Thời Sự Y Học số 115
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ MỘT KHÁNG THỂ NGƯỜI ĐỂ CHỐNG LẠI CÁC BỆNH CÚM
Các công trình nghiên cứu trên chuột, dầu có đầy hứa hẹn như thế nào đi nữa, còn sẽ phải được xác nhận trên người.
Một nhóm nghiên cứu nhiều chuyên khoa của Havard Medical School (Boston, Massachusetts) và của Centers for Disease Control and Prevention (Atlanta, Georgia) vừa công bố trong tạp chí Anh Nature Structural and Molecular Biology những kết quả thí nghiệm đáng phấn khởi trong cuộc đấu tranh chống lại các virus của bệnh cúm.
Công trình này hiện nay được giới hạn vào lãnh vực thực nghiệm động vật: nhóm của các nhà sinh học Hoa Kỳ đã khám phá một kháng thể người có khả năng, lúc thí nghiệm trên chuột, trung hòa nhiều loại (sous-types) của virus cúm, gồm cả H5N1, chịu trách nhiệm dịch cúm gia cầm rất gây bệnh, lưu hành khắp nơi trên thế giới từ 2.003.
Đối với cộng đồng khoa học có liên quan của Pháp, trong tình trạng ấy, không có gì có thể cho phép nghĩ rằng những kết quả sơ khởi này một ngày nào đó có thể chuyển vị trên lâm sàng người, cũng như cho phép nghĩ rằng một thuốc chủng “vạn ứng” (vaccin universel) có thể thật sự được hiệu chính để chống lại bệnh cúm.
Mặt khác, phải nhắc lại rằng một thử nghiệm lâm sàng, trên những người tình nguyện lành mạnh, của một kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal) cùng loại, Supermab, hữu ích chống lại các ung thư, năm 2005 đã đưa đến thảm kịch, 6 người tình nguyện phải nhập viện hồi sức với suy cấp tính nhiều cơ quan, suýt chết sau khi đã nhận một mũi thuốc duy nhất (mặc dầu được trắc nghiệm thành công trên động vật).
NGHIÊN CỨU VACCIN VẠN ỨNG
Có 250.000 tử vong vì cúm mỗi năm trên thế giới. Mỗi năm, virus biến dị, tái phối hợp, học cách đề kháng lại các thuốc chống virus, được chế tạo để chống lại chúng. Một trận đại dịch trên người sắp đến, dầu là do sự nhân hóa (humanisation) của virus H5N1 gia cầm hay do một biến dạng của virus A, đã được đợi chờ từ lâu.
Mỗi năm, Tổ chức y tế thế giới hội họp các chuyên gia để quyết định về thành phần của vaccin sẽ ngăn ngừa cúm hay đúng hơn những biến chứng cúm vào lúc mùa đông. Với những chỉ thị này của các chuyên gia, các nhà chế tạo có vài tháng để cấy, lọc, điều chế và đưa ra sử dụng hàng triệu liều vaccin. Mỗi năm, sau khi xem xét những tần số được quan sát và sự lưu hành của các virus sinh bệnh đối với người, phải chế tạo lại một vaccin mới, vì lẽ vaccin của năm trước không còn hiệu quả, virus cúm đã thay đổi. Như vậy một vaccin vạn ứng sẽ thể hiện một bước tiến quan trọng.
Các virus của bệnh cúm người là những virus loại A: chúng được xếp loại tùy theo hai trong các protéine bề mặt với những vai trò rất khác nhau. Hémagglutinine (H) làm virus đi vào trong các tế bào của ký chủ. Có 16 loại phụ. Neuraminidase (N), cho phép virus, vốn tăng sinh trong những tế bào này, đi ra khỏi chúng để đi gây nhiễm trùng những tế bào khác, có 9 loại khác nhau. Số các phối hợp lớn đến độ việc hiệu chính một vaccin có hiệu quả là một bài toán nhức đầu thật sự.
Cho mãi đến ngày nay, không có thể nhận diện một bộ phận khá hằng định của virus có thể được dùng làm kháng nguyên để chế tạo một vaccin vạn ứng chống lại chúng. Thế mà, đó là điều vừa mới được thực hiện. Kháng thể mới có khả năng cố định trên một vùng của héagglutinine cần thiết cho sự phối hợp của vỏ virus với tế bào người. Vậy kháng thể chống lại cái “gót chân Achille” của siêu vi trùng. Được tiêm vào chuột, kháng thể tỏ ra có khả năng vô hiệu hóa tất cả virus của nhóm N1 được trắc nghiệm, gồm cả H5N1 của các loài chim.
Tiếc thay, kháng thể đã không thể tác động chống lại các virus người H3, thường là nguyên nhân trong các trận dịch xảy ra theo mùa. Chính H3N2 đã gây nên trận đại dịch cúm Hong kong năm 1968.
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr101.htm (TSYH 101, bài số 7)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr97.htm (TSYH 97, bài số 4)
(LE FIGARO 24/2/2009) (LE SOIR 24/2/2009)
2/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG : CHẲNG BAO LÂU NỮA SẼ ĐƯỢC PHÁT HIỆN BẰNG NƯỚC BỌT
Những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã khám phá ra rằng nước miếng của những bệnh nhân đái đường loại 2 (đái đường béo), loại đái đường phổ biến nhất, bị biến đổi nhiều so với những người lành mạnh : 65 protéine trong nước miếng của những bệnh nhân đái đường hiện diện hai lần thường hơn so với những người không bị đái đường. Một xét nghiệm phát hiện nhanh theo dự kiến có thể được thực hiện. (PARIS MATH 19-25/2/2009)
3/ UNG THƯ : CHỈ MỘT LY RƯỢU CŨNG ĐỦ LÀM TĂNG NGUY CƠ.
Alimentation. Được biến đổi trong cơ thể thành chất sinh ung thư, cồn (alcool) làm gia tăng 168% khả năng bị ung thư miệng, hầu và thanh quản.
Đây là một tin xấu đối với những kẻ thích uống rượu, dầu chỉ một tí ít thôi, và nghĩ rằng như vậy là “phải chăng”. Thật vậy, những công trình nghiên cứu mới đây cho thấy rằng không có sự tiêu thụ rượu nào mà không có nguy cơ bị ung thư. Như là, sự việc chỉ uống một ly rượu vang mỗi ngày cũng đủ để làm gia tăng nguy cơ này từ 9% lên đến 168% tùy theo định vị của ung thư. Hôm qua, các giáo sư Dominique Maraninchi, giám đốc của viện ung thư quốc gia, và Didier Houssin, tổng giám đốc y tế, đã trình bày một cuốn sách mỏng dành cho các thầy thuốc và đưa ra những lời khuyến nghị ăn uống để phòng ngừa ung thư Những lời khuyến nghị này, được căn cứ trên một báo cáo quốc tế năm 2007, đã phân tích hơn 7000 điều tra khoa học, nhấn mạnh vào mối liên quan giữa rượu và ung thư. Khoảng 10,8% các ung thư nơi đàn ông và 4,5% nơi phụ nữ là do rượu.
Trong những năm 1990, nước uống này đã được xem như là có lợi cho sức khỏe nếu uống với liều lượng nhỏ. Nhưng thời thế đã thay đổi. Những nguy cơ liên kết với những liều lượng nhỏ sóng điện từ, dioxine, hoạt động phóng xạ là đối tượng của những bàn cãi và âu lo mạnh mẽ trong xã hội. Nguy cơ mắc phải ung thư liên kết với sự tiêu thụ một hay hai ly rượu vang mỗi ngày có vẻ rõ ràng và không hề là đối tượng của một tranh cãi nào. Ngay cả những lợi ích của rượu vang lên tim cũng bắt đầu bị xét lại.
Các nước uống cồn (boissons alcoolisées) được liên kết với một sự gia tăng của các ung thư của miệng, của hầu, của thanh quản, của thực quản, của đại trực tràng, của vú và của gan. Nguy cơ gia tăng với lượng tiêu thụ. Một ly rượu được tiêu thụ mỗi ngày làm gia tăng 168% nguy cơ bị ung thư miệng, hầu và thanh quản, làm gia tăng 28% nguy cơ ung thư thực quản, 10% nguy cơ ung thư vú và 9% nguy cơ ung thư đại tràng.
WHISKY, RƯỢU VANG HAY BIA
Sự gia tăng nguy cơ là đáng kể bắt đầu từ một ly mỗi ngày, Paul Martel, nữ giám đốc nghiên cứu của Inra đã giải thích như vậy hôm qua. Hậu quả tùy thuộc vào lượng cồn tiêu thụ và không tùy thuộc vào loại nước uống cồn. Một ly cồn (alcool) tương ứng với 3 centilitres whisky, với 10 centilitres rượu vang hay champagne, với 25 centilitres bia...
Làm sao cồn làm gia tăng nguy cơ bị ung thư? Một báo cáo năm 2007 của Viện ung thư quốc gia đã trình bày vấn đề này. Như là, rượu hay éthanol được biến hóa trong cơ thể thành acétaldéhyde, một phân tử được công nhận là chất sinh ung thư nơi người, chủ yếu bởi một enzyme, ADH (alcool déshydrogénase), hiện diện trong gan, nơi miệng... Acétaldéhyde cuối cùng được thải bởi một enzyme khác. Tuy nhiên nồng độ của phân tử sinh ung thư là acétaldéhyde này có thể tồn tại rất lâu trong cơ thể nơi những người uống rượu nhiều hay nơi những người được chương trình hóa về mặt di truyền để làm thoái hóa rất chậm acétaldéhyde. Rượu cũng tác dụng trực tiếp, tại chỗ (lên miệng, hầu, thanh quản, thực quản) như một chất dung môi (solvant), làm gia tăng tính thẩm thấu của các niêm mạc đối với những chất gây ung thư như thuốc lá. Điều này giải thích tác dụng hiệp đồng của hai yếu tố này. Năm 2007, Trung tâm quốc tế chống ung thư đã xếp loại cồn (alcool) trong loại các tác nhân gây ung thư đối với người.. (LE FIGARO 18/2/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr103.htm (TSYH 103, bài số 8)
4/ UNG THƯ VÚ : HAI CƠ CHẾ ĐƯỢC LÀM SÁNG TỎ.
Lần lượt kế tiếp nhau, hai công trình nghiên cứu về ung thư vú đã được công bố bởi các nhóm nghiên cứu Canada. Công trình nghiên cứu đầu tiên, được công bố trong Journal of Biological Chemistry, đã được tiến hành trong các đại học Montréal và Alberta. Công trình này đã cho phép khám phá một protéine liên kết với sự tiến triển của ung thư vú. Được đặt tên là ARF1, protéine này đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của các tế bào ung thư và sự lan tràn của các khối u. “Chúng tôi đã nghiên cứu các ung thư có khả năng xâm nhập cao (cancers hautement invasifs) không thể điều trị bằng hormone liệu pháp. Trong lúc nghiên cứu một dòng tế bào, chúng tôi đã chứng thực rằng protéine này là siêu biểu hiện. Sự phong bế hoạt tính của nó bằng một thủ thuật hóa học đã cho phép làm giảm sự di chuyển và tăng trưởng của các tế bào ung thư vú.”. Cùng cơ chế đã được quan sát trong hai dòng tế bào khác, xác nhận hiệu quả của ARF1 và mở đường cho một hướng điều trị.
Cũng hy vọng ở đại học Sherbrooke, nơi đây Sherif Abou Elela và nhóm nghiên cứu đã phát hiện những chất chỉ dấu phân tử (marqueur moléculaire) cũng có liên quan trong sự tiến triển của ung thư vú. Lúc so sánh ARN từ những mẫu nghiệm ung thư vú và lành mạnh, các nhà nghiên cứu đã phân lập được 41 chất chỉ dấu phân tử liên kết với ung thư vú tác động lên sự vận hành chức năng và tỷ suất tiết của các protéine. Việc phát hiện những protéine này cho phép xác nhận sự hiện diện của một khối u sinh ung thư và chẳng bao lâu khám phá ra loại và tính hung hãn của nó. (SCIENCES ET AVENIR 3/2009)
5/ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CANNABIS VÀ UNG THƯ TINH HOÀN
Epidémiologie : Những người tiêu thụ chất ma túy này có nguy cơ bị ung thư tinh hoàn hai lần nhiều hơn. Tần số của bệnh này cũng tăng gấp đôi trong 30 năm qua.
Người 7 lần vô địch giải vòng quanh nước Pháp Lance Amstrong, cũng như các đàn ông từ 20 đến 60 tuổi, nạn nhân của một ung thư tinh hoàn, sẽ thích thú khám phá những kết quả được công bố hôm qua bởi tạp chí Cancer, liên kết sự tiêu thụ cannabis và bệnh ung thư tinh hoàn. Stephen Schwartz và nhóm nghiên cứu của Fred Hutchinson Cancer Research Center, Seattle (Washington) đã khám phá ra rằng những người hút đều đặn cannabis có một nguy cơ gia tăng 70% bị loại ung thư này, mặc dầu khá hiếm (2.000 trường hợp mới năm 2005, ở Pháp) nhưng tần số xảy ra tăng gấp đôi trong 30 năm. Những ung thư tinh hoàn có một tiên lượng rất tốt: 60% đến 70% những thể nặng và 100% những thể ít nặng nhất được chữa lành
Các nhà nghiên cứu đã hỏi 369 người đàn ông từ 18 đến 44 tuổi bị ung thư tinh hoàn, về sự tiêu thụ của họ hiện nay và trong quá khứ. Họ đã so sánh những câu trả lời của những người này với câu trả lời của 979 người khỏe mạnh.Những người hút các joint de haschich ít nhất một lần mỗi tuần từ tuổi dậy thì, sẽ có hai lần nguy cơ phát triển một ung thư tinh hoàn hơn là những người đã không bao giờ hút cả.
NHỮNG THỤ THỂ ĐẶC HIỆU
“Công trình nghiên cứu của chúng tôi không phải là công trình nghiên cứu đầu tiên gợi ý rằng lối sống hay môi trường có thể là những yếu tố nguy cơ đối với ung thư này, nhưng là công trình đầu tiên quan tâm một cách đặc biệt đến cannabis”, Stephen Schwartz đã tuyên bố hôm qua như vậy. Những công trình nghiên cứu về sự ô nhiễm bởi các thuốc trừ sâu nơi các nhà nông hay những công trình nghiên cứu về lối sống của những người sinh đôi thật sự của Phần lan, đã thăm dò loại những yếu tố môi trường này mà không có kết quả nhiều. Tinh hoàn là một trong những cơ quan duy nhất của cơ thể (cùng với não bộ) chứa các thụ thể đặc hiệu (récepteurs spécifiques) của tétrahydrocannabinol, chất hoạt tính của cannabis. Sự nghiên cứu một mối liên hệ giữa ung thư của cơ quan này với việc sử dụng cannabis là việc hoàn toàn được biện minh.
Nhưng nhiều câu hỏi được nêu lên về công trình nghiên cứu mới này của Hoa Kỳ. Trước hết, mối liên kết mạnh nhất cannabis-ung thư là mối liên kết của những khối u mầm (tumeurs germinales). Thế mà những ung thư này được thể hiện chủ yếu vào tuổi ấu thơ, trước năm 7 tuổi. “ Và chính rõ ràng vào thời kỳ rất sớm trong tử cung mà những tế bào mầm (cellules germinales), những tế bào sau đó sau khi sinh sẽ trở thành các tinh trùng, bắt đầu biến hóa thành ung thư. Thế thì vai trò của cannabis trong những thể ung thư này là gì ?
Ngược lại, những ung thư thường xảy ra nhất của tinh hoàn, các séminome, xuất hiện bắt đầu từ 35 tuổi và cho đến 60 tuổi. Những người đàn ông này sẽ có rất nhiều thời gian để tích lũy một sự tiếp xúc rất đáng kể đối với cannabis, trong nhiều thập niên. Những tần số xuất hiện của các séminome này (“mọc chậm”) lại không có một mối liên hệ đáng kể nào về mặt thống kê với việc sử dụng cannabis. Những yếu tố nguy cơ “nặng” được biết từ lâu : các ung thư trong gia đình, tinh hoàn không xuống (cryptorchidie : tinh hoàn ẩn) hay thương tổn trong thời thơ ấu của cơ quan mỏng manh này. (LE FIGARO 10/2/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr39.htm (TSYH 39, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr38.htm (TSYH 38, bài số 10)
6/ ĐA SINH TỐ VÀ BỆNH TẬT
Nhiều phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh uống đa sinh tố (multivitamin) vì tin rằng chúng giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch hay ung thư, nhưng một công trình nghiên cứu lớn đã nhận thấy rằng không phải là như vậy. Những công trình nghiên cứu trước đây đã có những kết quả hỗn hợp, vài người gợi ý rằng đa vitamin cho bổ sung được liên kết với một sự giảm nguy cơ đối với vài loại ung thư, những người khác thì nhận thấy ít hoặc không có tác dụng.
Đối với những điều phát hiện mới, được công bố trong số tháng hai của The Archives of Internal Medicine, các nhà nghiên cứu đã phân tích các dữ kiện từ 68.132 phụ nữ được tuyển mộ trong một thử nghiệm lâm sàng và 93.676 trong một công trình nghiên cứu quan sát. Họ đã theo dõi các phụ nữ trong một thời gian trung bình khoảng 8 năm để nghiên cứu những hiệu quả trên sức khỏe của đa sinh tố. Sau khi đã kiểm tra về tuổi tác, hoạt động vật lý, lịch sử gia đình về ung thư và nhiều yếu tố khác, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng đa vitamin cho bổ sung đã không có hiệu quả lên nguy cơ đối với ung thư vú, ung thư đại trực tràng, ung thư nội mạc tử cung (endometrial cancer), ung thư phổi, ung thư buồng trứng, nhồi máu cơ tim, đột qụy, đông máu hay tỷ lệ tử vong.
“Những người tiêu thụ xài tiền cho các chất bổ sung thức ăn với ý nghĩ rằng chúng sẽ cải thiện tình trạng sức khỏe của họ, nhưng không có bằng cớ về những hiệu quả này”, Marian L. Neuhouser, tác giả lãnh đạo công trình và là nhà dịch tễ học dinh dưỡng của Fred Hutchinson Cancer Research Center ở Seattle đã phát biểu như vậy. “Mua nhiều trái cây và rau xanh hơn có thể là một chọn lựa tốt hơn”. (INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 12/2/2009)
7/ BỆNH BẠCH CẦU TIỀN TỦY BÀO (LEUCEMIE PROMYELOCYTAIRE) : HƯỚNG VỀ MỘT ĐIỀU TRỊ CHỮA LÀNH VĨNH VIỄN
G.S Hugues de Thé (bệnh viện Saint-Louis) giải thích tác dụng của điều trị mới chống lại bệnh bạch cầu tiền tủy bào (leucémie promyélocytaire), mà nhóm nghiên cứu của ông và chính ông đã góp phần hiệu chính.
Hỏi : Ông có thể mô tả cho chúng tôi dạng bệnh bạch cầu được gọi là tiền tủy bào (leucémie promyélocytaire) này ?
G.S Hugues de Thé : Bệnh bạch cầu (leucémie) là một bệnh ung thư, được đặc trưng bởi một sự tăng sinh của những tế bào ác tính trong tủy xương và máu. Có rất nhiều thể, trong đó bệnh bạch cầu cấp tính tiền tủy bào (leucémie aigue promyélocytaire), tiến triển nhanh, đặc biệt nghiêm trọng, gây bệnh cho mọi lứa tuổi (khoảng 100 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp).
Hỏi : Làm sao xác lập một cách chắc chắn chẩn đoán bệnh bạch cầu tiền tủy bào (leucémie promyélocytaire) này ?
G.S Hugues de Thé : Người ta có thể nghi ngờ sự hiện diện của một bệnh bạch cầu (leucémie) do sự kéo dài dai dẳng của vài triệu chứng lâm sàng, như vô cùng mỏi mệt và chảy máu. Sau đó để có một chẩn đoán chính xác, người ta thực hiện lấy tủy xương (prélèvement de la moelle osseuse) để phân tích các loại tế bào. Bình thường, nơi một người lành mạnh, các tế bào thuộc những loại khác nhau, trong khi trong trường hợp bệnh bạch cầu, tất cả các tế bào đều giống nhau. Những tế bào có vẻ còn rất non, “ không chín mùi ” (immature). Trong trường hợp bệnh bạch cầu tiền tủy bào (leucémie promyélocytaire), dạng vẻ của những tế bào này là đặc biệt : thí dụ chúng có một nhân rất lớn và nhiều hạt. Chúng mang một bất thường đặc hiệu của hai nhiễm sắc thể.
Hỏi : Những giai đoạn khác nhau chống lại bệnh bạch cầu tiền tủy bào là gì ?
G. S Hugues de Thé : Khởi đầu, tiên lượng bệnh rất là đặc biệt u tối. Dạng bệnh bạch cầu này là một trong những dạng hung dữ nhất. Vào năm 1973, G.S Jean Bernard lần đầu tiên chứng tỏ một hiệu quả tương đối của một hóa học trị liệu cho phép chữa lành khoảng 30% các trường hợp. Về sau này, bắt đầu từ 1985, những công trình của các nhóm nghiên cứu khác nhau Trung quốc và Pháp, đã cho thấy rằng một hormone, acide rétinoique, một mình đã gây nên những đợt thuyên giảm ly kỳ nhưng tạm thời, với 100% tái phát. Các công trình nghiên cứu của G.S Laurent Degos đã cho phép xác lập rằng, khi acide rétinoique được kết hợp với hóa học liệu pháp, ta thu được tỷ lệ chữa lành 70%.
Hỏi : Thế thì nguyên nhân của 30% tái phát là gì ?
G. S Hugues de Thé : Đó là do sự tồn tại của vài tế bào gốc ung thư (cellules souches cancéreuses) hiếm hoi. Tôi thường so sánh tế bào gốc ác tính này với ong mẹ của một đàn ong. Chừng nào mà chúng ta không giết được ong mẹ, thì đàn ong vẫn còn có thể tái tạo trở lại...
Hỏi : Ông và nhóm nghiên cứu đã thành công hiệu chính được điều gì để trừ khử các tế bào gốc ung thư này ?
G. S Hugues de Thé : Sau nhiều nghiên cứu, chúng tôi đã nhận thấy rằng nếu ong mẹ vẫn tồn tại, đó là nhờ sự tồn tại của một protéine đặc biệt (PML-RAR), được sản xuất từ bất thường của hai nhiễm sắc thế. Vậy chúng tôi hiểu rằng bằng cách tiêu diệt protéine này, chúng ta sẽ giết được ong chúa.
Hỏi : Trong thực tiễn, điều trị nào đã được thực hiện ?
G. S Hugues de Thé : Hai loại thuốc, mỗi loại nhằm vào một nửa của protéine gây hại. Một là acide rétinoique, và loại thuốc kia là một dẫn xuất của arsenic. Hai loại thuốc này, khi được cho cùng nhau, sẽ cho phép một sự hủy hoại hoàn toàn mục tiêu mà chúng nhắm đến, và như thế làm biến mất các tế bào gốc ung thư.
Hỏi : Những kết quả đã thu được là những kết quả nào ?
G. S Hugues de Thé : Chúng tôi đã có được rất nhiều trường hợp chữa lành nơi động vật (chuột). Những nhóm nghiên cứu khác, một ở Trung Quốc (ở bệnh viện Thượng Hải) và một ở Hoa Kỳ (ở viện MD Anderson, Houston), đã thực hiện những thử nghiệm lâm sàng trên khoảng một trăm bệnh nhân bị thể bệnh bạch cầu này. Những kết quả nơi người đã có thể so sanh với những kết quả thu được nơi động vật : sau 5 năm, người ta quan sát thấy một tỷ lệ lành bệnh 95%. Thường thường, sau một điều trị cổ điển, những tái phát xảy ra trong hai năm. Quan niệm của chúng tôi nhằm giết chết những tế bào gốc ung thư (cellules souches cancéreuses) bằng cách phá hủy các protéine làm cho chúng sống, có thể trở nên một chiến lược chung đối với những thể khác của bệnh bạch cầu và cũng có lẽ đối với những loại ung thư khác. (PARIS MATH 29/1-4/2/2009)
8/ NHỮNG TRẺ SINH NON TRỞ THÀNH NHỮNG THIẾU NIÊN CÓ NGUY CƠ
Những công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy rằng những trẻ quá sinh non (grands prématurés) có một nguy cơ quan trọng bị rối loạn nhận thức và tâm thần vận động (troubles cognitifs et psychomoteurs) trong thời thơ ấu. Những dữ kiện mới nhất của các sổ ghi Thụy Điển, trên hơn 500.000 người, xác nhận rằng sự sinh non được liên kết với một sự gia tăng nguy cơ bị các rối loạn tâm thần cần nhập viện nơi thiếu niên. Nguy cơ loạn tâm thần, toan tính tự tử hay hành vi nghiện ngập từ 8 đến 30 tuổi, càng lớn khi tuổi thai nghén càng thấp.
So sánh với điều mà chúng ta quan sát đối với những người sinh đủ tháng, nguy cơ nhập viện khoa tâm thần gia tăng hơn 50% đối với một tuổi thai nghén 24 đến 32 tuần và 20% đối với một tuổi thai nghén 33 đến 36 tuần. Đối với những trường hợp sinh non nhẹ (tuổi thai nghén từ 37 đến 38 tuần), nguy cơ vẫn trên 8%. (SCIENCES ET AVENIR 3/2009)
9/ VITAMINES E VÀ C KHÔNG CÓ MỘT LỢI ÍCH NÀO TRONG CÁC BỆNH TIM MẠCH
Vitamine E và C là những chất dinh dưỡng sinh tử. Nhưng chúng có mang lại một tác dụng bảo vệ chống lại các bệnh tim mạch hay không ? Nhiều người nghĩ rằng có : thật vậy những chất này có những tính chất chống oxy hóa. Nhiều dữ kiện rút ra từ những công trình nghiên cứu khoa học và những nghiên cứu quan sát đã chỉ cho thấy một tác dụng tiềm năng có lợi của những chất chống oxy hóa (antioxydants) như vitamine C trong phòng ngừa nguyên phát những bệnh tim mạch. Tuy nhiên mãi đến ngày nay, không có một nghiên cứu lâm sàng nào đã chứng minh một cách thuyết phục một vai trò bảo vệ như thế của vitamine E và C.
Công trình nghiên cứu PHS II (Physicians’ Health Study II) đã được tiến hành để xác định xem việc cho vitamine E hay vitamine C có cho phép về lâu về dài làm giảm nguy cơ bị bệnh tim mạch quan trọng nơi những người đàn ông có nguy cơ tim mạch tương đối thấp hay không. Ở Hoa Kỳ, 14.641 các thầy thuốc nam giới đã tham gia vào công trình nghiên cứu này. Họ đã được phân chia thành nhiều nhóm. Những người tham gia đã nhận hoặc là vitamine E (400 đơn vị alpha-tocophérol), hoặc một placebo mỗi 2 ngày và hoặc vitamine C (500 mg acide ascorbique), hoặc một placebo mỗi ngày. Họ cũng đã nhận một chế phẩm đa vitamine hoặc một placebo mỗi ngày, cũng như bêta-carotène (50 mg Lurotin) hay một placebo mỗi 2 ngày.
Công trình nghiên cứu đã bắt đầu năm 1997 và được theo đuổi cho đến tháng tám năm 2007. Thời gian theo dõi trung bình là 8 năm. Những kết quả hiện có liên quan đến vitamine E và vitamine C. Vào lúc bắt đầu công trình nghiên cứu, những người tham gia trong lứa tuổi 50 hoặc hơn. Tiêu chuẩn đánh giá là sự xuất hiện một biến cố tim mạch quan trọng : nhồi máu cơ tim không gây tử vong, tai biến mạch máu não không gây tử vong hay chết do nguyên nhân tim mạch.
KẾT LUẬN - Công trình nghiên cứu PHS II cho thấy rằng việc cho bổ sung vitamine C và/hay vitamine E không được liên kết với một sự giảm các biến cố tim mạch quan trọng nơi những người đàn ông 50 tuổi hoặc hơn, ít nhất với liều lượng được sử dụng và suốt trong một thời kỳ theo dõi 8 năm. Vitamine E ngoài ra được liên kết với một tỷ lệ tai biến mạch máu não xuất huyết hơi gia tăng. Những kết quả này trên nguyên tắc chỉ có giá trị đối với những người thuộc loại tuổi này. Những nhà nghiên cứu kết luận rằng việc cho những chất bổ sung vitamine E và C để ngăn ngừa các bệnh tim mạch nơi những người đàn ông trên 50 tuổi không được biện minh về mặt khoa học. (LE JOURNAL DU MEDECIN 16/1/2009)
10/ CÀ PHÊ ĐÃ TÁC DỤNG SAU 10 PHÚT
Một công trinh nghiên cứu được tiến hành bởi những nhà nghiên cứu Tây Ban Nha cho thấy rằng caféine có những tác dụng ở đàn ông quan trọng hơn so với phụ nữ. Mặt khác, hiệu quả của cà phê đã xuất hiện 10 phút sau khi uống. Do đó caféine có một hiệu quả tức thời. Những công trình nghiên cứu trước đã cho thấy rằng sự cảnh tỉnh (vigilance) bắt đầu gia tăng 30-45 phút sau khi đã uống một ly cà phê, còn công trình nghiên cứu này chứng minh rằng cà phê tác dụng nhanh hơn. “45 phút, đó là thời gian cần thiết để đạt nồng độ cực đại của caféine trong máu, nhưng chỉ sau vài phút một nửa nồng độ này đã đạt được”, các nhà nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Theo vài chuyên gia, hiệu quả của cà phê kéo dài từ 2 đến 3 giờ, nhưng đối với những chuyên gia khác, hiệu quả này có thể kéo dài 4-5 giờ, tùy theo tính nhạy cảm và chuyển hóa cá nhân, thay đổi rất nhiều theo tuổi.
Ana Adan và các cộng sự viên cũng đã muốn biết xem décaféiné (cà phê không có caféine) có đúng là không có những tác dụng kích thích hay không : Họ đã quan sát nhận thấy rằng tác dụng của déca cũng được thể hiện bằng một sự gia tăng sự cảnh tỉnh và tác dụng này hơi đáng kể hơn nơi các phụ nữ. Đối với các tác giả, cần đánh giá xem đó chỉ là những tác dụng chủ quan hay chúng thật sự có một ảnh hưởng lên hiệu năng.
Để thực hiện công trình nghiên cứu này, các tác giả đã nghiên cứu tác dụng của cà phê expresso và của déca expresso, chứa lần lượt 100mg và 5 mg caféine. Họ yêu cầu 668 sinh viên đại học (tuổi trung bình 22) uống các loại cà phê này, và họ đo hiệu quả lên tình trạng ngủ gà và hoạt động 10, 20 và 30 phút sau khi tiêu thụ, vào hai buổi, một buổi sáng (11-13 giờ ) và một buổi chiều (16-18 giờ) (LE JOURNAL DU MEDECIN 16/1/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (26/2/2009)

Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com


>>>back>>>

Tin Mới Y Học