 |
Thời
Sự Y Học số 120
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CHỈ MỘT VIÊN THUỐC ĐỂ
CHỐNG LẠI CÁC BỆNH TIM MẠCH
PHARMACOLOGIE. Một viên thuốc chứa một chất kháng cholestérol, 3 loại
thuốc chống cao huyết áp và aspirine, có thể làm giảm 50% nguy cơ bị nhồi
máu cơ tim và đột qụy.
Một viên thuốc duy nhất để ngăn ngừa các bệnh tim mạch đối với những người
trên 50 tuổi ? Quan niệm này đã được nêu lên từ nhiều năm nay, bây giờ
bắt đầu trở thành hiện thực. Thật vậy, các thầy thuốc Ấn Độ vừa công bố
trên site Internet của tạp chí y khoa The Lancet các kết quả của một thử
nghiệm, được thực hiện với một polypill chứa 5 chất có hoạt tính chống
lại các bệnh tim mạch.
Những trắc nghiệm này xác nhận rằng chỉ một viên thuốc cũng có hiệu quả
như 5 loại thuốc được kê toa một cách độc lập. Các tác giả, cũng đã trình
bày những công trình này hôm thứ hai, nhân hội nghị thường niên American
College of Cardiology ở Orlando (Florida), đánh giá rằng một viên thuốc
như thế, được cho để phòng ngừa, có thể làm giảm gần một nửa các trường
hợp tai biến tim và các cơn đột qụy. Những thử nghiệm khác, với quy mô
lớn hơn, vẫn phải được tiến hành để xác nhận những kết quả này. Những
bệnh tim mạch, hiện đang bùng nổ trong các nước đang phát triển, vẫn là
một trong những nguyên nhân chính gây tử vong trong các nước phương Tây,
mặc dầu có sự giảm bớt do việc điều trị tốt hơn (cao huyết áp, tăng cholestérol-huyết,
chứng nghiện thuốc lá). Sự ngăn ngừa này, được căn cứ trên sự sử dụng
nhiều thứ thuốc, đã đặt ra vấn đề tuân thủ điều trị, không hoàn toàn được
tôn trọng một cách đúng đắn. Và điều này có thể được cải thiện bằng cách
uống một viên thuốc duy nhất. Thử nghiệm điều trị này (được tài trợ bởi
Phòng bào chế Ấn Độ Cadilla Pharmaceuticals) đã được tiến hành ở Ấn Độ,
trong 50 trung tâm y tế, trên 2.053 người tham dự, tuổi từ 45 đến 80,
đã không bao giờ bị bệnh tim mạch, nhưng chỉ có một yếu tố nguy cơ (cao
huyết áp, cholestérol cao…).
THIẾU CÁC CÂU TRẢ LỜI TINH TẾ
Mục đích là để đánh giá sự dung nạp của điều trị phối hợp này và xác định
xem viên thuốc phối hợp này có tác dụng lên nguy cơ tim mạch giống như
mọi loại thuốc được uống riêng rẻ hay không. Thử nghiệm đã so sánh polypill
với 8 protocole điều trị khác (statine dùng đơn độc, aspirine dùng đơn
độc, bêta-bloquant dùng đơn đọc) trên huyết áp, trên nồng độ cholestérol
hay trên nhịp tim. Viên thuốc chứa những liều lượng thấp của 3 loại thuốc
chống cao huyết áp (12,5 mg thiazide, 50 mg atenolol và 5mg ramipril)
cũng như 20 mg simvastatin (một thuốc kháng cholesterol), và 100 mg aspirine
(với tác dụng kháng đông).
Các kết quả đã cho thấy nồng độ cholestérol giảm với mức độ quan trọng
nơi những người được điều trị bởi polypill cũng như nơi những người chỉ
dùng statine đơn độc. Cũng như thế đối với huyết áp khi dùng các thuốc
chống cao áp đơn độc. Tính chất lưu thông của máu được cải thiện bởi polypill
giống như với aspirine dùng riêng rẻ. Các tác dụng phụ của polypill cũng
giống với các tác dụng gây nên bởi mỗi thành phần được dùng riêng rẻ.
“Chúng tôi ước đoán rằng polypill có lẽ có khả năng làm giảm 60% các bệnh
tim và 50% các đột qụy, B.S Salim Yusuf, thuộc Population Health Research
Institute của Université McMaster (Canada) đã đánh giá như vậy. Ý tưởng
những người có thể chỉ uống một viên thuốc để làm giảm nhiều nguy cơ tim
có thể cách mạng hóa sự ngăn ngừa các bệnh tim mạch”.
Hiện nay, thử nghiệm lâm sàng đã chỉ đánh giá sự cải thiện các hằng số
sinh học với điều trị phối hợp này. Bây giờ cần phải tiến hành những điều
tra quy mô lớn để đánh giá tác dụng lên tỷ lệ mắc bệnh và trên tỷ lệ tử
vong.
Trong những nước giàu có, những viên thuốc như thế có thể đơn giản hóa
sự phòng ngừa. “Khái niệm này không phải là không hấp dẫn, G.S Nicolas
Danchin thuộc bệnh viện Georges -Pompidou khẳng định như thế. Vấn đề là
còn phải chứng tỏ rằng thuốc không có các tác dụng phụ lúc dùng lâu dài
và rằng điều đó cho phép cải thiện sự tuân thủ điều trị.” Việc phòng ngừa
là một chương trình dài hạn. “Vấn đề của viên thuốc phối hợp này, đó là
nó không đáp ứng một cách tinh tế những vấn đề chính xác của mỗi người,
B.S Yves Benacin (thầy thuốc chuyên khoa tim, Paris) đã giải thích như
vậy. Nhưng có lẽ đó là một giải pháp cho những người có nguy cơ không
tuân thủ điều trị một cách đều đặn, và dĩ nhiên đó là một giải pháp cho
các nước đang phát triển.” Tuy nhiên đừng quên rằng một chế độ ăn uống
lành mạnh và tập thể dục đều đặn 5 lần mỗi tuần, làm giảm một cách không
chối cải được cholestérol, huyết áp, đường huyết và tăng sức cho trái
tim. (LE FIGARO 1/4/2009)
2/ CHỨNG BÉO PHÌ, TÌNH DỤC VÀ KHẢ
NĂNG SINH SẢN
Trong một công trình nghiên cứu, được thực hiện nơi 64 người đàn ông béo
phì, một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ, vừa cho thấy rằng khi sự gia tăng thể
trọng (surcharge pondérale) càng quan trọng, thì tình dục và nồng độ testostérone
càng giảm nhiều. Trong một công trình nghiên cứu khác, được thực hiện
nơi 94 phụ nữ béo phì, các nhà nghiên cứu Úc đã xác lập cùng loại tương
quan giữa thể trọng và khả năng sinh sản của phụ nữ. Những nồng độ lipide
cao làm biến đổi chuyển hóa mỏng manh của buồng trứng. Về những rối loạn
hoạt động sinh dục và dục tính nơi đàn ông, chúng rõ ràng được cải thiện
sau khi điều trị ngoại khoa: vòng dạ dày (anneau gastrique) hay chuyển
đạo tiêu hóa (dérivation digestive). (PARIS MATCH 2/4-8/4/2009)
3/ CAO HUYẾT ÁP : ALISKIREN DÙNG CHO NHỮNG TRƯỜNG HỢP CAO HUYẾT ÁP ĐỀ
KHÁNG VỚI THUỐC
G.S Xavier Girend, thầy thuốc chuyên khoa tim của Hôpital de la Pitié-Salpêtrière,
giải thích tác dụng của một thuốc chống cao áp mới sẽ được thương mãi
hóa ở Pháp trong vài tháng tới.
Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những
đặc điểm của căn bệnh thường xảy ra này : bệnh cao huyết áp ?
G.S Xavier Girend : Đó là một sự hoat động kém của các động mạch, do đó
có thuật ngữ “ cao huyết áp ” (hypertension artérielle). Những huyết quản
này, đã mất đi tính mềm dẻo, nên có nhiều khó khăn hơn để mở ra. Hậu quả
là, tim phải hoạt động nhiều hơn để gia tăng áp lực trong các động mạch.
Cơ thể thich nghi dần, nhưng với cái giá là sự mỏi mệt quá mức của cơ
tim và của các huyết quản, sẽ “ hao mòn ” đi nhanh hơn. Và khi các thành
động mạch hao mòn, chúng sẽ dày lên. Sau vài năm không điều trị, một lúc
nào đó, các động mạch bị bít lại. Đó là lúc rất nguy kịch bởi vì là nguồn
gốc của một cơn cấp tính : nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não hay
suy thận..
Hỏi : Có những yếu tố làm dễ không ?
G.S Xavier Girerd : Chúng ta biết có 3 yếu tố chính.
1. Có một thành viên trong gia đình bị cao huyết áp trước 50 tuổi.
2. Sự lão hóa của các động mạch : 70% các người bị cáo huyết áp hơn 60
tuổi, được làm gia tăng với thuốc lá, thặng dư cholestérol xấu và đái
đường.
3. Chứng béo phì bụng (obésité abdominale)
Hỏi : Làm sao một stress có thể làm huyết
áp lên cao trong chốc lát, làm sao có được một chẩn đoán rất chính xác
?
G.S Xavier Girerd : Ngày nay chúng ta có những kỹ thuật rất có hiệu năng.
Như là chúng ta có thể phó thác cho bệnh nhân một chiếc máy nhỏ gồm một
băng tay (brassard), được nối với một chiếc hộp (boitier) được đặt trên
một cái bàn. Huyết áp phải được đo và ghi 3 ngày liên tiếp và vào những
lúc chính xác : đo ba lần buổi sáng và ba lần buổi chiều. Chính vào lúc
có được toàn bộ các con số này, chúng ta mới có thể thật sự xác lập một
chẩn đoán cao huyết áp thường trực (hypertension permanente). Phải biết
rằng sau 60 tuổi, ta thường có những đỉnh cao cao huyết áp do stress,
mặc dầu không có bệnh động mạch.
Hỏi : Ngày nay, điều trị cổ điển của cao
huyết áp là gì ?
G.S Xavier Girerd : Cách nay 50 năm, những thuốc đầu tiên đã được chế
tạo nhằm mang lại cho các động mạch một sự mềm dẻo nào đó. Từ đó, trung
bình cứ mỗi 10 năm, người ta thấy xuất hiện những họ thuốc mới bởi vì
những thuốc chống cao áp này không tác dụng nơi tất cả các bệnh nhân.
Vậy cần phải có một thang khá rộng các điều trị. Hiện nay, 60% những bệnh
nhân cao huyết áp nhận một liệu pháp gồm hai thứ thuốc (bithérapie).
Hỏi : Với những thuốc được sử dụng hiện nay,
tỷ lệ bệnh nhân mà ông điều trị có hiệu quả là gì ?
G.S Xavier Girerd : 50% nhưng, cách nay 10 năm, chỉ 35% mới hưởng được
một sự cải thiện thật sự.
Hỏi : Do đó, ở Pháp cần một loại thuốc mới.
Tác dụng của loại thuốc này là gì ?
G.S Xavier Girerd : Đó là một loại dược lý được gọi là “ chất ức chế trực
tiếp rénine ” (inhibiteur direct de la rénine), nhằm vào một quá trình
sinh học đặc hiệu, nguồn gốc của huyết áp (cơ chế quá phức tạp để được
trình bày ở đây).
Chất thuốc mới này, aliskiren, ức chế tác dụng của rénine, một chất tham
gia vào một chuỗi các biến cố sinh học làm giảm sự mềm dẻo của các động
mạch. Thuốc được uống một lần duy nhất mỗi ngày, nhưng tác dụng của nó
kéo dài hơn một ngày. Trong vài trường hợp, thuốc này có thể được thêm
vào cho một điều trị không đủ hiệu quả.
Hỏi : Thời gian nhìn lại với loại thuốc mới
này là gì ?
G.S Xavier Girerd : Aliskiren đã được nghiên cứu rất tốt trên 10.000 người
ở Hoa Kỳ và châu Âu. Những kết quả rất tốt thu được về độ dung nạp và
tính hiệu quả đã cho phép thương mãi hóa thuốc này ở Hoa Kỳ cách nay 18
tháng. Hôm nay hơn 200.000 người Mỹ đã sử dụng thuốc này ! Và đối với
một số lớn những người dùng Aliskiren, chất ức chế rénine này đã tác dụng
hiệu quả hơn những thuốc đã được thương mãi hóa.
Hỏi : Khi nào thì Aliskiren sẽ được lưu hành
ở Pháp ?
G.S Xavier Girerd: Chẳng bao lâu nữa, vào tháng 9 năm 2009. (PARIS
MATCH 26/3-1/4/2009)
4/ THỂ THAO CÓ LỢI CHO TUỔI THỌ
Một công trình nghiên cứu của Thụy Điển đã theo dõi, trong hơn 35 năm,
2.505 người đàn ông 50 tuổi vào lúc bắt đầu công trình thử nghiệm, giữa
năm 1970 và 1973. Những người tham gia đã được thăm khám lại với một bilan
tổng quát và một bảng câu hỏi chi tiết vào các năm 60 , 70, 77 và 82 tuổi.
Những kết quả cho thấy rằng tỷ lệ tử vong trung bình 10% thấp hơn nơi
những người có hoạt động thể thao cao nhất, so với những người có hoạt
động thể thao thấp nhất. (PARIS MATCH 26/3-1/4/2009)
5/ CÁC THUỐC CHỐNG CAO ÁP CÓ THỂ
THAM GIA VÀO CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI BỆNH ALZHEIMER
Các chỉ dấu càng ngày càng hội tụ: các thuốc chống cao áp cho phép giới
hạn số bệnh nhân bị bệnh Alzheimer, và điều đó, dầu cho loại thuốc chống
cao áp thuộc loại nào. Hai công trình nghiên cứu được công bố trong tạp
chí Neurology dầu sao cũng ủng hộ giả thuyết này, mà các cơ chế vẫn còn
mù mờ.
Từ nhiều năm qua các lý lẽ hợp lại để ủng hộ cho ý tưởng cho rằng các
thuốc chống cao áp sẽ có một tác dụng kềm hãm lên sự phát triển của bệnh
Alzheimer. Vào tháng 10 năm qua, các tác giả của bệnh viện Broca (Paris)
đã quan sát thấy một sự ít suy đồi hơn của các chức năng nhận thức (được
đánh giá bởi các điểm số MMSE) nơi những bệnh nhân Alzheimer đang được
điều trị chống cao áp. Các antagonistes calciques có cả một tác dụng bảo
vệ, nhưng những kết quả này cần phải được xác định bởi những công trình
nghiên cứu so sánh với placebo. Nhóm nghiên cứu Nữu Ước của Hoffman quan
tâm đến vấn đề này bằng con đường cơ thể bệnh lý, và chính xác hơn bằng
sự quan sát sau khi chết những não bộ người.
CƠ THỂ BỆNH LÝ PHÙ HỢP
Công trình nghiên cứu được thực hiện trên 291 bộ não của những người bị
cao huyết áp hay không, và được điều trị hay không bởi các thuốc chống
cao áp. Trên phương diện cơ thể bệnh lý, những não bộ này hoặc bình thường,
hoặc mang những bất thường điển hình của bệnh Alzheimer, không có những
biến chứng nào khác. Số các plaques neurales và mật độ của các neurofibrilles
đã được đánh giá trong những vùng của não bộ. Người ta tạo thành 3 nhóm
: những người bị cao huyết áp được điều trị, những người bị cao huyết
áp không được điều trị, và những người có huyết áp bình thường. Kết quả
rõ ràng: Những não bộ của những người bị cao huyết áp được điều trị có
khoảng 1/3 ít hơn các plaques neurales và neurofibrilles, so với những
não bộ thuộc hai nhóm kia. Điều này làm sáng tỏ một tác dụng khả dĩ có
lợi của các thuốc chống cao áp chống lại các thương tổn cơ thể bệnh lý
liên kết với bệnh Alzheimer.
HIỆU QUẢ TÙY THUỘC VÀO THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ
Nhóm nghiên cứu Hoà Lan của Haag đã theo dõi trong khoảng 12 năm hơn 6.000
bệnh nhân tuổi trung bình 68,4, và tìm kiếm mối liên hệ giữa nguy cơ sa
sút trí tuệ và thời gian điều trị cao huyết áp. Các kết quả không chối
cãi được : việc dùng thuốc chống cao áp đúng là liên kết với một sự giảm
nguy cơ bị sa sút trí tuệ, và chính xác hơn, giảm 8% đối với mỗi năm dùng
thuốc nơi những người 75 tuổi hoặc dưới, và giảm 4% nơi những người trên
75 tuổi.
Nếu việc giải thích hiện tượng này vẫn chưa được biết đến và có lẽ không
nên nghĩ rằng phải điều trị bệnh Alzheimer bằng các thuốc chống cao áp,
dầu sao những dữ kiện này là một lý lẽ bổ sung để đảm bảo việc tuân thủ
điều trị các thuốc chống cao áp. (GENERALISTE 5/3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr51.htm
(TSYH 51, bài số 3)
6/ TRONG ỐNG NGHIỆM, VITAMINE
C CÓ MỘT TÁC DỤNG CHỐNG UNG THƯ
Có lẽ đây là hồi cuối của một cuộc luận chiến. Trong những năm 1970, nhà
hóa học và người được giải Nobel Linus Pauling đã gán cho acide ascorbique
(hay vitamine C) những tính chất chống ung thư. Những ý tưởng này đã gây
nhiều tranh cãi vì thiếu bằng cớ. Thế mà, một nhóm nghiên cứu của Đại
học y khoa Marseille cho thấy rằng vitamine C thật là có những tính chất
chống ung thư. “Công trình nghiên cứu của chúng tôi dựa vào một khám phá
được thực hiện cách nay 5 năm, Michel Fontès đã giải thích như vậy. Acide
ascorbique ức chế sự biểu hiện của gène có liên quan trong bệnh Charcot-Marie-Tooth,
một bệnh thần kinh hiếm”. Lần này, các nhà nghiên cứu đã cấy những tế
bào da người với những nồng độ mạnh vitamine C. Và họ đã quan sát thấy
rằng nhiều gène liên hệ trong sự tăng sinh tế bào, và do đó trong cơ chế
phát sinh ung thư, bị ức chế. Còn hơn thế nữa: các chú chuột bị ung thư
được điều trị với những nồng độ rất mạnh của acide ascorbique hầu như
đã sống sót tất cả, khối u của chúng thoái lui dần và không có di căn
nào được tạo thành. “Bây giờ đây phải dự kiến nhanh chóng các thử nghiệm
trên người”, nhà nghiên cứu đã kết luận như vậy. (SCIENCE
ET VIE 4/2009). Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr117.htm
(TSYH 117, bài số 10).
7/ CUỘC CHIẾN CHỐNG VIRUS
CÚM VƯỢT QUA MỘT BƯỚC QUYẾT ĐỊNH
Một vaccin hữu hiệu mặc dầu những biến đổi theo mùa của virus và một điều
trị hiệu quả chống lại tất cả các dạng cúm ? Hai thách thức này đang được
theo đuổi bởi hai công trình nghiên cứu được thực hiện song hành bởi hai
nhóm nghiên cứu châu Âu và Hoa Kỳ. Nhóm nghiên cứu châu Âu, với căn cứ
ở Laboratoire européen de biologie moléculaire và ở CNRS (Grenoble), đã
nhận diện một “chìa khóa” phân tử cho phép virus buộc những tế bào người
bị nhiễm trùng phải chế tạo các protéine siêu vi trùng. Các nhà sinh học
đã thành công xác định một cách chính xác thành phần acide aminé của chiếc
“chìa khóa” nằm trên một enzyme chung cho tất cả các dạng virus cúm này.
“Một loại thuốc, có tác dụng vô hiệu hóa vùng enzyme này, sẽ là một phương
tiện rất hiệu quả để ngăn chặn nhiễm trùng”, Rob Ruigrok, đồng tác giả
của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. Nhóm nghiên cứu khác,
ở Havard (Boston), vừa mở đường cho một vaccin “vạn ứng” khi khám phá
kháng thể người đầu tiên ngăn cản sự đi vào trong tế bào của các dạng
virus cúm khác nhau. Bằng cách nào ? Bằng cách gắn vào hémagglutinine,
một trong các protéine cấu tạo lớp vỏ của virus.Thế mà, nơi kháng thể
đến gắn vào lại ít chịu các biến dị (mutations). Như thế, kháng thể này
có thể là nguồn gốc của vaccin đầu tiên hiệu quả chống lại một số lớn
virus của bệnh cúm. “ Nhưng việc chế tạo một vaccin như thế sẽ cần nhiều
năm tháng, Jianhua Sui, thuộc Harvard Medical chool, tác giảcủa công trình
nghiên cứu, đã phát biểu như vậy. Và mặc dầu kháng thể này hiện nay nhận
biết các virus của bệnh cúm gia cầm, tuy vậy nó không có khả năng nhận
biết virus liên hệ trong các bệnh cúm xảy ra theo mùa (grippes saisonnières).
“ Tìm kiếm một kháng thể như thế là mục tiêu của công trình sắp đến của
chúng tôi ”, Jianhua Sui đã kết luận như vậy. (SCIENCE
ET VIE 4/2009). Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr115.htm
(TSYH 115, bài số 1)
8/ NƯỚC TIỂU CHO PHÉP ĐÁNH
GIÁ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYỂN
Sarcosine càng hiện diện trong nước tiểu thì ung thư tiền liệt tuyến càng
hung dữ. Các thầy thuốc của đại học Michigan đã khám phá ra rằng acide
aminé này hiện diện với lượng lớn nơi 79% các bệnh nhân bị ung thư di
căn, và 42% các người bệnh được chẩn đoán ở một giai đoạn sớm. Như vậy
sarcosine sẽ là một chỉ dấu để theo dõi tiến triển bệnh tốt hơn nhiều
so với đo nồng độ trong máu (PSA). (SCIENCE ET VIE
4/2009). Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr117.htm
(TSYH 117, bài số 9)
9/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT SỢ LASER
16 bệnh nhân trên thế giới, trong đó 5 bệnh nhân của vùng Angers (Pháp),
trong những tháng vừa qua, đã hưởng được một kỹ thuật có thể cách mạng
hóa điều trị ung thư khu trú của tuyến tiền liệt : photothérapie dynamique,
đã được sử dụng nhất là để chống lại các ung thư da. Được phát động bởi
University College Hospital de Londres, thí nghiệm này được theo đuổi
trong 3 trung tâm khác ở Toronto (Canada), Lille và Angers. Các kết quả
sẽ được biết vào tháng 9.
Trên thực tiễn, đó là làm hoại tử khối u ung thư nhờ cắm vào trong tuyến
tiền liệt các sợi quang học laser (fibres optiques laser), được đưa vào
dưới gây mê tổng quát. “Sự chiếu sáng laser được liên kết với sự cho bằng
đường tĩnh mạch một chất gây nhạy cảm với ánh sáng, dẫn xuất của chlorophylle”,
B.S Abdel Rahmene Azzouri, thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu của CHU d’Angers
đã nói rõ như vậy. Trong vài ngày, tác dụng phối hợp của cặp laser-thuốc
gây nhạy cảm ánh sáng này gây nên sự phá hủy của mô ung thư tiền liệt
tuyến. Điểm độc đáo : ngay trước khi tiêm, ánh sáng của phòng mổ được
giảm bớt rồi các sợi quang học được khởi động trong 20 phút, sau đó bệnh
nhân vẫn trong tranh tối trang sáng vài giờ. “Lợi ích chính yếu so với
các kỹ thuật cổ điển như ngoại khoa, quang tuyến liệu pháp và curiethérapie,
dường như là sự thu giảm các tác dụng phụ như các rối loạn đường tiểu
và sinh dục”, thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu của thành phố Angers đã
xác định như thế. Hiện ông đang bị tràn ngập bởi các yêu cầu của bệnh
nhân trong khi phương thức mới này đang còn ở giai đoạn đánh giá. Không
đau đớn lúc thức dậy, cuộc can thiệp diễn ra ngắn ngủi (30 phút) và các
bệnh nhân có thể về nhà 48 giờ sau, so với 8 ngày sau một phẫu thuật ngoại
khoa. Hẹn tái ngộ vào mùa thu đến để phân tích các kết quả. (SCIENCE
ET AVENIR 4/2009)
10/ ĂN CÁ CẢI
THIỆN THƯƠNG SỐ THÔNG MINH CỦA CÁC THIẾU NIÊN
Ăn cá, đó là điều tốt, dân gian lưu truyền như vậy. Cá giàu các chất mỡ
không bảo hòa hơn thịt và cá chứa các oméga 3 “sophistiqué”, như DHA (acide
docosahexaénoique), mà ta tìm thấy trong cá mỡ (cá ngừ, cá hồi hoang dã,
sardine, cá trích). Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng ăn cá
trong lúc thai nghén làm dễ sự phát triển trí thông minh của thai nhi
hoặc làm chậm sự suy đồi tế bào thần kinh do tuổi tác.
Nhưng một chế độ ăn cá “mạnh” phải chăng cũng có thể có một tác dụng có
lợi đối với người trưởng thành hay các thiếu niên? Đó là điều được gợi
ý bởi một công trình nghiên cứu của bệnh viện đại học Sahlgrenska de Goteborg
(Thụy Điển), được công bố vào tháng ba bởi Acta Paediatrica. Các nhà nghiên
cứu đã phân tích các trị số của thương số thông minh (QI), những khả năng
diễn đạt và định hướng không gian của 3.972 thiếu niên (15 tuổi) người
Thụy Điển, vào năm 2.000, rồi 3 năm sau vào lúc trưng binh nhập ngũ.
Những thiếu niên 15 tuổi, ăn cá ít nhất một lần mỗi tuần, trung bình có
một số điểm 7% cao hơn lúc làm trắc nghiệm thương số thông minh 3 năm
sau, trong khi những trẻ ăn cá hơn một lần mỗi tuần có một điểm số 12%
cao hơn mức trung bình. “Có một mối tương quan rõ ràng giữa sự tiêu thụ
đều đặn cá vào lúc 15 tuổi và những khả năng trí tuệ tốt hơn vào năm 18
tuổi”, giáo sư Kjell Toren, đồng tác giả công trình điều tra đã giải thích
như vậy.
Về mặt các khả năng diễn đạt, các thiếu niên 18 tuổi ăn cá một lần mỗi
tuần vào năm 15 tuổi có các kết quả 4% tốt hơn, và 9% tốt hơn khi chúng
ăn cá hơn một lần mỗi tuần.Về khả năng nhận thức không gian, các con số
lần lượt là 7% và 11%. Công trình nghiên cứu cho thấy rằng hiệu quả này
được quan sát , dầu cho các biến số ảnh hưởng lên các số điểm này như
thế nào đi nữa, như trình độ giáo dục của bố mẹ, sự sung túc hay... thể
trọng của chúng. (LE SOIR 11/3/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (4/4/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |