi bệnh đái đường loại I nơi các trẻ
em. Đó là điều được xác nhận bởi một công trình nghiên cứu của Anh. Các
nhà nghiên cứu đã tìm thấy các entérovirus, những virus thông thường của
những bệnh sốt nhi đồng, trong tụy tạng của 60% những trẻ em đái đường,
so với 6% những trẻ em không bị bệnh. Mặc dầu những trường hợp đái đường
này là do di truyền, người ta biết rằng môi trường đóng một vai trò trong
sự xuất hiện của các triệu chứng : ví dụ, nơi những trẻ sinh đôi có cùng
các gène, thường chỉ có một trẻ là phát triển bệnh đái đường. Lý thuyết
của nhiễm trùng virus đã có từ lâu, nhưng công trình nghiên cứu này là
công trình đầu tiên mang lại những chứng cớ xác thực. Bởi vì chính ngay
trong những tế bào sản xuất insuline, bị phá hủy trong trường hợp đái
đường, mà người ta đã tìm thấy các virus ! Như là nơi những trẻ có tổ
bẩm di truyền đối với bệnh đái đường, các virus sẽ phát khởi một phản
ứng phòng ngự bất thường, gây nên sự phá hủy không đảo ngược của những
tế bào bị nhiễm siêu vi trùng. Nhưng không phải là tất cả : các virus
này cũng đã được nhận thấy nơi 40% các bệnh nhân đái đường loại 2. Nếu
những dấu hiệu này được xác nhận, việc nhận diện các entérovirus gây bệnh
trong số 100 loại hiện có sẽ cho phép nghĩ đến một vaccin khả dĩ làm giảm
tần số mắc phải những chứng bệnh này. (SCIENCE ET VIE
5/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr118.htm
(TSYH 118, bài số 8)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr102.htm
(TSYH 102, bài số 8)
10/ TRẺ CON CÓ LÝ : ĂN BẨN CÓ THỂ
TỐT CHO SỨC KHOẺ
Hãy hỏi các bà mẹ tại sao các em bé thường nhặt các đồ vật lên từ sàn
nhà hay mặt đất và bỏ chúng vào miệng, và xác suất là các bà mẹ này sẽ
nói rằng đó là do bản năng, rằng đó là cách thức các trẻ con thăm dò thế
giới. Nhưng tại sao lại là miệng, trong khi thị giác, thính giác, xúc
giác và ngay cả khướu giác còn tốt hơn nhiều để nhận diện các đồ vật ?
Vì lẽ các hành vi bản năng có một ưu điểm tiến hóa, nếu không, chúng đã
không được giữ lại trong hàng triệu năm, do đó điều này cũng có thể đã
giúp chúng ta tồn tại với tư cách là một loài. Thật vậy, bằng chứng tích
lũy rất gợi ý rằng ăn bẩn là tốt cho các bạn.
Trong những nghiên cứu của điều được gọi là giả thuyết vệ sinh (hygiene
hypothesis), các nhà nghiên cứu kết luận rằng những sinh vật, như hàng
triệu vi khuẩn, virus và đặc biệt là các ký sinh trùng, vào cơ thể cùng
với “ đồ bẩn ”, kích thích sự phát triển của một hệ miễn dịch lành mạnh.Vài
công trình nghiên cứu đang tiếp tục được thực hiện, gợi ý rằng các ký
sinh trùng có thể giúp tái chỉ đạo một hệ miễn dịch đã bị hỏng và đưa
đến những rối loạn tự miễn dịch, các dị ứng và hen phế quản. Những công
trình nghiên cứu này, cùng với những quan sát dịch tễ học, dường như giải
thích tại sao các rối loạn miễn dịch như bệnh xơ cứng rải rác (multiple
slerosis), bệnh đái đường loại I, bệnh viêm ruột (inflammatory disorder),
hen phế quản và các dị ứng đã gia tăng đáng kể ở Hoa Ky và các nước phát
triển khác.
