Thời Sự Y Học số 118
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ BỆNH SỐT RÉT THỂ NÃO ĐƯỢC PHÁT HIỆN NHỜ VÕNG MẠC
Võng mạc, phần nối dài của hệ thần kinh trung ương, có thể giữ chức năng “cửa sổ nhìn vào não bộ”. Chính lúc nhìn qua cửa sổ này mà các nhà nghiên cứu của Bệnh viện đại học hoàng gia Liverpool đã khám phá làm sao và tại sao bệnh sốt rét thể não (malaria cérébrale) đã đều đặn dẫn đến tử vong nơi những người bị bệnh.
Sốt rét thần kinh (neuropaludisme) hay sốt rét thể não (malaria cérébrale) là biến chứng chết người nhất của bệnh sốt rét, mỗi năm gây bệnh cho 300 triệu người và giết chết 1/3 các trường hợp. Bệnh này do một ký sinh trùng (Plasmodium falciparum), được truyền bởi muỗi. Một khi ký sinh trùng Plasmodium falciparum đã vào được trong dòng máu của nạn nhân, nó tấn công các hồng cầu.
Công trình nghiên cứu, vừa mới được công bố trong Journal of Infectious Diseases, tiết lộ rằng hậu quả tử vong của bệnh sốt rét thể não là do sự lắng đọng của những tế bào bị nhiễm ký sinh trùng trong các mạch máu nhỏ, đưa đến sự thiếu oxy hóa của não bộ. Để xác nhận giả thuyết này, các nhà nghiên cứu người Anh, cộng tác với Bệnh viện trung ương Reine Elizabeth de Blantyre ở Malawi, đã xem xét các võng mạc của những bệnh nhân bằng cách sử dụng kỹ thuật chụp mạch máu huỳnh quang (angiographie fluorescente). Kỹ thuật chụp này nhằm tiêm một chất huỳnh quang vào tĩnh mạch trong cánh tay và chụp khi các chất này đi qua những mạch máu của võng mạc.
Những kết quả của các phân tích này chỉ cho thấy rằng 4 trên 5 bệnh nhân có một sự giảm lưu lượng máu nơi các huyết quản nhỏ trong võng mạc của họ. “Chúng tôi đã dùng võng mạc để chẩn đoán những trường hợp sốt rét nghiêm trọng nhưng, nhờ cái cửa sổ nhìn vào trong não bộ này, chúng tôi đã hiểu tại sao bệnh sốt rét thần kinh lại thường gây chết người như vậy”, BS Beare, tác giả đầu tiên của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy.
“Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên cho thấy một cách rõ ràng một sự giảm của lưu lượng máu trong các huyết quản của mắt và xác nhận điều mà các nhà khoa học nghi ngờ: bệnh sốt rét thể não (malaria cérébrale) gây nên một tình trạng thiếu oxy trong não bộ”.
Khám phá này trong tương lai cho phép đôi khi tránh được kết cục tử vong, thí dụ bằng cách kê đơn các thuốc cải thiện tuần hoàn máu nơi những người bị bệnh. (LE SOIR 16/3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr105.htm (TSYH 105, bài số 3)
2/ THUỐC LÁ VÀ MÔ NHA CHU (PARODONTE)
Những tạp chí khác nhau của văn liệu y học, bàn về ảnh hưởng của nhiễm độc thuốc lá lên mô nha chu (parodonte), tràn đầy về vấn đề này : những người hút thuốc phát triển các bệnh nha chu (maladies parodontales) 2-7 lần nhiều hơn. Những công trình nghiên cứu dịch tễ mới đây gợi ý rằng các bệnh nha chu nơi phụ nữ có thai có thể là một yếu tố nguy cơ sinh non hay sinh trẻ thiếu tháng có trọng lượng thấp (prématurés de petit poids). Nhiễm độc thuốc lá cũng được liên kết với một trọng lượng lúc sinh bị giảm. Thuốc lá trong thời kỳ thai nghén làm gia tăng nguy cơ sinh ra các trẻ thiếu tháng có trọng lượng thấp, một cách trực tiếp và qua các bệnh nha chu. So với những bệnh nhân không hút thuốc, những kết quả về lâu về dài của các điều trị mô nha chu (détartrage và surfaçage), ngoại khoa, sự lành sẹo, đặt implants, ít tốt hơn nơi những người hút thuốc.
STRESS OXYDATIF
Có một sự quan hệ giữa mức độ phá hủy mô nha chu, liều lượng và thời gian tiêu thụ thuốc lá. Chính sự tích tụ dần dần của nicotine làm gia tăng nguy cơ xuất hiện hay tiến triển của chứng viêm nha chu (parodontite). Nhiễm độc thuốc lá có một tác dụng môi trường lên mô nha chu (parodonte), lên những biến đổi mô và mạch máu nhiều hơn là lên vi khuẩn chí (microflore). Sự tiến triển của bệnh mô nha chu tùy thuộc vào tính nhạy cảm của mỗi cá nhân, cũng như những yếu tố nguy cơ hay những đồng yếu tố môi trường. Những công trình nghiên cứu khác nhau gần đây gợi ý rằng các chất độc của thuốc lá có thể khởi xướng quá trình sinh bệnh nha chu, qua trung gian của “ stress oxydatif ”, ngay cả trước một quá trình viêm ít quan trọng lúc khởi đầu.
Khi chúng ta biết ảnh hưởng mà các bệnh nha chu có thể có lên phần còn lại của cơ thể (sinh non, tim mạch, đái đường...), chúng ta hiểu một cách dễ dàng rằng một bệnh nhân nghiện thuốc lá còn làm gia tăng thêm các nguy cơ tim mạch do sự suy đồi dần tình trạng mô nha chu của mình. (LE GENERALISTE 5/3/2009).
Chú thích : - Bệnh nha chu (periodontal disease) là bệnh của các mô nâng đỡ và gắn răng, gồm có lợi răng, màng nha chu (periodontal membrane) và xương ổ răng (alveolar bone). Bệnh gây nên do chuyển hóa của mảng vi khuẩn (bacterial plaque) trên bề mặt của các răng tiếp giáp với các mô này. Bệnh nha chu bao gồm viêm lợi răng (gingivitis) và giai đoạn tiến triển hơn là viêm nha chu (periodontitis), dẫn đến sự thành lập các khoang trống giữa lợi và răng (periodontal pockets), mất các sợi gắn răng vào xương hàm, và mất xương. Bệnh phổ biến và là nguyên nhân thông thường nhất gây mất răng nơi người già.Vệ sinh miệng kém là yếu tố góp phần chính.
- Mô nha chu (periodontium) : các mô nâng đỡ và gắn răng, gồm có lợi răng, màng nha chu, xương ổ răng và xi măng (cimentum)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr109.htm (TSYH 109, bài số 8)
3/ HOA KỲ : ĐÈN XANH CHO PHÉP NGHIÊN CỨU TRÊN PHÔI THAI
Bioéthique : Tổng thống Obama đã ký hôm qua một đạo luật cho phép tài trợ công trình nghiên cứu trên những tế bào gốc của phôi thai (cellules souches embryonnaires).
Theo lời hứa lúc tranh cử, Barack Obama đã ký hôm qua một đạo luật cho phép Nhà nước liên bang tài trợ các công trình nghiên cứu về những tế bào gốc phôi thai, bị cấm đoán bởi người tiền nhiệm, tổng thống George W. Bush, từ 9 tháng 8 năm 2001. “Chúng ta sẽ mang lại sự thay đổi mà không biết bao nhiêu nhà khoa học, nhà nghiên cứu, thầy thuốc, bệnh nhân và những thân nhân của họ đã hy vọng trong các năm qua : chúng ta sẽ hủy bỏ việc cấm đoán Nhà nước Liên Bang tài trợ cho công cuộc nghiên cứu đầy hứa hẹn về những tế bào gốc phôi thai”, tổng thống Hoa Kỳ đã tuyên bố như vậy, đồng thời ông đã chống lại clonage người, mà ông đã cho là “nguy hiểm và rất tồi tệ”. Thật vậy, từ gần tám năm nay, các nghiên cứu về phôi thai chỉ có thể được thực hiện với sự giúp đỡ của quỹ tư nhân. Chỉ có những công trình về những tế bào gốc lấy từ các cơ thể của người trưởng thành, không đặt vấn đề về đạo đức, nhưng khó lấy hơn nhiều, mới có thể nhận các quỹ công mà thôi.
Một ngày nào đó, những tế bào gốc có thể cho phép điều trị những bệnh nan y ngày nay. Do khả năng biến đổi thành mọi loại tế bào, các nhà khoa học có ý nghĩ sử dụng chúng để thay thế những tế bào bị thương tổn và như thế cho phép tái tạo các mô và các cơ quan lành mạnh. Nhưng để trích các tế bào “ đa năng ” (cellules pluripotentielles) này, phải phá hủy các phôi thai người. Chính đây đã xảy ra cuộc tranh cãi. Nhất là các đại diện nhà thờ cho rằng phương cách này đi ngược lại đạo đức. Các phôi thai được sử dụng là các túi phôi (blastocystes) thừa mà các cặp vợ chồng đã vứt bỏ đi sau khi thụ thai nhân tạo và chắc chắn sẽ bị hủy diệt.
Cộng đồng khoa học Hoa Kỳ, từ nhiều năm nay lo ngại khi thấy việc nghiên cứu, bị cắt hàng trăm triệu dollars ngân sách nhà nước, bị chậm trễ, đặc biệt đối với Trung Quốc và Nam Triều Tiên, đã chào mừng một cách phấn khởi việc thay đổi chánh sách này. “Hoa Kỳ không có truyền thống cấm đoán, vì những lý do ý thức hệ, một loại nghiên cứu sinh y học mang biết bao nhiêu hứa hẹn để hiểu và điều trị các bệnh nhân”, Irving Weisman, giám đốc của Viện sinh học các tế bào và của y khoa tái tạo của Stanford đã tuyên bố như vậy.Viện này quy tụ nhiều phòng thí nghiệm đã có thể theo đuổi các nghiên cứu nhờ quỹ của tiểu bang Californie.
HY VỌNG “ TRỊ LIỆU HIỆU QUẢ ”
Cơ quan Christopher và Dana Reeve, được thành lập bởi diễn viên bị bại liệt sau khi té ngựa và đã chết cách nay 4 năm, cũng đã tỏ ra phấn khởi về đạo luật sắp đến: “Với việc đưa khoa học ra khỏi chính trị, tổng thống Obama đã giải phóng các nhà nghiên cứu để cho họ có thể thăm dò những tế bào gốc đặc biệt này, để học hỏi từ chúng và để phát triển những liệu pháp có hiệu quả”, chủ tịch cơ quan Christopher và Dana Reeve đã chỉ rõ như thế. Trong hàng ngũ của những người bảo thủ tôn giáo, sáng kiến này được cho là “đạo luật giết người”. “Tin này là một cái tát vào mặt những người Mỹ tin vào nhân phẩm của cuộc sống con người”, Tony Perkins, chủ tịch của tổ chức bảo thủ Family Research Council, đã nổi giận nói như thế. John Boehner, chủ tịch của thiểu số Cộng hòa ở Hạ Viện đã phàn nàn rằng “tiền bạc của người đóng thuế dùng để phá hủy cuộc sống của những người vô tội.” (LE FIGARO 10/3/2009)
4/ TẾ BÀO GỐC ĐIỀU TRỊ CÁC ĐỘT QỤY
Sau một nhồi máu hay một xuất huyết của não bộ, một mô sẹo, được cấu tạo bởi các tế bào chết, thay thế các neurones và các nối kết của chúng và mang lại một sự tật nguyền không thể đảo ngược được. Những công trình nghiên cứu trong lãnh vực này đã đem lại sức sống cho các mô sẹo, và như thế điều trị các nạn nhân bị đột qụy, đồng thời tạo được một bước tiến đáng kể. Mike Modo của King’s College de Londres công bố hôm qua trong Biomaterials những kết quả nơi chuột của một kỹ thuật học đầy hứa hẹn, căn cứ trên những tế bào gốc phôi thai.
Sau khi được tái chương trình hóa để biệt hóa thành những tế bào thần kinh chức năng, những tế bào này được đưa vào trong những viên bi nhỏ xíu (microbilles) bằng plastique, đường kính 1/10 mm. Sau đó hàng ngàn những viên bi bé xíu này được tiêm trực tiếp vào não bộ, ở nơi của vết sẹo thí nghiệm của động vật.
Ý tưởng căn bản là giữ lại tại chỗ những tế bào gốc, thời gian cần thiết để chúng thiết lập những kết nối mới với mô não lành mạnh chung quanh. Thật vậy, những thử nghiệm khác trước đây tiêm trực tiếp những tế bào gốc thần kinh đã không mang lại thành công, những tế bào gốc này “chạy trốn” nhanh chóng trong não bộ. Các nhà nghiên cứu đã đảm bảo rằng các viên bi nhỏ xíu và các thế bào gốc sẽ lấp đầy hốc sẹo. Trong vài ngày, các tế bào tạo thành một mạng lưới, một loại mô não nguyên thủy kết nối với não bộ bình thường. Joe Korner, thuộc Stroke Association, nói : “Sự phát triển của một liệu pháp tế bào cho những người sống sót sau đột qụy chỉ mới ở giai đoạn tiền đề. Cần phải có thời gian và những công trình bổ sung cho những thử nghiệm đầu tiên nơi người.” (LE FIGARO 10/3/2009)
5/ NHIỄM SẮC THỂ 8 VÀ BỆNH SỨT MÔI
Các gène có thể đóng một vai trò quan trọng, hơn điều mà người ta hằng tưởng, trong một dị tật ở mặt, bệnh khe hở môi-hàm-vòm miệng (fente labio-maxillo-palatine), được biết hơn dưới tên bệnh “ sứt môi ” ( “ bec-de-lièvre ” hay harelip), theo một công trình nghiên cứu được công bố trong tạp chí chuyên môn Nature Genetics. Đó là một trong những dị dạng bẩm sinh thường xảy ra nhất sau khi sinh, gây bệnh một trẻ sơ sinh trên 700-1000 ở châu Âu. Các nhà nghiên cứu của Đại học Bonn đã đi đến kết luận này sau khi đã xem xét di sản di truyền (patrimoine génétique) của 462 người có bệnh khe hở môi-hàm-vòm miệng (fente labio-maxillaire-palatine) và di sản di truyền của 950 người không bị bệnh này. Họ đã chứng nhận, trên một phần của nhiễm sắc thể 8, sự hiện diện của một biến thể di truyền thường xảy ra hơn nơi những người bị bệnh sứt môi so với những người khác. (LE SOIR 9/3/2009)
6/ CÀ PHÊ HỮU ÍCH ĐỐI VỚI BỆNH ALZHEIMER
Những người tiêu thụ cà phê trong khoảng 50 năm, có một nguy cơ phát triễn chứng sa sút trí tuệ hay bệnh Alzheimer, thấp hơn so với những người tiêu thụ ít hay không tiêu thụ gì cả.
Các bệnh nhân bị bệnh Alzheimer và bị chứng sa sút trí tuệ, rất là lơ đãng vào lúc khởi đầu của bệnh và sau đó cho thấy một sự suy đồi của các chức năng não bộ của họ. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng việc tiêu thụ caféine cho phép làm chậm sự xuất hiện bệnh Alzheimer và/hoặc làm chậm sự phát triển của nó. Như là, công trình nghiên cứu Canada (Canada Study of Health and Aging), có mục đích chính là phân tích những yếu tố nguy cơ của bệnh Alzheimer. Công trình nghiên cứu này, được thực hiện trên hơn 6.000 người 65 tuổi hoặc hơn, đã cho thấy rằng sự tiêu thụ cà phê cũng như việc tập thể dục đều đặn, làm giảm nguy cơ phát triển bệnh này. HALE, một công trình nghiên cứu dọc của châu Âu, được thực hiện bởi Bogers và các cộng sự viên, đã gợi ý rằng một sự tiêu thụ cà phê mức trung bình, có thể làm giảm các nguy cơ sa sút trí nhớ. Một phân tích méta, được thực hiện năm 2007 bởi Baranco và các cộng sự viên, trong đó mối liên hệ giữa sự tiêu thụ cà phê và nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer đã được xem xét, đã cho thấy rằng chất nước uống này dường như làm giảm nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer. (MAGAZINE DES GLEMS 2/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr112.htm (TSYH 112, bài số 6).
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr111.htm (TSYH 111, bài số 4)
7/ LOẠN NĂNG CƯƠNG LÀ DẤU HIỆU BÁO TRƯỚC CỦA BỆNH TIM ?
Jennifer St Sauver (Mayo Clinic, Rochester, Minnesota) và các cộng sự viên đã thực hiện một công trình nghiên cứu nơi 1.400 người đàn ông từ 40 đến 79 tuổi. Những người này, lúc bắt đầu công trình nghiên cứu, không bị những rối loạn tim. Các nhà nghiên cứu đã chứng nhận rằng những người đàn ông bị các rối loạn cương (troubles érectiles), trong 10 năm theo dõi, đã có một nguy cơ phát triển một bệnh động mạch vành lớn hơn nhiều, ngay cả sau khi đã điều chỉnh những yếu tố nguy cơ khác như bệnh đái đường, chứng béo phì và cao huyết áp. Họ cũng đã nêu nhận xét rằng nguy cơ này rõ rệt cao hơn nơi những người đàn ông bị loạn năng cương (dysfonction érectile) trong lứa tuổi 40. Những người này đã có một nguy cơ mắc bệnh tim hai lần lớn hơn so với những người không có các rối loạn cương. Giá trị tiên đoán những rối loạn cương vào lứa tuổi 50-60 tuổi sẽ là ít hơn và giá trị này sẽ là số không nếu như những rối loạn này xảy ra sau 70 tuổi.
Các rối loạn cương xảy ra khi sự vận chuyển máu đến dương vật bị trở ngại. Những bệnh lý động mạch thường gặp, trước hết được biểu hiện trong những huyết quản nhỏ cung cấp máu cho dương vật và chỉ về sau những động mạch vành mới bị thương tổn. “ Một điều tra phát hiện những yếu tố nguy cơ tim mạch do đó được chỉ định nơi những người trẻ có những rối loạn cương ”, các tác giả đã kết luận như vậy. (LE JOURNAL DU MEDECIN 3/3/2009)
8/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG VÀ CHỨNG BÉO PHÌ : LỖI LÀ DO KHUẨN CHÍ RUỘT
Ở UCL (Université Catholique Louvaine) cũng như ở Gand (Belgique), chính khuẩn chí ruột (flore intestinale) mà các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến. Họ vừa tiết lộ (trong tạp chí quốc tế Gut) vai trò của khuẩn chí ruột trong sự phát triển của chứng béo phì và bệnh đái đường loại 2. G.S Nathalie Delzenne và b.S Patrice Cani (Louvain Drug Research Institute) đã có thể chứng minh rằng các chú chuột béo phì có một khuẩn chí ruột (flore intestinale) có thể làm rối loạn vai trò bảo vệ của ruột và gây nên một phản ứng viêm, nguồn gốc của chứng béo phì và của sự đề kháng với insuline, điều này dẫn đến bệnh đái đường.
Cách nay một năm, họ đã cho thấy rằng một chế độ ăn uống giàu mỡ làm biến đổi thành phần của khuẩn chí ruột và thành phần bị biến đổi này có thể là nguồn gốc của các cơ chế viêm. “Nơi một người lành mạnh, ruột đóng một vai trò bảo vệ rất có hiệu quả chống lại sự đi vào máu của vi khuẩn. Những công trình được thực hiện hôm nay cho thấy rằng khuẩn chí ruột của các động vật béo phì có thể làm biến đổi hàng rào bảo vệ này và gây nên những lỗ thủng vô cùng nhỏ nơi ruột, làm cho thành ruột trở nên thẩm thấu đối với các vi khuẩn”, các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ như vậy. Còn hay hơn nữa, các nhà khoa học đã khám phá rằng có thể tác động lên tính thẩm thấu này của ruột.
“Bằng cách tác dụng lên khuẩn chí ruột của chuột béo phì với những thức ăn probiotique, ta có thể dập tắt hiện tượng này. Các probiotique này làm gia tăng các vi khuẩn có lợi của ruột, các bifidobactéries và lactobacilles, kích thích ruột sản xuất với lượng lớn hơn, một hormone dương tính đối với sức khỏe của mình, GPL-2.” Hormone đặc hiệu này dường như là cái đích phân tử chủ chốt để bảo vệ ruột khỏi bị các vi thủng (microperforations). Các nhà nghiên cứu đã có một thuốc tổng hợp thuộc loại này. Được trắc nghiệm trên chuột béo phì, thuốc tỏ ra hiệu quả để bảo vệ ruột chống lại tính thẩm thấu này và do đó ngăn cản phản ứng viêm. Ngoài ra, nơi chuột béo phì được điều trị như thế, các nhà nghiên cứu cũng ghi nhận một sự giảm khoảng 20% khối lượng cơ thể. (LE SOIR 9/3/2009)
9/ CHỒNG LẠI “ TOC ” : SỰ KÍCH THÍCH NÃO BỘ
B.S Luc Mallet, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần thuộc bệnh viện Pitié-Salpêtrière và nhà nghiên cứu của Inserm (Institut national de la santé et de la recherche médicale) giải thích việc đặt các điện cực trong một trung tâm não bộ cải thiện các triệu chứng ám ảnh (obsessions) và thúc đẩy cưỡng bức (compulsions) nghiêm trọng trong bệnh Toc như thế nào.
Hỏi : Người ta gọi “ TOC ” (trouble obsessionnel compulsif) nghĩa là gì ?
B.S Luc Mallet : đó là rối loạn ám ảnh thúc đẩy (trouble obsessionnel compulsif), một bệnh tâm thần có liên quan đến 2% dân chúng, mà những triệu chứng (ám ảnh lo âu, lo sợ không hợp lý về những lãnh vực của đời sống hàng ngày), làm rối loạn rất nhiều tư duy, cảm xúc. Một vài trong những rối loạn này kèm theo những động tác lặp đi lặp lại quá mức (những loại nghi thức (rituels), mà bệnh nhân thực hiện để làm dịu bớt nỗi lo âu tràn ngập của mình. Một thí dụ thông thường là ám ảnh về sự sạch sẽ (obsession de la propreté), được biểu hiện bởi những sự rửa rất thường xuyên, kế tiếp nhau, hoàn toàn vô ích (đôi khi để tay vào trong máu). Nhưng chứng Toc này có thể có một tầm quan trọng to lớn trong đời sống hàng ngày, tạo nên một phế tật thật sự, một nỗi khổ tâm lý.
Hỏi : Có phải người ta đã khám phá ra nguồn gốc của những rối loạn tâm thần này?
B.S Luc Mallet : Là cơ sở của bệnh Toc, phần lớn được phát hiện ngay thời thơ ấu hay tuổi thiếu niên, người ta đã nhận diện một loạn năng (dysfonctionnement) của một mạng lưới thần kinh não bộ có nhiệm vụ điều hành các hành vi (comportements).
Hỏi : Đến nay, điều trị cổ điển của các chứng Toc này là gì ?
B.S Luc Mallet : Từ hai chục năm nay, để điều trị, người ta phối hợp vài tâm lý liệu pháp và một điều trị bằng các thuốc chống trầm cảm. Với phương thức này, 70% các bệnh nhân có được một sự cải thiện và do đó đạt được một chất lượng sống tốt hơn. Ngay cả vài bệnh nhân đã được chữa lành. Nhưng nơi 30% bệnh nhân đề kháng với điều trị, người ta có thể nhờ đến những liệu pháp khác và trong trường hợp thất bại mãi, người ta phải nhờ đến sự kích thích não bộ (stimulation) (1% các trường hợp).
Hỏi : Làm sao người ta đã có ý nghĩ nhờ đến kỹ thuật kích thích não bộ (technique de stimulation cérébrale) đối với các bệnh nhân Toc ?
B.S Luc Mallet : Trong lúc theo dõi những bệnh nhân bị bệnh Parkinson đồng thời cũng bị bệnh Toc, người ta đã nhận thấy rằng kỹ thuật ngoại khoa kích thích sâu trong não bộ (technique chirurgicale de stimulation cérébrale profonde) có một tác dụng có lợi, không chỉ trên những triệu chứng Parkinson, mà còn trên cả bệnh Toc nữa.
Hỏi : Can thiệp này diễn biến như thế nào ?
B.S Luc Mallet : Phương thức này nhằm cắm những điện cực bé xíu vào trong não (bằng stéréotaxie qua những lỗ nhỏ) cho đến tận vùng dưới đồi (sous-thalamus), mà không cần mở hộp sọ. Việc xác định mục tiêu (ciblage) được thực hiện bằng chụp ảnh não bộ và với sự hướng dẫn điện sinh lý (guidage électrophysiologique) của hoạt động của các tế bào thần kinh. Các điện cực được nối bằng một dây cáp rất mảnh, đến một máy tạo nhịp (pacemaker) được thiết đặt dưới da (nơi ngực, dưới xương đòn hay trong bụng). Các điện cực này sẽ phát ra một dòng điện rất khu trú, sẽ biến đổi hoạt động của các mạng lưới não bộ, có liên hệ trong sự xuất hiện của những ám ảnh thúc bách (obsessions compulsives), là triệu chứng của bệnh Toc này. Bệnh nhân được làm ngủ vào lúc bắt đầu can thiệp rồi được đánh thức dậy để người ta có thể ghi được tốt nhất hoạt động neurone. Vào cuối điều trị, bệnh nhân được làm ngủ trở lại. Liệu pháp kích thích não bộ (thérapie de stimulation) này, hoàn toàn không đau đớn, kéo dài từ 4 đến 6 giờ.
Hỏi : Những kết quả được quan sát với kỹ thuật stéréotaxie này là gì ?
B.S Luc Mallet : Ở Pháp, dưới sự chỉ đạo của Assistance Publique- Hôpitaux de Paris, một công trình nghiên cứu (mà tôi đã chỉ đạo), đã được thực hiện trong 10 CHU, trên 16 bệnh nhân, tất cả bị bệnh rất nặng, sau khoảng 18 năm đau khổ vì bệnh này.Tình trạng của 2/3 trong số những bệnh nhân Toc đã được cải thiện một cách đáng kể, với một chất lượng sống tốt hơn và, đối với một vài bệnh nhân, sau cùng có được khả năng sống một cuộc sống bình thường.
Hỏi : Những nguy cơ của can thiệp này là những nguy cơ nào ?
B.S Luc Mallet : đó là những nguy cơ ngoại thần kinh : có một nguy cơ rất thấp (dưới 1%) xuất huyết não và một nguy cơ nhỏ bị nhiễm trùng pacemaker, có thể lan đến các điện cực. Do đó, điều quan trọng là nên dành giải phẫu này cho những trường hợp nghiêm trọng nhất. (PARIS MATCH 18/12-24/12/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr104.htm (TSYH 104, bài số 4)
10/ NHỮNG NGƯỢC ĐÃI TRONG THỜI THƠ ẤU GHI DẤU ẤN LÊN NÃO BỘ
Những ngược đãi nơi trẻ em trong thời thơ ấu làm biến đổi đáp ứng hormone đối với stress và làm gia tăng nguy cơ tự tử. Đó là điều đã được chứng minh bởi một nhóm nghiên cứu người Canada. Các nhà nghiên cứu đã phân tích những mẫu nghiệm của hồi hải mã (hippocampe) lấy nơi những người đã tự tử và đã có những tiền sử bị ngược đãi trong thời thơ ấu. Patrick McGowan và các cộng sự viên đã nhận thấy những biến đổi trong biểu hiện di truyền của thụ thể đối với glucorticoides (NR3C1). Những biến đổi này không xảy ra nơi những người đã tự tử nhưng đã không bị loại ngược đãi này lúc còn nhỏ. Công trình nghiên cứu được thực hiện trên 36 người : 12 đã là nạn nhân của những lạm dụng tình dục hay vật lý (abus sexuels ou physiques), 12 đã tự tử nhưng không có những tiền sử bị ngược đãi trong thời thơ ấu và 12 đã chết tự nhiên. Thụ thể NR3C1 chỉ xảy ra trong đáp ứng với stress mà thôi.
Đối với các tác giả, những kết quả của họ cho thấy rằng những ngược đãi mà các trẻ đã chịu đựng trong thời thơ ấu, được ghi sâu đậm trong não bộ và những cơ chế biểu lộ của mật mã di truyền có thể bị biến đổi bởi những điều kiện sống trong tuổi ấu thơ. (LE JOURNAL DU MEDECIN 3/3/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (19/3/2009)

Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com


>>>back>>>

Tin Mới Y Học