Thời Sự Y Học số 116
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ SAU CÙNG NGƯỜI TA ĐÃ TÌM RA VACCIN NGỪA BỆNH LỴ TRỰC TRÙNG SHIGELLA
Chẳng bao lâu nữa, người ta sẽ có thể ngăn ngừa được bệnh lỵ trực trùng Shigella (shigellose), bệnh ỉa chảy gây chết người nhất trên thế giới hay không ? Đó là điều được báo trước bởi những thử nghiệm được tiến hành với vaccin cho bằng đường miệng SC599. Được phát triển bởi Viện Pasteur và Inserm, vaccin này đã được trắc nghiệm một cách thành công trên 111 người tình nguyện. Một hy vọng chống lại bệnh lỵ trực trùng Shigella, giết hại gần 1 triệu trẻ em mỗi năm và đề kháng với các kháng sinh. “ SC599 làm hoạt hóa một đáp ứng miễn dịch trong ruột mà không phát động quá mạnh phản ứng của cơ thể ”, Marie-Lise Gougeon, thuộc Viện Pasteur đã giải thích như vậy. Những tác dụng bảo vệ khả dĩ của SC599 chỉ có thể được xác nhận trên hiện trường. “ Trong thử nghiệm sắp đến, chúng tôi sẽ cho hai liều thay vì một để làm gia tăng tỷ lệ những người đáp ứng. Giai đoạn tiếp theo sẽ là trắc nghiệm nơi các trẻ em trong vùng bị dịch ”, Marie-Lise Gougeon đã xác nhận như thế. Được xác định như là một ưu tiên bởi Tổ chức y tế thế giới, công trình nghiên cứu vaccin chống bệnh lỵ trực trùng bị kềm hãm do thiếu mô hình động vật, do đó buộc phải thực hiện những thử nghiệm trực tiếp trên người. (SCIENCE ET VIE 3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr67.htm (TSYH 67, bài số 4)
2/ NHỮNG THÓI QUEN XẤU LÀM TĂNG GẤP ĐÔI NGUY CƠ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Sự phối hợp 4 thói quen của đời sống lành mạnh được liên kết với một sự giảm đáng kể của nguy cơ tai biến mạch máu não. Các nhà nghiên cứu người Anh, Phyo Myint và các cộng sự viên, đã nghiên cứu các thói quen của đời sống trên một nhóm 20.000 người tham gia vào công trình nghiên cứu EPIC (European Prospective Investigation of Cancer), ở Norfolk.
20.000 đàn ông và phụ nữ, tuổi từ 40 đến 79, không có tiền sử tai biến mạch máu não hoặc nhồi máu cơ tim, đã được theo dõi trong khoảng 11 năm (từ 1993-7 đến 2007).
Suốt trong thời kỳ này, những người không có một thói quen đời sống lành mạnh nào, đã bị nguy cơ tai biến mạch máu não 2 lần cao hơn những người đã tôn trọng chúng : tập thể dục đều đặn (hoặc công việc hoạt động, không nhàn rỗi), không hút thuốc, ăn mỗi ngày ít nhất 5 suất trái cây và rau xanh, và uống có mức độ. Nguy cơ mắc phải tai biến mạch máu não gia tăng tùy theo số những thói quen ít lành mạnh.
Đối với các tác giả, những kết quả của họ xác nhận ý tưởng, theo đó những khác nhau nhỏ trong phong cách sống, giản dị và dễ thực hiện, có thể có một hậu quả không phải là nhỏ lên nguy cơ tim mạch.
“ Sự biến đổi của những thói quen của đời sống trong dân chúng nói chung, có một tác động làm giảm những mối nguy cơ bị tai biến mạch máu não, quan trọng hơn so với sự biến đổi của những yếu tố nguy cơ mạnh hơn như hẹp động mạch cảnh (sténose carotidienne) và rung nhĩ (fibrillation auriculaire) trong một nhóm nhỏ người ”. Matthew Giles đã phát biểu như vậy trong một bài báo. (LE JOURNAL DU MEDECIN 27/2/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr66.htm (TSYH 66, bài số 4)
3/ ALZHEIMER : MỘT THUỐC ĐỂ ĐIỀU TRỊ ?
Rember, một thuốc đang được nghiên cứu chống lại bệnh Alzheimer, đã trải qua một cách thành công những trắc nghiệm đầu tiên trên người. Thật vậy, Claude Wischick và nhóm nghiên cứu của ông thuộc đại học Aberdeen (Ecosse), đã chứng tỏ rằng loại thuốc này, được cho trong 50 tuần, sẽ kềm hãm sự tiến triển của bệnh, nơi những người bị những thể nhẹ đến trung bình. Tính độc đáo của Rember là nơi cách tác dụng của nó. Thuốc tác động lên một đường thần kinh có liên hệ trong sự thoái biến của các neurone (đường protéine tau), một hướng đến nay ít được thăm dò bởi các công trình nghiên cứu. Loại thuốc mới này có thể được thương mãi hóa ngay năm 2.012. Tuy nhiên các chuyên gia thích tỏ ra thận trọng hơn. Một công trình nghiên cứu trên một số lượng bệnh nhân lớn hơn (thử nghiệm giai đoạn 3) sẽ phải xác nhận xem những hy vọng mang lại bởi loại thuốc này có đúng là có cơ sở hay không. (READER’ S DIGEST 3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr90.htm (TSYH 90, bài số 4)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr113.htm (TSYH 113, bài số 4)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr101.htm (TSYH 101, bài số 2)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr100.htm (TSYH 100, bài số 3)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr51.htm (TSYH 51, bài số 3)
4/ STRESS VÀ CÁC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM LÀM DA BỊ LÃO HÓA SỚM
Dermatologie : Một công trình nghiên cứu trên các chị em sinh đôi phát hiện tác dụng không thể tranh cãi của ánh nắng mặt trời, thuốc lá, nhưng cũng điều mà ta ít nghĩ đến, của stress và sự sử dụng các thuốc chống trầm cảm.
Cuộc đấu tranh để chống lại sự lão hóa của da trong các nuớc giàu có đã trở thành một trong những cuộc đấu tranh được chia sẻ nhất bởi các phụ nữ, nhưng cũng bởi đàn ông. Có lẽ bởi vì đó là chỉ dấu rõ rệt nhất của thời gian trôi qua trong một xã hội đặt giá trị lên tuổi thanh xuân và sắc đẹp. Sự lão hóa đã được liên kết với một hiện tượng nội tại không đảo nghịch được, ảnh hưởng lên tất cả các tế bào của cơ thể với thời gian, gồm cả những tế bào da. Nhưng sự lão hóa này cũng liên quan với lối sống và môi trường.
Vào ngày 3/2, tạp chí Hoa Kỳ Plastic et Reconstructive Surgery đã công bố, trên site Internet của mình, những kết quả sơ khởi của một công trình nghiên cứu, so sánh dạng vẻ của gương mặt của những chị em sinh đôi với lối sống của họ. Từ đó rút ra được một số yếu tố, mà chúng ta đã biết, liên quan với sự lão hóa, như ánh nắng mặt trời, thuốc lá và rượu. Nhưng sự kiện mới là công trình này cũng phát hiện vai trò của stress và của sự sử dụng các thuốc chống trầm cảm.
Công trình nghiên cứu được tiến hành trên 186 cặp trẻ sinh đôi nữ, được tuyển mộ vào năm 2006, từ Festival hàng năm của các trẻ sinh đôi, được diễn ra ở Twinsburg (Ohio). “ Công trình nghiên cứu các trẻ sinh đôi là đặc biệt hữu ích trong nghiên cứu sự lão hóa của da, bởi vì các trẻ sinh đôi được chương trình hóa về mặt di truyền để già theo cùng phương cách. Những khác nhau dạng vẻ bên ngoài của chúng mang lại những chìa khóa để hiểu môi trường và lối sống có thể biến đổi nó như thế nào ”, BS Bahman Guyuron, tác giả công trình nghiên cứu, trưởng khoa giải phẫu thẩm mỹ của bệnh viện đại học Cleveland đã giải thích như vậy.
Trong thời gian đầu, các nhà nghiên cứu đã chụp các hình của mỗi chị em sinh đôi và đã yêu cầu một nhóm chuyên gia độc lập gán cho mỗi chị em sinh đôi số tuổi. Sau đó họ đã hỏi mỗi một người tham dự để biết một cách chính xác lối sống, chế độ ăn uống, chứng nghiện thuốc lá, chứng trầm cảm, sự tiếp xúc với ánh nắng mặt trời...Và sau cùng, các nhà nghiên cứu đã đặt tương quan mỗi cặp sinh đôi, tuổi với lối sống.
NHỮNG KẾT QUẢ ĐẾN NAY CHƯA TỪNG CÔNG BỐ
Chứng nghiện thuốc lá và sự tiếp xúc với ánh sáng mặt trời là hai yếu tố của sự lão hóa của da đã được biết đến và được xác nhận bởi công trình này. Các tác giả đã có thể tính toán rằng 10 năm hút thuốc lá làm già đi 2,5 tuổi, so với người sinh đôi không hút thuốc. Công trình này cũng đã phát hiện những kết quả chưa từng có. Bị stress thường xuyên là một yếu tố của sự lão hóa. Cũng vậy, những trẻ sinh đôi ly dị, trung bình có vẻ già hơn hai tuổi so với chị hay em có chồng hay góa bụa. Sự tiêu thụ các thuốc chống trầm cảm cũng được liên kết với một dạng vẻ “ già ” hơn, mặc dầu không có thể nói đó là hậu quả của chứng trầm cảm hay của các thuốc chống trầm cảm.
Thật đáng ngạc nhiên, công trình nghiên cứu này tiết lộ một mối liên hệ giữa sự lão hóa mặt và thể trọng. Đối với những phụ nữ dưới 40 tuổi, một sự thặng dư thể trọng (surpoids) được liên kết với một gương mặt già hơn. Sau 40 tuổi, cũng sự tăng thể trọng này lại cho một dạng vẻ trẻ hơn. Kết luận của BS Guyuron : mất quá nhiều trọng lượng sau tuổi 40 là có hại cho vẻ quyến rũ vật lý tác động lên những người khác. Điều trị chứng mãn kinh cải thiện dạng vẻ bên ngoài, nhưng chỉ sau hơn 16 năm điều trị, trong khi chúng ta biết rằng điều trị này làm gia tăng nguy cơ ung thư vú sau 5 năm.
Loại công trình nghiên cứu này luôn luôn tập trung vào phái nữ. Trong khi các ông cũng càng ngày càng ngắm nghía vẻ mặt của mình một cách âu lo. BS Guyuron đã hứa với tờ New York Times rằng ông sẽ thực hiện cùng công trình nghiên cứu, nhưng lần này trên những trẻ sinh đôi nam giới. (LE FIGARO 17/2/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr65.htm (TSYH 65, bài số 9)
5/ CHECK-LIST LÀM GIẢM MỘT NỬA TỶ LỆ TỬ VONG Ở PHÒNG MỔ
Hàng không không phải là ngành duy nhất cho phép làm giảm số tai nạn. Đó cũng là trường hợp trong các phòng mổ. Một danh sách đơn giản các câu hỏi được đặt ra một cách hệ thống cho kíp mổ đã cho phép chia đôi tỷ lệ tử vong và làm giảm những biến chứng từ 11% xuống còn 7%.
NHỮNG NƯỚC GIÀU VÀ NHỮNG NƯỚC NGHÈO
Công trình nghiên cứu đã được tiến hành trên 7.600 bệnh nhân được nhập viện trong các khoa ngoại của 8 bệnh viện nằm trong những nước giàu cũng như nghèo (Canada, Hoa Kỳ, Tân Tây Lan, Anh, Phi Luật Tân, Ấn Độ, Tanzanie, Jordanie). Và trái với mọi dự kiến, các kết quả thật bổ ích ở Seattle cũng như ở Manille. Tuy vậy, 19 đề mục của danh sách kiểm tra (check-list) được thiết lập bởi OMS, thật hết sức đơn giản. Xác nhận căn cước của bệnh nhân, đảm bảo rằng mọi dụng cụ và kíp mổ được chuẩn bị đầy đủ...
“Các phẫu thuật viên đã tin chắc là đã làm tất cả những kiểm tra này, nhưng thực hiện chúng bằng cách nói lớn giọng với toàn bộ kíp mổ đã tỏ ra đáng tin cậy hơn”, Bryce Taylor, thầy thuốc ngoại khoa và nhà nghiên cứu ở Toronto đã giải thích như vậy. Nếu danh sách kiểm tra (check-list) là biện pháp có hiệu quả như vậy, đó là bởi vì nó tránh cho kíp mổ việc quên cho kháng sinh hay các thuốc chống đông, kiểm tra các dự trữ máu và các dị ứng của các bệnh nhân. Nhưng không chỉ có thế. Ở Pháp, mỗi năm có từ 30 đến 40 người đã bị mổ nhầm bên không phải mổ, Jacques Maurette, chủ tịch của Hiệp hội của các thầy thuốc ngoại khoa Pháp nhắc lại như vậy. Mặc dầu ông nhấn mạnh sự hiện diện trong vài khoa phòng của một công tác “dán nhãn ghi tên” (étiquetage) bệnh nhân, đặc biệt để xác định căn cước và nơi cần phải mổ. 4 trong các nước đã trắc nghiệm check-list, đã loan báo rằng họ sẽ phổ biến khám phá này. Những nước khác, trong đó có Pháp, hẳn phải nhanh chóng theo gương này. Các phẫu thuật viên sẽ không có lựa chọn nào khác: các bệnh nhân sẽ từ chối không cho mổ nếu kíp mổ đã không thông qua check-list”, Bryce Taylor đã tiên đoán như vậy. (SCIENCE ET VIE 3/2009)
6/ HỆ MIỄN DỊCH ĐÓNG MỘT VAI TRÒ TRONG BỆNH PARKINSON
Bằng cách thâm nhập vào trong não bộ, các tế bào của hệ miễn dịch, các tế bào lympho T, góp phần vào việc phá hủy các neurone bị thương tổn trong bệnh Parkinson.
Có phải hệ miễn dịch đã góp phần trong sự xuất hiện của bệnh Parkinson, bệnh lý thoái hóa thần kinh đứng thứ hai sau bệnh Alzheimer ? Chính lúc xem xét não bộ của những bệnh nhân bị chết bởi bệnh này mà các nhà nghiên cứu người Pháp của Inserm và của đại học Pierre-et Marie Curie ở Paris đã đi đến ý nghĩ đó : Các neurone, bị phá hủy bởi bệnh Parkinson, và chỉ có chúng mà thôi, bị bao vây bởi những tế bào lympho T. Mà những tác nhân quan trọng này của hệ miễn dịch thường ít xuất hiện trong mô thần kinh. Đi từ điều chứng thực này, nhóm nghiên cứu của Stéphane Hunot đã tiếp tục công cuộc điều tra trên chuột, với mô hình phỏng lại một phần căn bệnh : lại nữa, bài báo được công bố trong The Journal of Clinical Investigantion đã báo cáo như vậy, các tế bào lympho T đã thâm nhập xung quanh các neurone à dopamine, là những tế bào thần kinh đặc biệt bị nhắm đến trong bệnh lý này. Những chú chuột không có các tế bào lympho T hoạt động, đã không bị bệnh, điều này lại còn thắt chặt mối nghi ngờ về những tế bào miễn dịch này. “ Chúng tôi đã chứng tỏ rằng các neurone có cái chết được chương trình hóa (apoptose hay mort programmée) trong thời gian bị bệnh. Và bây giờ chúng tôi biết rằng các tế bào lympho T đúng là có khả năng phát động cái chết được chương trình hóa này.”
Tại sao một sự kịch liệt như thế ? Chưa ai biết được điều đó, nhưng khi hơn 40% các neurones à dopamine chết, các bệnh nhân biểu hiện những triệu chứng đầu tiên của bệnh Parkinson, do một sự kiểm soát cơ bị suy yếu : run các chi, cứng cơ, các cử động chậm lại. “ Để đi đến đúng những nơi mà não bộ bị thương tổn, các tế bào lympho T phải nhận một tín hiệu vào (signal d’accès), phát xuất từ các huyết quản kế cận.Từ nay, mục tiêu của chúng tôi là làm vô hiệu hóa tín hiệu này để phong bế sự phá hủy các neurone bởi hệ miễn dịch.” Và như thế làm chậm lại sự tiến triển của thương tổn neurone. (SCIENCES ET AVENIR 3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr105.htm (TSYH 105, bài số 7)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr65.htm (TSYH 65, bài số 10)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr51.htm (TSYH 51, bài số 6)
7/ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA CỦA BỆNH ĐỘNG KINH : THÊM MỘT CƠ MAY
B.S Francine Chassoux (thầy thuốc thần kinh) và G.S Bertrand Devaux (thầy thuốc ngoại thần kinh), bệnh viện Sainte-Anne, đã giải thích những lợi ích của phương pháp ngoại khoa, được công bố trong tạp chí “ Neurochirurgie ”.
Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của bệnh động kinh ?
B.S Francine Chassoux : Bệnh lý này được thể hiện bởi các cơn lặp lại, có thể được biểu hiện bởi những triệu chứng gây bất hoạt khác nhau. Khi bệnh kéo dài, các bệnh nhân bị gây phế tật nghiêm trọng trong đời sống gia đình, xã hội và nghề nghiệp của họ. Mỗi cơn động kinh tương ứng với một loại phóng điện quá mức, được phát ra trong não bộ bởi một nhóm neurone. Sự phóng điện này có thể vẫn khu trú (gây nên những rối loạn thần kinh xảy ra ngắn hạn và thay đổi), và khi đó người ta nói là động kinh bán phần (épilepsie partielle) (60% các trường hợp), hay lan ra toàn thể não bộ và khi đó gọi là động kinh toàn thể (épilepsie généralisée) (40% các trường hợp), được thể hiện một cách nghiêm trọng, thí dụ với các co giật, tăng tiết nước bọt và hôn mê kéo dài vài phút.
Hỏi : Thường thường làm sao điều trị hai dạng động kinh này ?
B.S Francine Chassoux : Đối với những bệnh nhân bị các cơn động kinh toàn thể, người ta kê đơn một điều trị chống động kinh bằng đường miệng.Với điều trị này, hiện nay người ta thu được 80% những kết quả tốt với sự biến mất của các cơn. Những bệnh nhân phát triển những cơn bán phần (crises partielles), có thể được điều trị với cùng những thứ thuốc hay những thuốc của một loại khác. Trong trường hợp này, những kết quả tốt thường không vượt quá 60%. Nơi những người động kinh đề kháng với điều trị, người ta thường khám phá thấy một thương tổn não bộ như là một bất thường bẩm sinh, một khối u hiền tính hay một vết sẹo
Hỏi : Thế thì trong trường hợp nào người ta có thể giải phẫu.
B.S Francine Chassoux : Người ta chỉ có thể mổ những bệnh nhân động kinh có những cơn bán phần (crises partielles). Và trước khi giải phẫu, cần thực hiện một bilan toàn bộ, gồm có điện não đồ kết hợp với vidéo, IRM, TEP (tomographie par émission de positons) để định vị vùng phát sinh động kinh khởi đầu các cơn. Để có thể lấy đi bằng phẫu thuật vùng gây động kinh này, phải có 3 tiêu chuẩn không thể thiếu được. 1. Sự hiện diện chỉ một ổ gây động kinh. 2. Một vùng vỏ não được khu trú và tuơng đối nhỏ. 3. một định vị có thể tiếp cận, được phân biệt với một vùng não bộ rất có chức năng.
Hỏi : Những kỹ thuật khác nhau nào được sử dụng đối với những bệnh nhân đề kháng với thuốc ?
B.S Francine Chassoux : Có 4 kỹ thuật chính. 1. Ngoại khoa cổ điển cắt bỏ bằng mở sọ (chirurgie de résection “à crâne ouvert”) (cortectomie), là thông thường nhất. 2. Ngoại khoa phá hủy nhắm đích (chirurgie de destruction ciblée) bằng ngoại quang tuyến (radiochirurgie) hay nhiệt đông (thermocoagulation), đối với những thương tổn nhỏ nằm ở trung tâm não bộ và đối với những bệnh nhân không muốn chịu ngoại khoa cổ điển. 3. Ngoại khoa tách nối (chirurgie de déconnection), nhằm cô lập vùng bị thương tổn với phần còn lại của não bộ. Phương pháp này được áp dụng cho các ổ gây động kinh quá rộng nên không thể lấy ra được. 4. Ngoại khoa điều biến (chirurgie de modulation), được thực hiện trong trường hợp chống chỉ định của những phương pháp trước. Phương pháp này nhằm chống lại sự phát sinh các phóng điện (décharges électriques) chịu trách nhiệm các cơn (bằng cách cắm một điện cực nơi cổ, nối với một bộ phận dẫn nhịp).
Hỏi: Những kết quả thu được với tất cả những kỹ thuật khác nhau này là những kết quả nào?
B.S Francine Chassoux : Những kết quả được đặt tương quan với các định vị và các nguyên nhân. Với kỹ thuật cắt bỏ cổ điển, người ta đã thành công hủy bỏ các cơn trong 60 đến 90% các trường hợp. Với sự phá hủy nhắm đích (destruction ciblée) bằng ngoại quang tuyến (radiochirurgie), những kết quả có vẻ tương đương. Kỹ thuật nhiệt đông (thermocoagulation) đang được đánh giá. Những kết quả của ngoại khoa tách nối (chirurgie de déconnection) thì thay đổi : nơi vài bệnh nhân người ta hủy bỏ được các cơn trong 70% các trường hợp. Kỹ thuật điều biến (technique de modulation) làm giảm 50-90% các triệu chứng nhưng không chữa lành bệnh.Theo ý tôi, còn quá ít các bệnh nhân được gởi đến các kíp chuyên môn ngoại khoa này, và nhất là quá chậm. Ở Pháp, trên 12.000 ứng viên lý thuyết, người ta chỉ mổ 400 trường hợp mỗi năm, trong đó khoảng 100 trẻ em ! (PARIS MATCH 19-25/2/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr108.htm (TSYH 108, bài số 4)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr98.htm (TSYH 98, bài số 3).
8/ CÁC TẾ BÀO GỐC : THỬ NGHIỆM ĐẦU TIÊN ĐƯỢC CHO PHÉP Ở HOA KỲ
FDA (cơ quan y tế Hoa Kỳ) đã đồng ý cho một thử nghiệm lâm sàng nơi người với những tế bào gốc phát xuất từ phôi thai người. Được hưởng thử nghiệm này là những nạn nhân của một chấn thương tủy sống đã đưa đến bại liệt hoàn toàn các chi dưới, từ dưới 14 ngày. Chính sự chết của các neurone vận động kiểm soát các cơ đã gây nên bại liệt, sau một chuỗi các biến cố trong đó nối tiếp nhau những đụng giập, các phản ứng viêm với sự phóng thích các phân tử độc hại và sự phá hủy những tế bào nâng đỡ. Thử nghiệm nhằm tiêm các tế bào gốc (cellules souches) vào trong tủy xương, ở nơi bị thương tổn, với hy vọng những tế bào gốc này sẽ thay thế những tế bào suy yếu và sẽ tạo nên những kết nối thần kinh (connexions nerveuses) mới. Nơi động vật, người ta đã thu được những kết quả rất tốt. Các chuyên gia vẫn tỏ ra hoài nghi về những cơ may thành công trên người. (PARIS MATCH 19-25/2/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr105.htm (TSYH 105, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr99.htm (TSYH 99, bài số 7)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr58.htm (TSYH 58, bài số 8)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr55.htm (TSYH 55, bài số 1)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr54.htm (TSYH 54, bài số 1)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr52.htm (TSYH 52, bài số 9)
9/ BỆNH NHÂN ĐẦU TIÊN NHẬN MỘT MŨI TIÊM CÁC TẾ BÀO GỐC VÀO TIM
Còn gây chết người hơn ung thư, suy tim là nguyên nhân đầu tiên của tử vong trên thế giới.
Ở châu Âu, suy tim gây bệnh cho 6 triệu người và giết chết một bệnh nhân trên hai trong 5 năm sau chẩn đoán khởi đầu.
Trong số những nguyên nhân của suy tim, nhồi máu cơ tim (phá hủy một phần của tim) là nguyên nhân thông thường nhất. “ Cơ tim được tưới máu bởi các động mạch vành ; những động mạch này có thể bị xơ vữa (athérosclérose) và bị bít do sự tạo thành của một cục máu đông. Khi điều này xảy đến, phần của tim không còn được tưới máu sẽ chết, điều này làm giảm khả năng bơm của cơ tim. Đến nay, chỉ có những điều trị làm giảm tạm (traitements palliatifs) chống lại căn bệnh này”, B.S Christian Homsy, thuộc “Cardio 3 BioSciences” (Bỉ) đã giải thích như vậy. Cơ quan này, chuyên môn về liệu pháp tế bào (thérapies cellulaires) để điều trị các bệnh tim mạch, hôm nay phát động một công trình nghiên cứu lâm sàng để trắc nghiệm sự an toàn và tính hiệu quả của sự tiêm các tế bào gốc sinh tim (cellules souches cardiopoiétiques) để điều trị nhồi máu cơ tim, một đầu tiên trên thế giới !.
Kết quả của nhiều năm nghiên cứu, được tiến hành ở Mayo Clinic de Rochester (Hoa Kỳ) và ở Trung tâm tim mạch Alost (Bỉ), liệu pháp thế hệ mới này nhằm lấy các tế bào gốc tủy xương của bệnh nhân và chương trình hóa chúng để trở thành những tế bào tim, trước khi tiêm chúng vào trong phần hoại tử của tim. “ Tuần qua, ở Alost (Bỉ), những bệnh nhân đầu tiên đã nhận mũi tiêm, và khoảng một chục những trung tâm tim mạch khác ở Bỉ, ở Thụy Sĩ và ở Đức sẽ theo công trình nghiên cứu lâm sàng này ”, Christian Homsy đã phát biểu như vậy. Bây giờ đây phải để cho các tế bào trẻ có thời gian tăng trưởng để tái tạo lại cơ tim bị suy yếu. “ Nơi chuột, sự tăng sinh này cần khoảng 2 tháng, như thế chúng ta hẳn sẽ có thể quan sát những kết quả đầu tiên trên các bệnh nhân từ nay đến 3 hay 4 tháng, BS Homsy đã xác nhận như thế. Nếu những trắc nghiệm lâm sàng này được chứng rõ, liệu pháp tế bào này sẽ xuất hiện trên thị trường vào năm 2012. (LE SOIR 3/3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr80.htm (TSYH 80, bài số 9)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr56.htm (TSYH 56, bài số 8)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr53.htm (TSYH 53, bài số 7)
10/ ĐÁI ĐƯỜNG THAI NGHÉN : PHẢI PHÁT KHỞI CHUYỂN DẠ.
Bệnh đái đường thai nghén (diabète gestionnel), một tình trạng bất dung nạp (intolérance) đối với glucose xảy ra trong thời kỳ thai nghén, có thể gây nên những biến chứng cho bà mẹ, và cũng cho đứa trẻ vào lúc sinh. Như một công trình phân tích méta đã xác nhận, phát khởi chuyển dạ thường tốt hơn là chờ đợi sinh đẻ xảy ra tự nhiên. Như thế giảm được nguy cơ thai nhi có trọng lượng quá mức, và do đó nguy cơ sinh có biến chứng, trong đó vai không thể dinh bồn được mặc dầu đầu đã qua lọt. (SCIENCES ET AVENIR 3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr63.htm (TSYH 63, bài số 9)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(6/3/2009)


Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com


>>>back>>>

Tin Mới Y Học