“ Những gì mà một đứa trẻ đang làm khi nó đưa các đồ vật vào trong miệng
là cho phép đáp ứng miễn dịch của nó thăm dò môi trường xung quanh nó,”
Mary Ruebush, nhà vi trùng và miễn dịch học đã viết như vậy trong cuốn
sách mới xuất bản của bà “Why Dirt is Good”. Không những điều này cho
phép “thực hành” các đáp ứng miễn dịch sẽ cần thiết cho sự bảo vệ cơ thể,
mà nó còn đóng một vai trò quan trọng trong việc dạy cho đáp ứng miễn
dịch chưa trưởng thành những gì là tốt nhất đừng lưu ý đến.”
Một nhà nghiên cứu chủ đạo, BS Joel Weinstock, trưởng khoa Gastroenterology
và Hepatology ở Tufts Medical Center, Boston, đã nói trong một cuộc phỏng
vấn rằng, hệ miễn dịch lúc mới sinh ra đời “cũng như một computer chưa
được chương trình hóa. Nó cần được huấn luyện. Ông nói rằng, những biện
pháp y tế cộng đồng như làm sạch thức ăn và nước uống bị ô nhiễm, đã cứu
mạng vô số trẻ em, nhưng chúng “cũng loại bỏ sự tiếp xúc với nhiều vi
sinh vật, có thể có lợi cho chúng ta”. “Các trẻ em được nuôi lớn trong
một môi trường cực kỳ sạch sẽ”, ông nói thêm như vậy, “không được tiếp
xúc vối các vi sinh vật sẽ giúp chúng phát triển những vòng điều hòa miễn
dịch (immune regulatory circuits) thích hợp.”
Những công trình nghiên cứu mà ông đã tiến hành với BS David Elliot, một
thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa và miễn dịch của Đại học Iowa, chỉ cho
thấy rằng những ký sinh trùng ruột, đã hầu như được loại bỏ trong những
nước phát triển, “có thể là tác nhân lớn nhất trong việc điều hòa hệ miễn
dịch để đáp ứng một cách thích đáng, Elliot đã nói như vậy trong một bài
phỏng vấn. Ông nói thêm rằng những nhiễm trùng do vi khuẩn và virus dường
như ảnh hưởng lên hệ miễn dịch cùng một cách như vậy, nhưng không mạnh
mẽ như trong trường hợp ký sinh trùng. Nhiều ký sinh trùng là vô hại,
đặc biệt là nơi những người có dinh dưỡng tốt, Weinstock đã nói như vậy.
Có rất ít bệnh mà người ta mắc phải do ký sinh trùng,” ông đã nói như
vậy. “Con người đã thích nghi với sự hiện diện của hầu hết các con sâu
này.”
Trong những công trình nghiên cứu trên chuột, Weinstock và Elliot đã dùng
các ký sinh trùng để ngăn ngừa hay chữa bệnh tự miễn dịch (autoimmune
disease). Elliot nói rằng ở Argentina, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy
rằng những bệnh nhân bị xơ cứng rải rác (multiple slerosis), khi bị nhiễm
trùng bởi trùng roi người (human whipworm), đã có những trường hợp bệnh
nhẹ hơn và ít những cơn bộc phát bệnh hơn trong một thời gian 4 năm rưỡi.
Ở Đại Học Wisconsin, Madison, một thầy thuốc chuyên khoa thần kinh đang
trắc nghiệm để xem các con trùng roi heo (pig whipworm) có thể làm dịu
bớt những triệu chứng của xơ cứng rải rác hay không.
Ở Gambia, nơi một vài ngôi làng, việc loại bỏ các con ký sinh trùng đã
khiến cho các trẻ em có những phản ứng da đối với các dị nguyên gia tăng,
Eliot đã nói như vậy. Và những con trùng roi heo, cư ngụ một thời gian
ngắn ngủi trong ruột người, đã có “tác dụng tốt” trong điều trị những
bệnh viêm ruột (inflammatory bowel diseases), bệnh Crohn và viêm loét
đại tràng (ulcerative colitis), ông đã nói như vậy.
Các con ký sinh trùng có thể ảnh hưởng hệ lên miễn dịch như thế nào ?
Elliot giải thích rằng ngày nay sự điều hòa miễn dịch được biết là phức
tạp hơn những gì mà các nhà khoa học đã nghĩ, khi lý thuyết vệ sinh lần
đầu tiên được đưa ra vào năm 1989 bởi một nhà dịch tễ học người Anh, BS
David Strachan. Strachan đã ghi nhận một sự liên kết giữa những gia đình
đông con và sự giảm tỷ lệ hen phế quản và dị ứng. Các nhà miễn dịch học
bây giờ công nhận một hệ thống đáp ứng gồm 4 tế bào helper T : đó là những
tế bào Th 1, Th 2, Th 17 và những tế bào T điều hòa (regulatory T cells).
“Nhiều bệnh viêm (xơ cứng rải rác, bệnh Crohn, viêm loét đại tràng và
hen phế quản) là do hoạt động của Th 17”, ông đã giải thích như vậy. “Nếu
anh gây nhiễm chuột với các ký sinh trùng, thì những tế bào Th 17 giảm
rất nhiều, và hoạt động của các tế bào T điều hòa tăng cao.”
Trả lời câu hỏi “ Chúng ta có quá sạch lắm không, Elliot nói : Sự bẩn
thỉu có một cái giá. Nhưng sự sạch sẽ cũng có cái giá. Chúng tôi không
đề nghị trở lại môi trường đầy vi trùng của những năm 1850. Nhưng nếu
chúng ta hiểu một cách thích hợp các vi khuẩn trong môi trường bảo vệ
chúng ta như thế nào, có lẽ chúng ta có thể tạo một thuốc chủng hay bắt
chước tác dụng của chúng bằng một kích thích vô hại nào đó.”
Ruebush, tác giả của “Tại sao bẩn là tốt”, cũng không gợi ý trở về lối
sống bẩn. Nhưng bà chỉ rõ một cách đúng đắn rằng vi khuẩn có mặt khắp
nơi : trên chúng ta, trong chúng ta và quanh khắp chúng ta. Hầu hết những
vi khuẩn này không tạo nên vấn đề, và nhiều vi khuẩn, như những vi khuẩn
bình thường sống trong đường tiêu hóa và sản xuất những chất dinh dưỡng
duy trì đời sống, là thiết yếu để có sức khoẻ tốt. “Một con người tiêu
biểu có lẽ chứa khoảng 90 ngàn tỷ vi trùng.” bà đã viết trong tác phẩm
của bà như vậy. Chính sự việc anh có quá nhiều vi khuẩn thuộc nhiều loại
khác như thế là những gì khiến cho anh luôn luôn được khỏe mạnh.” Ruebush
phàn nàn thái độ tôn sùng hiện nay đối với hàng trăm các kháng sinh, mặc
dầu mang lại một cảm giác an toàn giả tạo nhưng thật ra có thể duy trì
sự phát triển của những vi khuẩn sinh bệnh, đề kháng với kháng sinh. Xà
phòng đơn thuần và nước là tất cả những gì cần thiết để trở nên sạch,
bà đã ghi nhận như vậy. Khi không có nước máy và cần phải làm sạch bàn
tay, bà gợi ý dùng thuốc sát trùng bằng cồn.
Weinstock lại còn đi xa hơn. “ Các đứa trẻ nên được cho phép đi chân trần
trong đất, chơi trong đất, và không rửa tay khi chúng đi ăn”, ông đã nói
như vậy. Ông và Elliot đã chỉ rõ rằng những trẻ em lớn lên trong nông
trại và thường tiếp xúc với các ký sinh trùng và những vi trùng khác từ
những động vật nông trại, ít có khả năng phát triển dị ứng và những bệnh
tự miễn dịch hơn.
Cũng là hữu ích, ông nói như vậy, “khi để cho con trẻ có hai con chó và
một con mèo, điều này sẽ làm cho chúng được tiếp xúc với ký sinh trùng
ruột, như thế có thể phát triển một hệ miễn dịch lành mạnh. (INTERNATIONAL
HERALD TRIBUNE 29/1/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (22/5/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |