 |
Thời
Sự Y Học số 113
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ VACCIN CHỐNG BỆNH SỐT
RÉT CHO NHỮNG KẾT QUẢ TỐT
Với một sự giảm 65% nguy cơ bị nhiễm trùng sốt rét nơi các trẻ nhỏ, vaccin
thí nghiệm RTS,S cho những kết quả tốt nhất từng có chống lại Plasmodium
falciparum, ký sinh trùng gây bệnh sốt rét. Như thế lấy lại được niềm
hy vọng có thể dứt điểm tai ương này của Châu Phi, chịu trách nhiệm hơn
một tử vong nhi đồng trên năm.Tính chất rất phức tạp của chu kỳ phát triển
giải thích những khó khăn gặp phải bởi các nhà nghiên cứu từ nhiều thập
niên nay để chế tạo một vaccin có hiệu quả. RTS,S dựa trên sự sản xuất
các kháng thể chống lại một protéine nằm trên bề mặt của ký sinh trùng
còn “ non trẻ ”, trước khi ký sinh trùng này xâm chiếm những tế bào hồng
cầu của ký chủ. Ngoài sự thu giảm các nguy cơ bị nhiễm trùng sốt rét,
được tiết lộ bởi một thử nghiệm được tiến hành ở Tanzanie trên 340 trẻ
em dưới 1 tuổi, một thử nghiệm khác, được tiến hành ở Kenya, đã cho phép
trắc nghiệm thành công vaccin mà công thức đã được biến đổi để được hiệu
quả hơn. Kết quả : giảm 53% các cơn sốt rét nặng nơi các trẻ em từ 5 đến
17 tháng, so sánh với tỷ lệ 35% đối với công thức vaccin trước. Giai đoạn
cuối cùng của các thử nghiện lâm sàng chẳng bao lâu sẽ được thực hiện
trong 7 nước châu Phi. (SCIENCE ET VIE 2/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr105.htm
(TSYH 105, bài 2 và 3)
2/ SỐ UNG THƯ GIA TĂNG MẠNH
Ở CÁC NƯỚC NGHÈO
Nhân Ngày thế giới chống ung thư, các thầy thuốc nhấn mạnh rằng hơn một
nửa những trường hợp mới và 60% các tử vong xảy ra trong những nước có
lợi tức thấp.
Trong khi trước đây thường được xem như là một bệnh của các nước giàu,
ung thư ngày nay trong các nước đang phát triển gây nhiều nạn nhân hơn
là bệnh sida, bệnh lao hay bệnh sốt rét. Theo Tổ chức y tế thế giới (OMS),
sau các bệnh tim mạch, ung thư là nguyên nhân gây tử vong trong các nước
đang phát triển, với mỗi năm khoảng 7,6 triệu trường hợp tử vong. Chính
trong các nước nghèo, đại diện 82% dân số thế giới mà hầu hết các tử vong
do ung thư (67%) được ghi nhận. Nhưng tính theo tỷ lệ, chính trong các
nước giàu (18% dân số thế giới) có những trường hợp tử vong do ung thư
nhiều hơn (33%).
“Những tiên đoán quốc tế đối với năm 2030 là 12 triệu tử vong mỗi năm
vì ung thư. Có rất nhiều lý do : thiếu sự thông tin trong dân chúng, thiếu
các cơ sở hạ tầng và các chuyên gia, thiếu các chương trình và chính sách
chống ung thư, tổn phí thuốc men và điều trị chống ung thư cao.” (LE
FIGARO 4/2/2008)
3/ ALZHEIMER : NHỮNG LỢI
ÍCH CỦA MỘT CHẨN ĐOÁN SỚM
Những rối loạn đầu tiên của bệnh Alzheimer xảy ra 12 năm trước khi chẩn
đoán được xác nhận. Để làm chậm lại tiến triển của bệnh, Giáo sư Jean-François
Dartigues, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh CHU de Bordeaux, giáo sư nghiên
cứu Inserm U897, đưa ra những gợi ý.
Hỏi : Ông có thể nhắc lại vắn tắt cho chúng tôi những
đặc điểm của bệnh Alzheimer ?
G.S Jean-François Dartigues : Sự thoái biến não bộ trong bệnh Alzheimer
trước hết gây nên những mất trí nhớ càng ngày càng nặng dần và liên kết
vào đó là những rối loạn của các chức năng trí tuệ. Thí dụ, các bệnh nhân
cảm thấy rất khó khăn để thực hiện những động tác phức tạp của đời sống
hàng ngày, đòi hỏi dự kiến, phản ứng, quản lý các nhu cầu của mình. Khởi
đầu, các bệnh nhân ít nhiều bù trừ được, nhưng đến một lúc nào đó, họ
hoàn toàn không còn kham nỗi và làm những điều tầm bậy. Vào giai đoạn
này, họ cũng khó tự định hướng trong không gian.
Hỏi : Ở não bộ, những rối loạn chức năng là những rối
loạn nào?
G.S Jean-François Dartigues : Trong não bộ, hai thương tổn độc lập với
nhau phát triển.
1. Những đám protéine amyloide ứ đọng dưới dạng mảng (plaques).
2. Những protéine khác, được gọi là “Tau” (dùng để chuyên chở những phân
tử hóa học bên trong các neurone), chứa đầy phosphore và không hoàn thành
vai trò của chúng nữa. Do đó, các neurone bị thương tổn không hoạt động
được nữa.
Hỏi : Bắt đầu từ lứa tuổi nào, căn bệnh thoái biến này
thường xuất hiện nhất ?
G.S J-F D : Trong 2/3 các trường hợp, bệnh xảy ra nơi những người trên
80 tuổi. Nhưng bây giờ người ta nhận thấy rằng bệnh lý này ngày càng thường
xảy ra sau 65 tuổi. Vậy tuổi tác là một yếu tố quan trọng.
Hỏi : Khi chúng ta có cha hoặc mẹ bị bệnh, các yếu tố
nguy cơ là những yếu tố nào ?
G.S J-F D : Tất cả tùy thuộc vào tuổi nào chúng ta đã khám phá ra căn
bệnh của mình : nếu dưới 60 tuổi, có một nguy cơ truyền di truyền (transmission
génétique), nhưng, nếu 80 tuổi, thì nguy cơ này thấp hơn nhiều.
Hỏi : Hiện nay, làm sao xác lập chẩn đoán một cách chính
xác ?
G.S J-F D : Bằng một loạt khám nghiệm, trong đó đầu tiên là lâm sàng.
Người ta phân tích các triệu chứng được mô tả không những bởi bệnh nhân,
mà còn bởi một người thân. Sau đó người ta cho bệnh nhân chịu vài trắc
nghiệm thần kinh tâm lý (tests neuropsychologiques) (bao gồm nhất là những
bài tập về trí nhớ, về hội họa, về chữ viết…). Nếu có thêm nghi ngờ, khi
đó người ta cho khám chụp ảnh não bộ (IRM), có thể xác định chẩn đoán
bằng cách cho thấy một phần của hồi hải mã (hippocampe) bị teo lại.
Hỏi: Ông đã tiến hành công trình nghiên cứu Paquid về bệnh Alzheimer vừa
qua như thế nào?
G.S J-F D : Công trình nghiên cứu đã được bắt đầu cách nay 20 năm (và
tiếp tục đến ngày nay), trên 3.777 người lành mạnh, khi đó ở lứa tuổi
65 hoặc hơn, và sống tại Gironde hay Dordogne. Tất cả những người này
đã trả lời đều đặn các bảng câu hỏi và cứ hai năm một lần đã chịu những
trắc nghiệm thần kinh-tâm lý và sinh học (tests neuropsychologiques et
bilogiques). Nơi những người đã phát bệnh Alzheimer, người ta đã có thể
nghiên cứu những xuất hiện kế tiếp khác nhau của các rối loạn ; những
rối loạn này xuất hiện sớm hơn nhiều so với điều mà chúng ta hằng tưởng
: 12 hay 13 năm trước khi chẩn đoán ! Những triệu chứng đầu tiên được
phát hiện khi làm trắc nghiệm trí nhớ đặc hiệu (test de mémoire spécifique),
trong đó bệnh nhân khó khăn khi nêu lên vài loại tên trong một thời điểm
nhất định (tên các động vật, thành phố, trái cây…). Những rối loạn này
đã không được cảm thấy bởi bệnh nhân lẫn những người chung quanh. Chỉ
5 hoặc 6 năm trước khi chẩn đoán, những khó khăn đầu tiên trong các chức
năng hàng ngày mới xuất hiện.
Hỏi : Nhưng trong bệnh Alzheimer không có điều trị “diệu
kỳ”, thế thì những lợi ích của một chẩn đoán sớm hơn nhiều là những lợi
ích nào ?
G.S J-F D : Khi chúng ta thiết đặt một chẩn đoán sớm hơn nhiều, thì các
thương tổn não bộ lại còn ít tiến triển hơn. Những điều trị sẽ có cơ may
có hiệu quả lớn hơn. Mặt khác, ta có thể hy vọng làm lùi lại thời điểm
bệnh xảy ra bằng cách sử dụng vài năng lực dự trữ. Tôi xin giải thích
: khi một hệ thống các neurone bị thương tổn, những vòng (circuit) neurone
khác (nếu chúng còn nguyên vẹn) có một khả năng bù trừ vài rối loạn chức
năng. Và những năng lực này, cần phải tuyệt đối gìn giữ ! Ngày nay, mặc
dầu chúng ta chưa có bằng cớ tuyệt đối về những lợi ích của một của một
phương cách phòng ngừa, nhưng theo công trình nghiên cứu kéo dài trong
20 năm này, trong đó các hành vi của nhiều ngàn người đã được phân tích,
chúng ta vẫn có những lý lẽ tốt để nghĩ rằng vài quy tắc đời sống hẳn
phải tỏ ra có hiệu quả. Ngay trong những lúc khởi đầu của bệnh Alzheimer,
tôi nghĩ rằng chúng ta có thể đẩy lùi xa hơn sự xuất hiện của những phế
tật, bằng cách duy trì ở trong tình trạng tốt các neurone có tác dụng
bù trừ.
Hỏi : Những quy tắc vệ sinh của cuộc sống này là gì ?
G.S J-F D: Có năm quy tắc. 1. Tránh những yếu tố nguy cơ mạch máu (chú
ý cao huyết áp!) 2. Tập thể dục mỗi ngày. 3. Duy trì một cân bằng dinh
dưỡng tốt. 4. Có những hoạt động kích thích não bộ đều đặn. 5.Chăm lo
bảo tồn một cân bằng tình cảm tốt.
Hỏi : Những ảnh hưởng của những kết quả nghiên cứu này
?
G.S J-F D : Trong khung cảnh kế hoạch Alzheimer, sự nghiên cứu về những
dấu hiệu sớm của bệnh sẽ được khuyến khích và tài trợ. Nhiều người trong
chúng tôi nghĩ rằng các điều trị đang được nghiên cứu hẳn phải hiệu quả
hơn nếu được cho vào giai đoạn đầu của tiến triển của bệnh thoái hóa não
bộ này. (PARIS MATCH 5/2-11/2/2009) Đọc
thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr107.htm
(TSYH 107, bài 3)
4/ ALZHEIMER : BDNF, MỘT
PROTEINE MỚI ĐẦY HỨA HẸN
Neurologie : Các kết quả nơi chuột cho biết những hiệu quả quan trọng
của một protéine mới, BDNF, trên các chức năng của não bộ.
Một protéine, được sản xuất bởi một phần của vỏ não, có những hiệu quả
“mạnh” lên các con chuột bị những rối loạn tương tự với bệnh Alzheimer,
theo các nhà nghiên cứu, hy vọng điều này sẽ mang lại một phương thức
điều trị mới. Đến nay, đó chỉ là những kết quả thí nghiệm. Những thử nghiệm,
đang được tiến hành nơi các bệnh nhân bị bệnh Alzheimer, hiện đang đánh
giá lợi ích của protéine này đối với người.
Một nhóm nghiên cứu, được điều khiển bởi Mark Tuszynski, giáo sư khoa
học thần kinh tại Trường Y của Đại học Californie ở San Diego, đã quan
tâm đến những tác dụng của protéine BDNF, bình thường, suốt trong đời
sống, được sản xuất trong cortex entorhinal, một vùng của vỏ não thiết
yếu cho trí nhớ và nằm kế cận với hồi hải mã. Sự sản xuất protéine này
giảm đi nơi những bệnh nhân bị bệnh Alzheimer.
CÁC CẢI THIỆN “ ĐÁNG KỂ ”
Các nhà nghiên cứu, mà các công trình được xuất bản trong Nature, đã xác
nhận rằng BDNF kích thích hoạt tính của các vòng trí nhớ (circuit de mémoire)
và ngăn cản sự chết của các tế bào mà bệnh Alzheimer gây nên. Họ đã nhận
xét một cải thiện của chức năng vận hành của hồi hải mã, trung tâm trí
nhớ ngắn hạn, và là một trong những vùng đầu tiên bị thương tổn trong
bệnh Alzheimer. Nói về những “hiệu quả mạnh”, G.S Tuszunski và nhóm nghiên
cứu của ông đã xác nhận những cải thiện “đáng kể” đối với những trắc nghiệm
học tập hay trí nhớ nơi những động vật được khảo sát. Những công trình
trước đây đã xác lập rằng một protéine khác, NGF (“yếu tăng trưởng của
các dây thần kinh”) có thể có những tác dụng lên sự sa sút nhận thức nơi
những bệnh nhân Alzheimer, nhưng không phục hồi các khả năng mà BDNF có
thể mang lại. (LE FIGARO 9/2/2009)
5/ VACCIN PHÒNG NGỪA CÚM BẢO VỆ
CHỐNG VIÊM TĨNH MẠCH.
Đây là lần đầu tiên mối liên hệ giữa vaccin chống bệnh cúm và sự ngăn
ngừa viêm tĩnh mạch (phlébite) được xác lập bởi một công trình nghiên
cứu được trình bày nhân dịp hội nghị tim học, Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ. Công
trình, được thực hiện bởi G.S Joseph Emmerich của bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou,
Paris, đã so sánh 727 bệnh nhân được tiếp nhận vì viêm tĩnh mạch với 727
các bệnh nhân khác được nhập viện vì một lý do khác. Công trình nghiên
cứu cho thấy rằng sự tiêm chủng chống cúm làm giảm nguy cơ bị viêm tĩnh
mạch 26%, và lên đến 59% đối với các phụ nữ uống thuốc ngừa thai. “Cơ
chế tác dụng chính xác của vaccin vẫn không được biết đến, nhưng kết quả
của nghiên cứu này sẽ mở cánh cửa cho một phòng ngừa thứ phát”, nhà chuyên
viên đã bình luận như vậy. Điều này có nghĩa là lúc tiêm chủng những người
đã có một tiền sử bị viêm tĩnh mạch, ta có thể tránh những tái phát và
nhất là những biến chứng nghiêm trọng của nó như nghẽn mạch phổi (embolie
pulmonaire). Cần ghi nhớ: sự tiêm chủng chống cúm đã được khuyến nghị
sau một nhồi máu cơ tim hay một tai biến mạch máu não để tránh (ít nhất
là người ta phỏng đoán như vậy) sự phát triển những hiện tượng viêm huyết
quản, nguyên nhân của sự tạo thành những cục máu đông. (SCIENCES
ET AVENIR 2/2009)
6/ CÁC BÀ KỀM CHẾ SỰ THÈM ĂN ÍT
TỐT HƠN CÁC ÔNG
Neurosciences : Chụp ảnh y khoa cho thấy rằng những người phái nữ khó
khăn trong việc tự cấm chỉ mình ăn những gì mà họ ưa thích.
Những người thuộc hai giới tính không có cùng thái độ đứng trước thức
ăn. Các phụ nữ khó khăn tự cấm chỉ mình ăn hơn so với đàn ông. Các bà
kềm chế sự thèm ăn của họ ít tốt hơn các ông. Đó là kết luận của một thí
nghiệm được thực hiện bởi một nhóm các nhà nghiên cứu được điều khiển
bởi Gene-Jack Wang (Brookahven National Laboratory de New York).
Các nhà nghiên cứu là những người đầu tiên bị gây ngạc nhiên bởi kết quả
này. Khởi đầu, họ chỉ muốn biết những vùng nào của não bộ được hoạt hóa
khi người ta tự cấm chỉ mình ăn. Như thế, họ hy vọng hiểu được các cơ
chế là nguồn gốc của vài dạng béo phì, gây nên bởi loạn chức năng của
cảm giác no nê (dysfonctionnement du sentiment de satiété). Thật vậy,
lúc khai thác các dữ kiện của thí nghiệm được tiến hành trên 23 người,
trong đó 13 phụ nữ và 10 đàn ông, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng
những hành vi đối với thức ăn thay đổi theo giới tính.
Thí nghiệm nhằm làm nhịn đói những người tình nguyện trong một ngày và
sau đó phân tích hành vi của họ trước thức ăn nhờ chụp ảnh y khoa (tomographie
par émission de positons). Đó là những người hoàn toàn có đầy đủ sức khỏe,
không béo phì và không bao giờ có vấn đề về ăn uống. Sau khi được làm
nhịn đói trong một ngày, các người tình nguyện được cho diễn qua trước
mắt họ các món ăn được ưa thích : sandwich jambon-oeuf-fromage, hamburger
au fromage. Vào lúc khám nghiệm, các hình ảnh y khoa đã cho thấy tất cả
các vùng não bộ được hoạt hóa trước một món ăn ngon. Những vùng não bộ
này là nơi của sự điều hòa xúc cảm và động cơ.
“ SỰ ỨC CHẾ CÓ NHẬN THỨC ” (INHIBITION COGNITIVE)
Trong một thí nghiệm thứ hai, thao tác được lập lại nhưng lần này người
ta yêu cầu những người tình nguyện nằm trong tình huống mà họ phải từ
bỏ những món ăn ngon này, bằng cách hủy bỏ một cách tự ý hay tìm kiếm
làm giảm cảm giác đói hay ước muốn được ăn. Theo thuật ngữ thông thái,
đó là điều mà ta gọi là sự ức chế nhận thức (inhibition cognitive).
Trong buổi tập luyện này, hình ảnh y khoa đã cho thấy rằng, nơi những
người đàn ông, các vùng được hoạt hoá của não bộ không còn giống như lúc
thí nghiệm đầu tiên. Nơi các phụ nữ, mặc dầu nhiều bà đã xác nhận không
còn thích ăn nữa, nhưng những vùng động cơ (les zones de la motivation)
vẫn tiếp tục được hoạt hóa.
Sự khác nhau giữa hai giới tính này đặt ra nhiều câu hỏi. “Phải chăng
sự khác nhau này có nguồn gốc hormone?”. Các phụ nữ từ lâu biết rõ rằng
vài viên thuốc ngừa thai có tiếng là làm béo phì. Vả lại đó là hướng mà
các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ sẽ thăm dò trong tương lai. (LE
FIGARO 21/1/2009)
7/ THAI NHI DUNG NẠP CÁC TẾ BÀO
CỦA NGƯỜI MẸ NHƯ THẾ NÀO ?
Đối với thai nhi, các tế bào của người mẹ không phải là những tế bào lạ,
các nhà nghiên cứu của đại học Californie đã giải thích như thế. Bởi vì
suốt trong thời kỳ thai nghén, rất nhiều tế bào mẹ vượt qua hàng rào nhau
(barrière placentaire) và đến ở trong những hạch bạch huyết của thai nhi.
Các kháng nguyên hiện diện ở bề mặt của những tế bào mẹ khi đó gây nên
sự sản sinh các tế bào miễn dịch điều hòa (cellules immunitaires régulatrices).
Vai trò của những tế bào này là kiềm chế hệ miễn dịch của thai nhi (vốn
đã được huấn luyện để tấn công mọi vật lạ đối với cơ thể). Nhờ các tế
bào miễn dịch điều hòa của mẹ, thai nhi dung nạp các tế bào của mẹ mình
như là một bộ phận của nó.
Các nhà nghiên cứu nghĩ rằng những tế bào lympho này cũng ngăn cản thai
nhi tấn công chính những tế bào của nó, như điều này xảy ra trong những
bệnh tự miễn dịch. Những tế bào điều hòa này tồn tại trong cơ thể, ngay
cả sau sinh, đôi khi đến năm 17 tuổi. Điều này giải thích tại sao một
cá nhân có thể chịu dễ dàng hơn những ghép mô đuợc cho bởi người mẹ. (SCIENCE
ET VIE 2/2009)
8 /CÁC TẾ BÀO GỐC CHỐNG LẠI XƠ
CỨNG RẢI RÁC
Neurologie : Tiêm truyền các tế bào gốc của tủy xương làm chậm lại sự
tiến triển của bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques).
Một kỹ thuật tự ghép những tế bào gốc (autotransplantation de cellules
souches), trích từ tủy xương của những bệnh nhân bị bệnh xơ cứng rải rác,
cho những kết quả đáng phấn khởi. Được công bố hôm qua trên site Internet
bởi The Lancet Neurology, một thử nghiệm lâm sàng được thực hiện trên
21 bệnh nhân, bởi một nhóm nghiên cứu của Northwestern University de Chicago
(Hoa Kỳ), đã cho phép làm ngưng sự tiến triển, thậm chí trong vài trường
hợp, làm giảm những triệu chứng của bệnh thần kinh nghiêm trọng này, gây
bệnh cho 80.000 người Pháp.
Thật vậy, được mô tả năm 1868 bởi nhà sáng lập môn thần kinh học hiện
đại Jean-Martin Charcot, bệnh xơ cứng rải rác liên kết những rối loạn
vận động và cân bằng, những bại liệt của dây thần kinh sọ, nhưng cũng
những đau đớn và những rối loạn tâm thần. Bệnh tiến triển thành từng cơn
kế tiếp nhau, thường để lại những di chứng.
Hệ miễn dịch tấn công myéline (đặc biệt là các bao bảo vệ của các neurone)
của chính người bệnh, trong não bộ, tủy sống và các dây thần kinh. Vậy
chính “ sự làm nóng quá mức ” (surchauffe) của các tế bào miễn dịch tạo
ra phản ứng viêm của bệnh nhân, mà các điều trị phải nhắm đến.
Từ một thế kỷ nay, y khoa có ít vũ khí hiệu quả để đề nghị chống lại căn
bệnh rất gây tàn phế này. Nhưng, hiện nay, nhiều điều trị mới được cho
phép hay đang được cho phép đối với những giai đoạn khác nhau của bệnh.
Trong giai đoạn tiến triển đầu tiên với các cơn kế tiếp nhau, tiếp theo
là những kỳ thuyên giảm (giảm hoặc biến mất các triệu chứng), từ lâu,
họ những interféron bêta là thuốc tuyến đầu.
Những protéine này của người, được chế tạo trong các tế bào động vật có
vú từ những gène người, sẽ làm cơn xuất hiện thưa đi và làm giảm một cách
khiêm tốn sự tích lũy của tàn phế.
Đối với những thể nặng hơn, người ta có nhiều kháng thể đơn dòng (anticorps
monoclonaux) tổng hợp, trong đó Natalizumab, được thương mãi hóa ở Pháp,
và chẳng bao lâu nữa, nếu được cho phép lưu hành trên thị trường, Alemtuzumab,
làm giảm 74% số các cơn bộc phát, vừa làm giảm 71% nguy cơ xuất hiện một
tàn phế bổ sung sau 3 năm.
“ MỘT KỸ THUẬT NẶNG NỀ ”
Đối với những bệnh nhân đề kháng với những kháng thể này và là nạn nhân
của một thể hung hãn của xơ cứng rải rác (có ít nhất 2 bộc phát mỗi năm
hay một sự tiến triển nhanh của các phế tật), chỉ có những thầy thuốc
thần kinh bệnh viện mới có thể dùng một thuốc kháng ung thư, mitoxanthrone.
Những độc tính đối với tim và huyết học của thuốc này buộc một sự theo
dõi đến 5 năm sau khi cho thuốc.
Ghép sử dụng những tế bào riêng của chính bệnh nhân, được trích ra và
thanh lọc. Trong thời kỳ đầu, bệnh nhân nhận một cocktail các thuốc làm
giảm miễn dịch “chống phế bỏ” (médicaments immunosuppresseurs antirejet).
Rồi người ta thực hiện sự tiêm truyền các tế bào gốc này bằng đường tĩnh
mạch.
Những tế bào này có thể nói “mang lại sáng kiến” (réinitialiser) cho hệ
miễn dịch. Đối với G.S Olivier Lyon-Caen (Pitié-Salpetrière, Paris), điều
trị đổi mới này là một kỹ thuật nặng nề chỉ có chỉ định nơi vài bệnh nhân
mà những điều trị khác đã không có hiệu quả.
Kết quả : 31 tháng sau ghép những tế bào gốc của tủy xương này, 21 bệnh
nhân đã không bị một sự trở nặng nào của bệnh, và 17 trong số những bệnh
nhân này đã thấy các phế tật của mình được thu giảm một cách đáng kể.
Tuy vậy cần chú ý đừng để nảy sinh những hy vọng quá đáng. “Không có điều
trị nào trong những điều trị này có thể ngăn chặn được sự tiến triển thứ
phát muộn của bệnh xơ cứng rải rác, thường tích lũy những bại liệt thần
kinh”, Bs Caroline Papeix, khoa bệnh thần kinh trung ương của bệnh viện
Pitié-Salpêtrière, Paris, đã nhắc lại như vậy. (LE FIGARO 1/2/2009) Đọc
thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr101.htm
(TSYH 101, bài 6)
9/ CÁC NGUY CƠ MẮC PHẢI VIÊM TIỂU
PHẾ QUẢN
Cho nhũ nhi bú sữa mẹ là một trong những yếu tố làm giảm tỷ lệ mắc phải
chứng bệnh này.
Vào mùa đông, ở Pháp bệnh viêm tiểu phế quản (bronchiolite) gây bệnh cho
500.000 em bé ở Pháp. Bệnh nhiễm trùng do virus của các nhánh phế quản
này là rất gây nhiễm. Nhưng những nguy cơ một nhũ nhi mắc phải bệnh viêm
tiểu phế quản là những nguy cơ nào ? Mieke Koehoorn, thuộc Đại học Colombie-Britanique
ở Vancouver, và các đồng nghiệp đã nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh viêm tiểu
phế quản nơi hơn 90.000 trẻ em sinh ở Canada giữa năm 1999 và 2002.
Trong 90% các trường hợp, bệnh đó VRS (virus respiratoire syncitial humain),
được truyền dễ dàng bằng các giọt bé xíu được tống xuất lúc ho hay hắt
hơi, hay bởi các bàn tay và những đồ vật bị lây nhiễm, trên đó virus tồn
tại trong nhiều giờ. Siêu vi trùng này gây nên cảm cúm ở mọi lứa tuổi,
nhưng có thể sinh ra viêm tiểu phế quản nơi các nhũ nhi : các đường hô
hấp dưới, các tiểu phế quản, có thể bị lây nhiễm, hậu quả là sự trở ngại
hô hấp đưa đến sự biến đổi của quá trình oxy hóa của các cơ quan khác
nhau ; nhũ nhi có những khó khăn để đảm bảo các chức năng sinh tử trong
đó có dinh dưỡng.
Trong công trình nghiên cứu của Canada, hơn 13% các trẻ em đã bị viêm
tiểu phế quản trước khi được 1 tuổi và 1,7% đã bị nhập viện (để theo dõi
sự hô hấp của nhũ nhi, để cho oxy và tái bù dịch nếu cần thiết). Các nhũ
nhi càng có nguy cơ phát triển viêm tiểu phế quản khi chúng dưới 1 tuổi,
khi chúng được sinh ra từ người mẹ còn trẻ (dưới 20 tuổi), từ bố mẹ lớn
tuổi, khi chúng không được nuôi bằng sữa mẹ, khi chúng có một thể trọng
thấp (dưới 2,4 kg) vào lúc sinh, khi chúng bị những bất thường bẩm sinh
hay khi chúng cùng chung sống với những trẻ khác. Và xác suất bị một thể
nặng với suy hô hấp và xác suất phải nhập viện gia tăng nếu người mẹ hút
thuốc trong thời kỳ thai nghén.Tuy nhiên bệnh luôn luôn được chữa lành
một cách ngẫu nhiên, và nếu sự điều trị được tối ưu, thì sẽ không có biển
chứng hay di chứng. (POUR LA SCIENCE 2/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr109.htm
(TSYH 109, bài 9)
10/ DẦU OLIVE NGUYÊN CHẤT HIỆU
QUẢ CHỐNG UNG THƯ VÚ
Việc sử dụng dầu olive tinh chất có một hiệu quả để làm giảm nguy cơ ung
thư, đặc biệt là của vú, thật ra không phải là một điều mới mẻ. Nhưng
người ta chưa biết phần lớn của quá trình này. Chính vì thế, các nhà nghiên
cứu của Viện ung thư học catalan và của Đại học Grenade đã kiểm tra hoạt
tính sinh học (bioactivité) của các polyphénols hiện diện trong dầu nguyên
chất, trên những dòng tế bào ung thư. Họ công bố các kết quả trong số
vừa rồi của tạp chí khoa học BMC Cancer. Công trình nghiên cứu này xác
nhận hoạt tính sinh học trên ung thư vú của các polyphénol, những chất
chống oxy hóa tự nhiên hiện diện trong dầu olive nguyên chất.
Theo các tác giả, dầu olive cản lại tác dụng của protéine HER2 và tác
dụng gây ung thư của nó. Trong vài ung thư của vú, gène mã hóa protéine
HER2 được khuếch đại nơi 20-30% bệnh nhân. Sự sao lại (transcription)
được khuếch đại là do vài biến dị. Khả năng chống ung thư của những bộ
phận này đã được trắc nghiệm đối với ung thư vú HER2 dương tính cũng như
âm tính bằng cách sử dụng các mô hình in vitro và bằng cách đánh giá tác
dụng của các polyphénols trong sự biểu hiện và hoạt hóa của oncoprotéine
HER2.
Công trình nghiên cứu này chứng tỏ khả năng của các polyphénol ức chế
hoạt tính HER2 và xúc tiến sự thoái hóa chúng. Các kết quả này, thêm vào
sự việc là loài người đã tiêu thụ một cách an toàn sécoiridoides và lignanes
chứa trong olive và dầu olive, từ hàng trăm năm nay, chứng tỏ rằng các
chất này có thể là một cơ sở vững chắn để bào chế những hợp chất chống
ung thư mới. (LE SOIR 7/2-8/2/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(13/2/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |