 |
Thời
Sự Y Học số 114
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ MỐI LIÊN HỆ GIỮA HORMONE VÀ
UNG THƯ VÚ ĐƯỢC XÁC NHẬN
MÃN KINH : Một công trình nghiên
cứu mới xác nhận rằng điều trị mãn kinh bằng hormone làm gia tăng nguy
cơ bị ung thư vú.
Ngăn ngừa sự lão hóa của da, chống lại chứng loãng xương, chống lại các
bệnh tim-mạch : điều trị chứng mãn kinh bằng hormone (oestrogène và progestérone),
đã được tô điểm bởi tất cả các tính chất tốt bắt đầu từ những năm 1960-1970.
Phải cần đến 20 năm mới có thể làm chấp nhận rằng không những phép điều
trị này đã không đáp ứng với tất cả các mong chờ, mà ngoài ra nó còn làm
gia tăng ung thư vú. Tuy vậy những điều tra được công bố vào cuối những
năm 1980 đã cho thấy một mối nguy cơ như thế. Dầu sao đi nữa, ở Pháp,
vẫn luôn luôn có nhiều bàn cãi để biết xem loại hormone nào ảnh hưởng
lên mức độ nguy cơ ; để xem có phải sự gia tăng của ung thư vú được quy
cho điều trị, thật ra đó chỉ là do một hiệu quả “phát hiện” bởi chụp tuyến
vú (mammographie), được thực hiện thường xuyên hơn nơi các phụ nữ được
điều trị bởi hormone; để biết xem phải chăng các hormone chỉ đóng một
vai trò làm dễ trong sự phát triển một ung thư vốn đã có sẵn ...Vài thầy
thuốc vẫn còn khó mà tin được những mối nguy hiểm của các hormone, và
những thầy thuốc khác vẫn tin chắc rằng những lợi ích dùng hormone để
điều trị chứng mãn kinh vượt quá những nguy cơ gặp phải.
Năm 2002, sau những năm tranh cãi, những kết quả đầu tiên của một công
cuộc điều tra rất rộng lớn của Hoa Kỳ, được gọi là “Women Health Initiative”
(WHI), so sánh những phụ nữ mãn kinh được điều trị bằng hormone với các
phụ nữ không được điều trị, đã cho thấy một cách không tranh cãi được,
một nguy cơ bị ung thư vú gia tăng nơi các phụ nữ dùng hormone thay thế.
Sự công bố này được thể hiện bởi nỗi thất vọng và sự mất hứng thú đối
với điều trị chứng mãn kinh bằng hormone khắp nơi trên thế giới. Các phụ
nữ phần lớn đều từ bỏ điều trị hormone, ở châu Âu, Hoa Kỳ và ở Úc đại
lợi. Ngay những năm 2005-2006, các thống kê trong nhiều nước, đặc biệt
ở Pháp, ở Hoa kỳ, ở Úc đã cho thấy một sự giảm không phải là ít những
tỷ lệ mắc phải ung thư vú sau khi ngừng điều trị hormone thay thế.
Ý nghĩ đầu tiên cho rằng sự giảm tỷ lệ mắc phải ung thư vú chỉ là hậu
quả của việc giảm sử dụng rõ rệt các hormone. Những ý tưởng này nhanh
chóng bị tranh cãi bởi các chuyên gia, lập luận rằng không phải do việc
ngừng dùng hormone, mà chính do việc ngừng xét nghiệm điều tra phát hiện
bằng chụp tuyến vú (mammographie), nơi những phụ nữ đã không cần thăm
khám các thầy thuốc phụ khoa nữa mới có đơn thuốc hormone, đã giải thích
tiến triển này.
NGUY CƠ THAY ĐỔI TÙY THEO LOẠI ĐIỀU TRỊ
Hôm nay trong New England Journal of Medicine, các thầy thuốc Hoa Kỳ của
WHI công bố một phân tích sâu những dữ kiện của họ, chỉ rõ rằng chính
đúng là sự giảm sử dụng điều trị hormone chứ không phải là sự ít dùng
đến chụp tuyến vú (mammographie) để điều tra phát hiện, giải thích sự
giảm các ung thư vú này. Để đi đến kết quả đó, các tác giả đã sử dụng
không chỉ điều tra WHI mà cả một công trình nghiên cứu khác, tiến hành
trên 25.000 phụ nữ mãn kinh được theo dõi trong 10 năm từ 1994 đến 2005
Họ đã xem xét các tỷ lệ ung thư tùy theo sự sử dụng hay không các hormone
(oestradiol gốc ngựa và acétate de medroxyprogestérone) và tùy theo tần
số chụp tuyến vú được thực hiện “ Sự gia tăng nguy cơ ung thư vú liên
kết với œstrogène và progestérone đã giảm một cách đáng kể, nhanh chóng
sau khi ngừng hormone, nhưng không liên quan với những thay đổi trong
tần số chụp tuyến vú được thực hiện. ”
Ở Pháp, một công trình nghiên cứu đang được tiến hành đã chứng tỏ rằng
nguy cơ mắc phải ung thư vú thay đổi tùy theo loại điều trị hormone được
sử dụng. Một vài loại thuốc có một ảnh hưởng ít hơn, nhưng có thể có những
vấn đề khác, theo những công trình nghiên cứu sẽ được công bố. Hiện nay,
những điều trị này được cho trong một thời gian giới hạn, đặc biệt là
trong trường hợp bị những cơn bừng mặt không chịu đựng nổi. (LE
FIGARO 5/2/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr77.htm
(TSYH 77, bài số 3).
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr68.htm
(TSYH 68, bài số 1)
2/ NGHẼN MẠCH PHỔI ĐƯỢC PHÁT
HIỆN TỐT HƠN Ở CÁC THIẾU NIÊN
Mãi đến nay việc xác nhận chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch sâu (thrombose
veineuse profonde) hay nghẽn mạch phổi (embolie pulmonaire) ở trẻ em và
thiếu niên là điều khó khăn. Nhờ sự sử dụng các scanner multidétecteur
thuộc thế hệ mới nhất, người ta có thể đánh giá rằng nguy cơ này nằm trong
khoảng 15% và 20% sau vài can thiệp ngoại khoa chỉnh hình hay khi có những
rối loạn đông máu. (SCIENCES ET AVENIR 2/2009)
3/ CÁC VAN TIM : THIẾT ĐẶT BẰNG
NGOẠI KHOA QUA DA (IMPLANTATION PAR CHIRURGIE PERCUTANEE)
G.S Fabiani, trưởng khoa ngoại tim, bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou,
giải thích những tiến bộ trong giải phẫu các van động mạch chủ, được trình
bày nhân dịp Heart Valve Club của bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou (12/2008).
Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi các chức năng
của van tim ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Các van này là những soupape “chống chảy ngược”
(“anti-retour”), cho phép máu chảy theo một chiều trong tim. Có 4 van,
mỗi van nằm trong một ngăn của cơ tim. Do đó chức năng của chúng là quan
trọng đối với sự tuần hoàn máu.
Hỏi : Trong trường hợp nào ta phải thay một van tim ?
G.S J.N.F : Khi các van trở nên quá hẹp hay trái lại quá giãn. Với tuổi
tác, cũng như các vòi nước, các van này chứa đầy chất vôi và có khuynh
hướng hẹp lại. Chính vì vậy, bệnh lý tim thông thường nhất là bệnh lý
được gọi là “ hẹp van động mạch chủ bị canxi hóa ” (rétrécissement aortique
calcifié hay bệnh Monckeberg). Thay van cũng có thể được thực hiện trong
vài trường hợp dị tật bẩm sinh, trong đó có bệnh van hai lá (bicuspidie),
khá phổ biến ; trong bệnh này, các van tim bị canxi hóa với thời gian.
Trong đất nước của chúng ta, người ta thay khoảng 17.000 van mỗi năm.
Hỏi : Kỹ thuật thay van cổ điển là kỹ thuật nào ?
G.S J.N.F : Đó là một phẫu thuật nặng nề, dưới gây mê tổng quát khoảng
3 giờ, cần làm ngừng tim và sử dụng một máy tim-phổi nhân tạo (coeur-poumon
artificiel) để thay thế chức năng tim trong lúc giải phẫu. Để thực hiện
giải phẫu tim mở (opération à coeur ouvert) này, phẫu thuật viên buộc
thực hiện một đường xẻ rộng trên lồng ngực và cắt đoạn xương ức.
Hỏi : Hậu phẫu và những kết quả lâu dài ?
G.S J.N.F : Phẫu thuật này cho những kết quả rất tốt nhưng với cái giá
phải nhập viện 7 ngày và 3 tuần dưỡng bệnh, bởi vì sự mệt mỏi sau mổ là
quan trọng. Trong thời buổi chúng ta, tuổi thọ của các van được thay càng
ngày càng tỏ ra có hiệu năng ; với các van giả sinh học (prothèse biologique)
mới nhất, tuổi thọ vượt quá 20 năm ! Nhân tiện, tôi phải nói rõ rằng có
hai loại van lớn : các van cơ học (valves mécaniques), đòi hỏi dùng thuốc
kháng đông, và các van sinh học (valves biologiques), không cần một điều
trị nào.
Hỏi : Kỹ thuật vi xâm nhập (technique mini-invasive)
mới nhất là gì ?
G.S J.N.F : Để thực hiện kỹ thuật thay van này, người ta sử dụng một van
sinh học (valve biologique), trước hết được đưa vào bên trong một stent
(một loại lồng kim loại nhỏ có thể tự ép lại hay giãn ra theo ý muốn).
Như thế, phẫu thuật viên không cần phải mở lồng ngực nữa. Nhờ một catheter,
nhà phẫu thuật sẽ chuồi stent vào trong động mạch đùi và đưa stent này
đến tim. Thao tác này, được thực hiện dưới kiểm tra quang tuyến, không
cần phải gây mê tổng quát : người ta cũng có thể thực hiện với gây tê
tại chỗ.
Hỏi : Một khi stent đã đến tim, điều gì sẽ xảy ra ?
G.S J.N.F : Luôn luôn với thụ thuật thông bằng catheter và dưới sự kiểm
tra của quang tuyến, phẫu thuật viên đặt stent vào bên trong van bị bệnh
và, khi đã chắc chắn là stent ở đúng vị trí, khởi động catheter. Khi đó
stent sẽ mở ra như một chiếc dù và phóng thích van sinh học ; van giả
này sẽ mở ra và thay thế tức thời chức năng của van bị bệnh. Stent, được
buộc vào van bệnh, giu hệ thống mới tại chỗ.
Hỏi : Thời gian nhìn lại với kỹ thuật mới này ?
G.S J-N F : Chính người Pháp Alain Cribier, của CHU de Rouen, đã đặt van
qua da (valve percutanée) đầu tiên vào năm 2002. Từ đó, nhiều thử nghiệm
lâm sàng đã được thực hiện ở Pháp và Canada suốt trong nhiều năm trên
hàng trăm bệnh nhân. Vài vấn đề đã được giải quyết và, trong những năm
vừa qua, các phòng thí nghiệm đã hiệu chính một van giả có mức độ đảm
bảo tối đa. Dụng cụ đã được hưởng những tiến bộ lớn : với các cathéter
dễ uốn hơn nhiều, cho phép một sự xê dịch tốt hơn trong các động mạch.
Hỏi : Những kết quả mà chúng ta thu được với ngoại khoa
vi xâm nhập này là những kết quả nào ?
G.S J-N F : Thủ thuật này cho phép thay van nơi những bệnh nhân có sức
khỏe kém, không thể mổ được với kỹ thuật cổ điển tim mở (technique à coeur
ouvert) và nơi những bệnh nhân đã từng bị mổ bắt cầu động mạch vành (pontage
coronarien). Những kết quả đã rất là tốt, với ít bị rò từ thiết bị và
với hậu phẫu vô cùng đơn giản : bệnh nhân trở về nhà ngay ngày thứ tư
sau mổ và không mệt mỏi.
Hỏi : Nói tóm lại, những ưu điểm của kỹ thuật giải phẫu
qua da (technique chirurgicale percutanée) này là những ưu điểm nào ?
G.S J-N F : 1. Không mở lồng ngực. 2. Bốn ngày nhập viện thay vì bảy hay
tám. 3. Không mệt mỏi, do đó tiếp tục ngay đời sống xã hội và nghề nghiệp.
4.Không có vết sẹo giải phẫu. 5. Khả năng gây tê tại chỗ.
Hỏi : Có các chống chỉ định hay không ?
G.S J-N F: Vài bệnh nhân có một động mạch đùi quá khít hẹp hay quá nhỏ
nên không thể chuồi vào đó ống catheter được. Đối với những trường hợp
này, có một kỹ thuật thay thế ít gây tổn thương hơn so với phẫu thuật
mổ tim hở mà chúng ta không thể mô tả ở đây nhưng dường như có hiệu năng.
Hỏi : Các phương pháp thay van bằng ngoại khoa vi xâm
nhập (implantation de valve par chirurgie mini-invasive) này có được thực
hiện thông thường hay không ?
G.S J-N F : Hiện nay, kỹ thuật này dành cho các bệnh nhân già có một tình
trạng sức khỏe chung kém. Theo ý kiến của tôi, nếu những kết quả sau một
thời gian trung bình được xác nhận, thì trong tương lai, các chỉ định
sẽ được mở rộng. (PARIS MATCH 25-31/12/2008)
4/ THIẾU SẮT LÀM GIA TĂNG NGUY
CƠ SỎI MẬT
Người ta biết rằng sắt đóng một vai trò quan trọng trong chuyển hóa của
các men gan và rằng một chế độ ăn uống thiếu sắt làm dễ sự phát triển
các sỏi mật nơi động vật. Những dữ kiện này đã được xác nhận trong một
công trình nghiên cứu nơi 200 người. Trong trường hợp thiếu máu, được
chứng tỏ bởi những nồng độ thấp một cách bất thường của Hb, ferritine
và bởi một sự giảm tỷ suất bảo hòa sắt của transférine, người ta nhận
thấy một nguy cơ gia tăng bị sỏi túi mật. (SCENCES
ET AVENIR 2/2009)
5/ NHỮNG PHÉP TRỊ LIỆU MỚI CỦA
LOẠN NHỊP TIM
Santé : Những rối loạn nhịp tim càng ngày càng được điều trị tốt hơn,
dầu đó là ngoại khoa hay những thuốc mới.
Đó là một bệnh của sự lão hóa, thường xảy ra nhưng không được biết đến.
Rung nhĩ (fibrillation auriculaire), một rối loạn nhịp tim, gây bệnh cho
khoảng 750.000 người ở Pháp. Theo các thầy thuốc chuyên khoa, con số này
có thể lên đến 2 triệu từ nay đến 2050.
“Quan điểm của chúng ta về bệnh lý này cũng như những khả năng điều trị
đã được biến đổi. Nhưng ít bệnh nhân có thể được đảm nhận điều trị trong
những trung tâm chuyên môn”, G.S Jean-Yves Le Heuzy, trưởng khoa tim của
bệnh viện Georges-Pompidou đã phàn nàn như vậy. Tuần qua ông đã trình
bày một bài thuyết trình về vấn đề này nhân Hội Nghị châu Âu lần thứ XIX
ở Paris của Hiệp hội Tim của Pháp. Theo chuyên gia này, cứ 5 bệnh nhân
thì có một có thể được hưởng kỹ thuật cắt bỏ (technique d’ablation) (có
khả năng chữa lành được bệnh). Những cơn hồi hộp, hay hiếm hơn, khó thở,
những triệu chứng của rung nhĩ xuất hiện trung bình vào khoảng tuổi 70.
Đó là một khiếm khuyết trong sự co bóp của các xoang tim và đặc biệt là
những tâm nhĩ, nguyên nhân là do những bất thường của những xung động
điện. Điện tâm đồ xác định chẩn đoán rung nhĩ. Trong ¾ các trường hợp,
bệnh lý này xảy ra trên cơ sở bệnh cao huyết áp. Nguy cơ chủ yếu là nguy
cơ tạo thành các cục máu đông trong tim rồi nguy cơ tai biến mạch máu
não.
“ Không điều trị, tỷ lệ tử vong tăng gấp đôi, và nguy cơ tai biến mạch
máu não là 5% mỗi năm, G.S Le Heuzy đã nhấn mạnh như vậy.Do đó những thuốc
chống đông là cơ sở của điều trị nội khoa, cũng như những thuốc chống
loạn nhịp.
MỘT CAN THIỆP DÀI
Ít nhất năm thuốc kháng đông mới, dễ sử dụng hơn các thuốc kháng vitamine
K, hiện đang được phát triển, trong số đó một vài thuốc đang trong giai
đoạn trắc nghiệm cuối, giáo sư Lê Heuzy đã chỉ rõ như vậy. Ông cũng loan
báo sự xuất hiện sắp đến đây các thuốc chống loạn nhịp mới đối với rung
nhĩ, trong khi từ 20 năm nay không có một thuốc độc đáo nào được hiệu
chính cả. Dronédarone (hãng bào chế Sanofi) có thể được giấy phép lưu
hành trên thị trường vào năm 2009. So sánh với amiodarone, thuốc chống
loạn nhịp chuẩn, dronédarone có ưu điểm là không chứa iode.
Những tiến bộ điều trị còn ngoạn mục hơn nữa về mặt các kỹ thuật cắt bỏ
bằng tần số phóng xạ (technique d’ablation par radiofréquence), là kỹ
thuật duy nhất có khả năng chữa lành bệnh rung nhĩ bằng cách loại bỏ những
vùng có mô bị bệnh. Đã từng được sử dụng trong những bất thường khác của
nhịp tim từ những năm 1980, những phương pháp này đã được áp dụng cho
các rung nhĩ cách nay khoảng 10 năm bởi G.S Michel Haissaguerre (Bordeaux).
Từ đó, 100.000 bệnh nhân đã hưởng các kỹ thuật này trên thế giới, khoảng
10.000 ở Pháp.
Nguyên tắc là đốt bằng điện các ổ chịu trách nhiệm loạn nhịp. Những ổ
gây loạn nhịp này, như nhóm nghiên cứu Bordeaux đã cho thấy, chủ yếu không
nằm chính trong tim mà ở lối ra của nó, trong các tĩnh mạch phổi. Để có
thể thực hiện điều này, các thầy thuốc sử dụng một ống thông mà họ sẽ
đưa vào trong tĩnh mạch đùi ở vùng bẹn, rồi hướng ống thông này lên cho
đến tim.
Can thiệp là dài lâu (một đến 5 giờ) và không phải là không có biến chứng,
nhưng tỷ lệ thành công là 70% den 80%. “ Đó là kỹ thuật thượng hạng, G.S
Haissaguerre đã xác nhận như thế. Vài bệnh nhân chỉ có vài ổ gây loạn
nhịp, trong khi những bệnh nhân khác có hàng chục. Những thời kỳ rung
nhĩ càng dài, người ta càng nghi ngờ một sự phân tán quan trọng của các
ổ gây loạn nhịp hay những vòng bất thường.”
MỘT BỨC XẠ TỐI THIỂU.
Mới đây, hai kỹ thuật mới đã sinh ra đời. Một, được phát triển bởi G.S
Le Heuzey, nhằm phá hủy bằng lạnh (cryoablation). Kỹ thuật kia, được hiệu
chính bởi G.S Haissaguerre, dùng đến từ trường. Với một chiếc máy, hiện
chỉ có duy nhất ở Pháp, cathéter được hướng dẫn bởi từ trường, được điều
khiển từ xa bởi một thầy thuốc qua một joystick. Sự chiếu phóng xạ lên
bệnh nhân là tối thiểu. Hiện nay, các kỹ thuật cắt bỏ được đề nghị trong
trường hợp dùng thuốc chống loạn nhịp thất bại, những kỹ thuật này một
ngày nào đó có thể trở thành điều trị chuẩn của bệnh rung nhĩ.
Đứng trước các thành công gia tăng, các trung tâm của Pháp đã bị tràn
ngập bởi các bệnh nhân. Thời gian chờ đợi thường phải nhiều tháng; ở Bordeaux,
phải cần kiên nhẫn đến 2 năm. (LE FIGARO 20/1/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr82.htm
(TSYH 82, bài số 7)
6/ 30 NĂM SAU CHẤN ĐỘNG NÃO
Những công trình nghiên cứu trước đây đã cho thấy rằng những tác dụng
có hại của các chấn động não (commotion cérébrale) lên các chức năng nhận
thức và vận động có thể kéo dài nhiêu năm sau tai nạn. Một nhóm nghiên
cứu Canada đã thực hiện một công trình nghiên cứu nơi 19 cựu vận động
viên điền kinh (tuổi trung bình 60) từng bị một chấn động não vào khoảng
năm 25 tuổi. Các nhà nghiên cứu đã so sánh các lực sĩ này với một nhóm
vận động viên điền kinh đã về hưu nhưng không có tiền sử chấn động não.
Các kết quả cho thấy rằng những người đã bị chấn động não một hay hai
lần trong lứa tuổi 20 có khả năng chú ý và trí nhớ bị suy đồi và vài người
trong số họ có những cử động bị chậm lại, so với nhóm kiểm tra. “Công
trình nghiên cứu này chứng tỏ rằng những hậu quả của các chấn động não
do thể thao vào lúc bắt đầu tuổi trưởng thành vẫn còn kéo dài 30 năm sau
và rằng những chấn động não này có thể gây nên những biến đổi của các
chức năng nhận thức và vận động khi các vận động viên già đi. Do đó các
vận động viên phải được thông tin tốt hơn về những hậu quả tích lũy và
kéo dài của các chấn động não lên các quá trình tâm thần và vật lý, Louis
D Beaumont, một trong những tác giả đã giải thích như vậy. (LE
JOURNAL DU MEDECIN 13/2/2009)
7/ SEROTONINE ỨC CHẾ SỰ TẠO XƯƠNG.
Sérotonine không chỉ thiết yếu cho não bộ. Nó cũng ức chế sự tăng sinh
của vài tế bào xương.
Ăn ngon, khí chất, giấc ngủ, sérotonine là một chất dẫn truyền thần kinh
(neurotransmetteur) có liên quan trong sự điều hòa của nhiều chức năng.
Tuy nhiên, khoảng 95% sérotonine của cơ thể được sản xuất bởi ống tiêu
hóa và không có khả năng đi đến não bộ. Vai trò của sérotonine phần lớn
vẫn còn là một bí mật... cho đến khi có những công trình mới đây của nhóm
nghiên cứu của Gerard Karsenty của đại học Columbia, Hoa Kỳ : sérotonine
ruột là một hormone ức chế sự tạo thành xương.
Chính trong lúc nghiên cứu một căn bệnh nhi đồng hiếm xảy ra, nguồn gốc
của những gãy xương tự phát, mà nhóm nghiên cứu đã tìm ra mối liên quan
này. Khi đó các nhà nghiên cứu tìm cách hiểu cách tác dụng của một gène
mà sự bất hoạt hóa trong chứng bệnh này đã làm ngưng sự tạo xương. Các
nhà khoa học khi đó đã khám phá ra rằng gène này điều hòa sự sản xuất
sérotonine bởi vài tế bào ruột. Khi gène này bất hoạt, sự tổng hợp sérotonine
bởi các tế bào ruột được gia tăng nhiều. “ Sau đó chúng tôi đã quan sát
thấy rằng một khi đã đến xương bằng đường máu, sérotonine này liên kết
với một thụ thể tế bào và ức chế sự tăng sinh của các tạo cốt bào (ostéoblaste),
những tế bào làm tái sinh xương một cách thường trực, nhà nghiên cứu đã
giải thích như vậy.”
“ Trong một nghiên cứu trước đây, chúng tôi đã không nhận thấy vai trò
của thụ thể này của sérotonine. Ngoài ra, trong thí nghiệm này của Hoa
Ky , những nồng độ sérotonine liên kết với các tạo cốt bào là rất cao
hơn những nồng độ được quan sát ở trạng thái tự nhiên. Vì ý do này và
vài lý do khác, thí nghiệm này đang được thực hiện lại để xác nhận những
kết quả mới này.” Tuy nhiên, theo Gerard Karsenty, khám phá này mở ra
một hướng để hiệu chính những điều trị đối với những bệnh nhân bị bệnh
loãng xương. “ Ý tưởng là ức chế sự sản xuất sérotonine ở ruột nhờ một
chất ức chế Tph1, một men cần thiết cho sự sản xuất sérotonine ”, nhà
nghiên cứu đã tuyên bố như vậy. Những người bị bệnh tự kỷ (autisme), mà
nồng độ sérotonine cao một cách bất thường trong máu cũng có thể được
điều trị với phương cách này đối với các rối loạn loãng xương của họ.
(LA RECHERCHE 2/2009)
8/ BỆNH ALZHEIMER, MỘT BỆNH ĐÁI
ĐƯỜNG LOẠI 3 ?
Insuline bảo vệ não bộ chống lại những chất có hại có liên quan với bệnh
Alzheimer. Theo giả thuyết này, bệnh Alzheimer có thể tương cận với một
dạng đái đường loại 3.
Trong khi bệnh đái đường loại 1 xuất hiện khi tụy tạng không còn sản xuất
insuline được nữa và bệnh đái đường loại 2 là do một sự giảm của tính
nhạy cảm (sensibilité) của các mô đối với insuline, thì theo William Klein
(Northwestern university) và các cộng sự viên, có một loại đái đường loại
3. Trong trường hợp này, chính trong não bộ là nơi xảy ra sự kém liên
kết của insuline với các thụ cảm của nó. Thế mà, đặc điểm của bệnh Alzheimer
là sự tạo thành các mảng amyloide trong não bộ, gây nên mất trí nhớ và
những triệu chứng khác mà chúng ta đã biết, cũng như sự mất các thụ thể
đối với insuline ở nơi này và một bất thường của chức năng của các khớp
thần kinh (synapses).
Trong công trình nghiên cứu của mình, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã cấy
những tế bào của não bộ chuột, mà họ đã thêm vào insuline. Các nhà nghiên
cứu có thể chứng thực rằng insuline ức chế sự tạo thành của các protéine
amyloide. Vậy hormone insuline dường như bảo vệ não bộ chống lại các protéine
có hại được biểu hiện trong bệnh Alzheimer.
Vì lẽ tính nhạy cảm đối với insuline giảm đi với tuổi tác, các thuốc bảo
vệ các khớp thần kinh chống lại các protéine amyloide, bằng cách làm gia
tăng tính nhạy cảm đối với insuline, có thể tạo nên những triển vọng mới
trong điều trị bệnh Alzheimer.
Trong một công trình nghiên cứu trước đây, các nhà nghiên cứu đã chứng
tỏ rằng não bộ của những bệnh nhân bị đồng thời bệnh đái đường và bệnh
Alzheimer cho thấy những khác nhau quan trọng so với não bộ của những
bệnh nhân chỉ bị Alzheimer không thôi. Những nhà nghiên cứu này cũng gợi
ra những hướng điều trị. (LE JOURNAL DU MEDECIN 13/2/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr46.htm
(TSYH 46, bài số 6)
9/ PHẢI CHĂNG NGƯỜI MẸ CÓ
THỂ TRUYỀN CHO CON NHƯNG KHẢ NĂNG CỦA MÌNH ?
Các chú chuột con thừa hưởng những hiệu quả thuận lợi của “ nền giáo dục
” mà các chuột mẹ đã nhận được ngay cả trước khi những chuột mẹ này mang
thai. Do đó, sự truyền di truyền (transmission héréditaire) còn đi xa
hơn cái điều mà những lý thuyết cổ điển đã dạy cho chúng ta, Junko Arai
(Boston) và các cộng sự viên đã xác nhận như thế. Các nhà nghiên cứu Hoa
Kỳ đã có thể xác lập rằng những chú chuột con lớn lên trong một môi trường
“được phong phú hóa” (un environnement enrichi) (tiếp xúc với các đồ chơi
và những vật kích thích khác), về sau này truyền lại các khả năng đã được
thụ đắc như thế cho hậu duệ của chúng, không phải bằng “giáo dục” tốt
hơn con cháu, mà đúng là qua đường thai nghén. Thật vậy các tác giả đã
có thể cho thấy rằng các chuột con, sau khi sinh ra đời và được chuyển
cho mẹ nuôi (mère adoptive), sẽ thụ đắc nhanh hơn một loạt các khả năng
khi chuột mẹ sinh học (mère biologique) vốn đã lớn lên trong một môi trường
kích thích (un environnement stimulant). Các tác giả mô tả hiện tượng
này như là một cơ chế bảo vệ mà một người mẹ truyền cho hậu thế. Môi trường
được làm phong phú (environnement enrichi) trong đó một người mẹ lớn lên
gây nên những biến đổi kéo dài nhiều tháng trong cơ thể người mẹ. Khi
các nhà nghiên cứu bắt đầu khảo sát não bộ của các người mẹ, họ đã có
thể xác nhận những thay đổi rõ ràng trong phương cách mà các tế bào thần
kinh giao tiếp với nhau. Những biến đổi này được truyền cho các chuột
con, mặc dầu chúng không lớn lên trong một môi trường kích thích. Có lẽ
ở đây có sự can thiệp của một hormone nào đó : sự thụ đắc các khả năng
trong một môi trường thuận lợi làm phóng thích vài hormone được duy trì
dài lâu trong cơ thể và sẽ có một ảnh hưởng lên sự phát triển của thai
nhi lúc mang thai.
Sau hết, sự truyền các khả năng này chỉ liên quan đến một thế hệ mà thôi.
Nói một cách khác, ADN không chịu những biến đổi thường trực. Nhưng điều
đó cũng có nghĩa là chức năng của ADN có thể bị ảnh hưởng mà không cần
phải có một sự biến đổi của mật mã di truyền. Dĩ nhiên vấn đề được đặt
ra là phải xem một hiện tượng tương tự có thể được quan sát nơi người
hay không. (LE JOURNAL DU MEDECIN 10/2/2009)
10/ XEM TV LÚC CÒN TRẺ LIÊN
KẾT VỚI CHỨNG TRẦM CẢM SAU NÀY
Xem TV dài lâu vào tuổi thiếu niên có thể làm gia tăng nguy cơ mắc phải
chứng trầm cảm vào thời kỳ đầu của tuổi trưởng thành, theo một báo cáo
mới.
Công trình nghiên cứu, trong số tháng hai của The Archives of General
Psychiatry, được công bố bởi Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ, đã nhận thấy một
nguy cơ gia tăng bị những triệu chứng trầm cảm liên kết với nhiều giờ
ngồi xem TV. Không có sự liên kết của chứng trầm cảm với các trò chơi
computer, videocassette hay radio.
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các dữ kiện từ một phân tích rộng lớn, được
thực hiện trên 4.142 thiếu niên không bị trầm cảm lúc bắt đầu công trình
nghiên cứu. Thời gian trung bình hàng tuần ngồi xem TV (2,3 giờ) hay xem
cassettes vidéo (0,62 giờ), chơi các trò chơi trên màn computer (0,41
giờ) và nghe radio (2,3 giờ) đã được đo vào lúc bắt đầu công trình nghiên
cứu. 7 năm sau, hoặc ở vào lứa tuổi trung bình 21,8, cũng những người
này đã được tiếp xúc lại. Thì ra hơn 7% trong số những người này đã có
những triệu chứng trầm cảm. Một mối tương quan có ý nghĩa đã được quan
sát giữa, một mặt, các rối loạn trầm cảm và thời gian toàn bộ trải qua
với các phương tiện thông tin điện tử, cũng như, mặt khác, giữa cũng những
rối loạn này và thời gian ngồi xem TV. Nói một cách khác, không có một
tác dụng đáng kể nào giữa radio, các trò chơi điện tử và cassettes vidéo
và tỷ lệ mắc phải chứng trầm cảm. Nguy cơ bị trầm cảm gia tăng rõ rệt
đối với mỗi giờ ngồi xem TV.Trong khi chỉ có khoảng 6% những trẻ xem TV
dưới 3 giờ mỗi ngày bị trầm cảm, thì hơn 17% những trẻ xem TV hơn 9 giờ
mỗi ngày có những triệu chứng này.
Mối liên kết này mạnh hơn nơi con trai so với con gái và vẫn không thay
đổi sau khi đã điều chỉnh tuổi tác, chủng tộc, tình trạng kinh tế-xã hội
và trình độ học vấn.
Nhiều tác giả gợi ra nhiều giả thuyết để giải thích sự gia tăng số trường
hợp trầm cảm. Như là xem TV hay cassette vidéo đến tận khuya có thể làm
xáo trộn giấc ngủ, có tầm quan trọng đối với các chức năng nhận thức và
sự phát triển cảm xúc. Những giả thuyết này không đủ, vì lẽ không có mối
tương quan giữa cassettes vidéo và chứng trầm cảm. Cũng có thể rằng các
trẻ này dành ít thời gian hơn cho những hoạt động trí tuệ, xã hội hay
thể thao hơn, những hoạt động mà giờ đây được biết là có tác dụng bảo
vệ chống chứng trầm cảm. Mặt khác những thông điệp do TV hay radio mang
lại có thể khuyến khích tính hung dữ và những hành vi chống xã hội khác,
điều này cản trở sự phát triển hài hòa của nhân cách của các thanh niên
và cũng có thể sinh ra một sự lo âu và một cảm giác bất lực trước những
vấn đề của cuộc đời. Nhưng ở đây cũng vậy, radio dường như không có liên
quan với chứng trầm cảm.
“Chúng tôi thật sự không biết việc xem TV có đặc điểm gì mà liên kết với
chứng trầm cảm, phải chăng đó là do một loại chương trình đặc biệt hay
do một yếu tố tình huống nào đó, như xem TV một mình hay với những người
khác.” Tác giả chỉ đạo và phó giáo sư y khoa của đại học Pittsburgh đã
phát biểu như vậy. “Do đó, tôi thấy khó mà cho một lời khuyến nghị rõ
ràng trong khi chỉ căn cứ vào một công trình nghiên cứu như thế này”.
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 12/2/2009) (LE GENERALISTE
19/2/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr51.htm
(TSYH 51, bài số 2)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr50.htm
( TSYH 50, bài số 4)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(20/2/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |