Thời Sự Y Học số 112
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ THUỐC GÂY KHOÁI LẠC PHỤ NỮ.
Một thứ thuốc kích thích dục tính (libido) phụ nữ có thể sẽ xuất hiện trên thị trường ngay trong năm nay. Cuộc cách mạng này đã gây nhiều tranh cãi
“Cưng yêu dấu, em lên giường ngủ đi chứ? Khoan đã nào, em phải lấy viên thuốc flibansérine cái đã”. Đó là điều mà có lẽ chúng ta sẽ nghe các cặp vợ chồng sẽ nói thì thầm ngay trong năm nay. Thật vậy, flibansérine, đứa con sinh sau cùng của Hãng Bào chế Đức Boehringer Ingelheim, có thể được ghi vào trong lịch sử của dược điển như là chất kích thích ham muốn tình dục phụ nữ. Một cuộc cách mạng, cũng như lúc xuất hiện, vào năm 1998, của Viagra đối với đàn ông !
Hiện nay các trắc nghiệm đang được tiến hành trên 5000 phụ nữ ở Hoa Kỳ, ở Châu Âu và Canada. Nếu những kết quả được loan báo trong năm nay thỏa mãn, thuốc sẽ được lưu hành trên thị trường tiếp ngay sau đó. Thật đúng lúc, vài người đã nói như vậy: “Nhiều phụ nữ có nhiều khó khăn để đạt được dễ dàng sự ham muốn và khoái lạc, Philippe Brenot, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần và giám đốc giảng dạy sexologie ở đại học Paris-V đã chứng nhận như thế. Thế mà hiện nay, chúng ta không có thuốc để kê đơn cho họ.”
Vậy không còn phải chậm trễ được nữa. Nhất là nghiên cứu lại đang sôi nổi. Có không dưới một chục loại thuốc đang được thí nghiệm ở châu Âu hay ở Hoa Kỳ, trong đó flibansérine đứng đầu danh sách. Hãng dược phẩm Boehringer xác nhận rằng “thuốc flibansérine kích thích những nơi của não bộ liên kết với các cảm xúc và khoái lạc”. Mặc dầu “các nghiên cứu đang được tiến hành để biết rõ hơn cách tác dụng”, người ta đã biết rằng thuốc này tác dụng chủ yếu lên nồng độ sérotonine trong não bộ, một chất trung gian hóa học có liên hệ trong sự lo lắng và các cảm xúc. Trong một công trình nghiên cứu vào năm 2002, Franco Borsini, nhà nghiên cứu của phòng bào chế Ý, cũng gán cho nó một tác dụng lên các thụ thể của dopamine, chất dẫn truyền thần kinh can thiệp trong vòng khoái lạc (circuit du plaisir).
Trong trắc nghiệm đang được tiến hành, các phụ nữ tất cả đều có một bệnh lý mới, được mệnh danh là “rối loạn ham muốn tình dục thiếu hoạt động” (hypoactive sexual desire disorder (HSDD), trouble du désir sexuel hypoactif).
Sự đầu tư tài chánh đã đổ ra ồ ạt, được khích lệ bởi những kết quả của các công trình nghiên cứu sơ khởi của giai đoạn II, trong đó, theo phòng thí nghiệm, các bệnh nhân được điều trị với flibansérine “ đã cảm thấy ham muốn nhiều hơn và một thỏa mãn tính dục gia tăng ”.
Tuy nhiên cần ghi chú rằng để có hiệu quả người dùng phải là người bệnh ! Thuốc dường như chỉ tác dụng sau 6-8 tuần điều trị. Trái với Viagra, tác dụng gần như tức thời, đây đúng hơn là một điều trị lâu dài (traitement de fond). Dẫu sao đi nữa, “ flibansérine mang lại một ham muốn ở một mức bình thường ” . Mặc dầu không nói rõ thế nào là “ bình thường ”.
Tuy vậy, chất kích thích dục tính này suýt nữa có một định mệnh khác hẳn. Boehringer trước hết, trong những năm 1990, đã trắc nghiệm flibansérine để chống lại chứng trầm cảm. Các nhà nghiên cứu người Đức trông đợi một tác dụng nhanh của flibansérine trong chỉ định này. Nhanh hơn những điều trị với Prozac, Deroxat..đã có trên thị trường, điều này cho phép họ cạnh tranh với các thuốc chống trầm cảm này. Thế mà, với sự ngạc nhiên toàn thể, nếu những kết quả chống lại bệnh trầm cảm đã không có sức thuyết phục, các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy một tác dụng đáng kể lên dục tính của phụ nữ. Nhưng làm sao giải thích hiệu quả nghịch lý này trong khi các thuốc chống trầm cảm được biết là làm hạ dục tính ?
Trả lời của Boehringer : flibansérine, do cách tác dụng của nó, không thuộc vào họ của những IRS (inhibiteurs de la recapture de la sérotonine, loại Prozac, Deroxat, Zoloft,...). Các IRS làm gia tăng nồng độ sérotonine trong khớp thần kinh (synapse) bằng cách ngăn cản sự bắt giữ trở lại (recapture) trong neurone trước khớp thần kinh (neurone présynaptique). “ Trái lại, flibansérine tác dụng với tư cách chất chủ vận (agonist) của các thụ thể 5-HT1A và chất đối kháng của các thụ thể 5-HT2A.”, Kết luận của phòng bào chế : “ flibansérine không phải là thuốc chống trầm cảm ”, điều này đã mở đường cho những nghiên cứu khác. Thế mà Paolo D’Aquila thuộc đại học Swansea (Vương Quốc Anh), vào năm 1977, kết luận rằng những kết quả được quan sát nơi chuột cho thấy một tác dụng chống trầm cảm nhanh của flibansérine ” . Thế thì biết tin ai ?
Cần phải làm sáng tỏ vì cần phải biết rằng những thuốc chống trầm cảm có thể gây nên những hiện tượng làm mất ức chế (désinhibitiion), mà trong vài trường hợp có thể dẫn đến tự tử. Coi chừng sử dụng flibansérine như thuốc kích dục mà không được theo dõi ! Trong khi chờ đợi những xác nhận rõ ràng hơn, hãng Boehringer chỉ xác nhận rằng flibansérine nhìn toàn bộ là thuốc “dung nạp tốt”. Như vậy tránh được một bất ngờ tai hại. (SCIENCES ET AVENIR 2/2009)
2/ THUỐC LÁ : NGUY CƠ UNG THƯ ĐẠI-TRỰC TRÀNG

Nếu vai trò của thuốc lá trong nguy cơ xuất hiện một ung thư phổi (hay bàng quang) đã được chứng minh, thì vai trò của nó như yếu tố làm dễ các ung thư đại tràng và của trực tràng vẫn còn được bàn cãi. Một công trình phân tích méta (duyệt xét lại nhiều công trình nghiên cứu khác nhau) gồm 40.000 trường hợp ung thư đại-trực tràng vừa cho thấy rằng thuốc lá làm gia tăng 18% nguy cơ xuất hiện các ung thư này và gia tăng 25% nguy cơ tử vong. (PARIS MATCH 29/1-4/2/2009)
3/ TIÊM CHỦNG CHỐNG BỆNH CAO HUYẾT ÁP : GIẤC MƠ HAY HIỆN THỰC ?
Tiêm chủng chống lại cao huyết áp, ý tưởng thật là quyến rũ và ngày nay đang vững bước tiến lên. Trong số những lợi ích tiềm tàng, người ta nhắm đến sự cải thiện việc tuân thủ điều trị và do đó vào một sự kiểm tra tốt hơn. Nhưng trên thực tế không phải là đơn giản như vậy. Điểm tình hình với giáo sư J. Nussberger (Lausanne) (Thụy Sĩ).
Vào năm 2.000, người ta ước tính có 972 triệu người trưởng thành bị cao huyết áp trên thế giới, trong đó 333 triệu người trong các nước công nghiệp hóa. Đối với năm 2.005, người ta dự kiến một gia tăng 60% hay 1,56 tỷ người. Điều này nói lên tầm quan trọng của một vaccin phòng ngừa hay điều trị và thật ra sự quan tâm không phải mới có từ hôm qua.
Những nghiên cứu đầu tiên, bắt đầu từ năm 1951, nhưng phải đợi những năm 70, rồi 80 để thấy những tiêm chủng đầu tiên trên động vật với các kháng thể chống angiotensine II, phân tử có tác dụng co mạch làm kềm hãm sự tiết rénine. Những kết quả đầu tiên được đánh giá trên cơ sở đo các nồng độ angiotensine II và của rénine, chứng tỏ tính hiệu quả của sự tiêm chủng nhưng với cái giá của những thương tổn thận nghiêm trọng.
Ngày nay, kỹ thuật gây miễn dịch đã tiến triển và một thử nghiệm giai đoạn II, nhiều trung tâm, được khởi đầu theo sáng kiến của một nhóm nghiên cứu Đức-Thụy Sĩ. Vaccin anti-HTA CYT006-AngQb được cấu tạo bởi “ các phần tử giống virus ”, có một đường kính 30 nanomètre, được bao phủ bởi angiotensine II, cho phép kích thích tạo kháng thể.
Công trình bao gồm 72 bệnh nhân từ 18 đến 65 tuổi có cao huyết áp từ nhẹ đến trung bình. Các kết quả cho thấy một sự giảm 9 mmHg đối với huyết áp tâm thu và 4 đối với huyết áp tâm trương, với các con số vào buổi sáng sớm lần lượt 25 và 13 mmHg.
Sự kiện đáng chú ý là sự giảm huyết áp xảy ra vào buổi sớm, vào một thời điểm ta biết rằng rất quan trọng để các tai biến tim mạch xảy ra và không luôn luôn được kiểm soát bởi các thuốc chống cao áp vì những lý do dược lý. Tiếc thay, thời gian bán hủy của các kháng thể là ngắn, được ước tính là 4 tháng, điều này có nghĩa là một hiệu quả điều trị thường trực chỉ có được với nhiều mũi tiêm hàng năm. Điều tra về khả năng chịu thuốc cũng phát hiện những tác dụng phụ không những ở da mà còn toàn thân với một hội chứng cúm có thể hồi phục.
Những dữ kiện này là đầy hứa hẹn nhưng để tiến bước, phải thực hiện một công trình nghiên cứu lớn trên một số lượng quan trọng các bệnh nhân. (LE JOURNAL DU MEDECIN 23/1/2009)
4/ NHỮNG RỐI LOẠN GIẤC NGỦ NƠI NGƯỜI GIÀ : MỘT PHƯƠNG PHÁP KHÔNG DÙNG THUỐC
Một số lớn những người già kêu than về giấc ngủ : bị thức giấc thường xuyên, những thời gian ngủ ngắn hơn. Người thầy thuốc trước hết phải xác định đó là sự mất ngủ cần điều trị, hay chỉ là những than vãn lạm dụng về những biến đổi bình thường của giấc ngủ, do sự lão hóa sinh lý. Trong giai đoạn thứ hai, cố gắng chữa trị nhưng dành ưu tiên cho những phương pháp không dùng thuốc.
Những biểu đồ ghi bằng Holter cho thấy rằng độ dài thời gian của giấc ngủ hơi bị biến đổi giữa năm 50 và 90. Trong khi thời gian ngủ ban đêm giảm, trái lại người ta nhận thấy những đợt bù trừ vào ban ngày. Nhịp thức ngủ (rythme circadien) có khuynh hướng chênh lệch : giấc ngủ xảy ra sớm hơn vào buổi chiều, và những thức giấc sớm hơn vào buổi sáng. Một cách tổng quát, tuổi tác càng tăng, chất lượng của giấc ngủ càng kém tốt, và người ta ước tính khoảng 50% tỷ lệ những người già trên 65 tuổi kêu than về những rối loạn của giấc ngủ.
CÁC LOẠI MẤT NGỦ VÀ CÁC ĐIỀU TRỊ
Nơi các người già, những trường hợp mất ngủ mãn tính với bệnh kèm theo (bệnh vật lý hay tâm thần) là thường xảy ra hơn hết : những chứng mất ngủ thuộc loại này chiếm 65% các loại mất ngủ khác nhau, những loại mất ngủ khác theo thứ tự giảm dần là các mất ngủ tâm-sinh lý không có bệnh kèm theo (15%), những mất ngủ do dùng thuốc (15%) hay do một chất (12%), những mất ngủ do vệ sinh giấc ngủ không đầy đủ (5%) và những mất ngủ không rõ nguyên nhân hay cảm nhận giấc ngủ kém (3%).
Điều trị chứng mất ngủ được căn cứ trên, hoặc là những tiêu chuẩn triệu chứng (một bước dễ dàng dẫn đến một điều trị bằng thuốc), hoặc căn cứ trên những tiêu chuẩn động (nguyên nhân, tính chất, độ nghiêm trọng), gợi lên hơn một điều trị không dùng thuốc.
Việc điều trị dĩ nhiên phải xác định và loại bỏ càng nhiều càng tốt yếu tố hay những yếu tố căn nguyên. Những mất ngủ thứ phát, cấp tính hay bán cấp tính, trên nguyên tắc thích hợp hơn với điều trị bằng thuốc, mà người ta sẽ giới hạn trong thời gian.Trong tất các các trường hợp, việc xử trí điều trị cũng phải bao gồm những biện pháp về vệ sinh giấc ngủ. Để có một ý nghĩ chính xác hơn về tình trạng giấc ngủ, người thầy thuốc có thể yêu cầu người kêu mất ngủ sử dụng một “ agenda du sommeil ” : bệnh nhân ghi chép trong 2 tuần : giờ thiu ngủ, số giờ ngủ, thời điểm lúc lên giường và lúc ngủ dậy , những lần thức giấc, chất lượng giấc ngủ, trạng thái nghỉ ngơi sau khi thức giấc, việc sử dụng thuốc ngủ, những giấc ngủ trưa.
LIỆU PHÁP ÁNH SÁNG (LUMINOTHERAPIE)
Người ta biết rằng nơi tất cả các sinh vật có một đồng hồ sinh học, cho phép chương trình hóa sự vận hành chức năng của cơ thể. Tính chu kỳ thông thường nhất là nhịp thức ngủ (rythme circadien) kéo dài 24 giờ và chi phối hoạt động của chúng ta, đặc biệt là sự kế tiếp thức-ngủ. Những thời kỳ kế tiếp nhau ánh sáng và bóng tối là những bộ đồng bộ (synchronisateur) chính của chiếc đồng hồ này, qua trung gian của sự tiết mélatonine bởi tuyến tùng (épiphyse). Mélatonine là hormone điều hoà trung tâm của các nhịp thời-sinh học (rythme chrono-biologique).
Các công trình nghiên cứu cho thấy rằng vào lúc lão hóa có một sự giảm tiết mélatonine, nhất là nơi những người mất ngủ, có thể gây nên sự mất đồng bộ của nhịp thức-ngủ, thường nhất với một giấc ngủ sớm vào buổi chiều và những thức giấc sớm vào buổi sáng. Sự mất đồng bộ này (désynchronisation) cũng là nguồn gốc của rối loạn xúc cảm theo mùa, ảnh hưởng lên 3-6% dân số. Những công trình nghiên cứu cho trực tiếp mélatonine đã cho những kết quả gây tranh cãi. Ngoài ra, chất lượng của sản phẩm được sử dụng không thể kiểm soát được, bởi vì mélatonine không được xem như là một thứ thuốc. Liệu pháp ánh sáng (luminothérapie) gồm những buổi tiếp cận với một độ sáng mạnh (2.500-10.000 lux) vào mắt. Liệu pháp ánh sáng chuẩn khuyên một tiếp cận với ánh sáng 10.000 lux nơi mắt trong 30 phút mỗi ngày, thường vào buổi sáng hơn là buổi tối.
Có nhiều loại máy (đèn, kính đặc biệt) cho phép điều trị tại nhà và cũng hiệu quả như những máy ở bệnh viện. Liệu pháp ánh sáng tuy nhiên bị chống chỉ định trong nhiều bệnh lý về mắt (bệnh thể vàng, bệnh võng mạc, glaucome, bệnh đục thủy tinh thể). Những tác dụng phụ rất hiếm, thường giới hạn vào những triệu chứng đau đầu và kích thích mắt. (LE GENERALISTE 22/1/2009)
5/ NGỦ NGON CÓ TÁC DỤNG BẢO VỆ CHỐNG LẠI BỆNH CÚM
Nhiều công trình nghiên cứu đã gợi ý rằng những người ngủ ngon (bon dormeur) bảo vệ mình chống lại nhiễm trùng tốt hơn so với những người ngủ kém. Những thầy thuốc của đại học Pittsburgh đã chủng một rhinovirus bằng đường mũi cho 153 người tình nguyện thuộc hai giới tính, rồi đã theo dõi họ trên bình diện lâm sàng và miễn dịch. Kết quả : Những người ngủ dưới 7 giờ mỗi đêm có 3 lần nguy cơ bị mắc bệnh cúm hơn những người ngủ 8 giờ hoặc hơn mỗi đêm. (PARIS MATCH 29/1/2009-4/2/2009)
6/ TRÀ VÀ CÀ PHÊ CHỐNG LẠI CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ DO TUỔI TÁC
Caféine kích thích hệ thần kinh trung ương ngắn hạn, nhưng tác dụng về lâu về dài của nó là tác dụng nào ? Những nhà nghiên cứu Phần lan, cộng tác với một nhóm nghiên cứu của Viện Karolinska ở Stockholm, đã nghiên cứu sự liên kết giữa việc tiêu thụ cà phê và/hoặc trà ở tuổi 50 với chứng sa sút trí tuệ/bệnh Alzheimer về sau này trong cuộc đời.
Công trình nghiên cứu Cardiovascular Risk Factors, Aging and Dementia đã đưa vào nghiên cứu những người sống sót của Projet North Karelia và của công trình Finmonica năm 1972, 1977, 1982 hay 1987 (thăm khám lúc ở tuổi 50). Sau một theo dõi trung bình 21 năm, 1.409 người (71%) tuổi từ 65 đến 79 tuổi, chịu một thăm khám y khoa hoàn chỉnh năm 1998. 61 trường hợp sa sút trí tuệ (48 với Alzheimer) đã được nhận diện.
Vào lúc thăm khám ở tuổi 50, sự tiêu thụ cà phê và trà đã được ghi nhận và những người uống cà phê được xếp thành 3 loại : những người uống ít (0-2 tách/ngày), trung bình (3-5 tách/ngày) và uống nhiều (hơn 5 tách/ ngày). So sánh với những người không uống hoặc uống ít cà phê, những người uống vào lúc 50 tuổi có một nguy cơ mắc chứng sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer thấp hơn về sau này trong cuộc đời. Nguy cơ thấp nhất (giảm 65%) được nhận thấy nơi những người uống 3-5 tách cà phê mỗi ngày. Uống trà tương đối hiếm và không liên kết với chứng sa sút trí tuệ/Alzheimer. Đối với các tác giả, Marjo Eskelinen và các cộng sự, uống cà phê ở tuổi trung niên được liên kết với một sự giảm nguy cơ mắc phải sa sút trí tuệ /Alzheimer vào lúc lớn tuổi sau này. Khám phá này có thể mở ra những khả năng phòng ngừa, đặc biệt là dinh dưỡng, các chứng sa sút trí tuệ. (LE JOURNAL DU MEDECIN 23/1/2009)
7/ TẤT CẢ CÁC ÔNG ĐỀU NGÁY ?
Tất cả tùy thuộc vào lứa tuổi. Trước tuổi 30, cứ 10 người đàn ông chỉ có một người ngáy mà thôi ; sau 60, cứ 10 người có hơn 6 người bị chứng bệnh này. Ai từng ngủ bên cạnh một người ngáy đều biết rằng tiếng ồn phát ra là không thể chịu đựng nổi và không bao giờ có thể quen được với những tiếng ngáy như vậy ; tuy nhiên ngáy rất là phổ biến. Vào năm 1980, gần ¼ dân số của Cộng Hòa San Marino, một Quốc gia độc lập của Đông Bắc Ý, đã tham gia vào một công trình nghiên cứu về những rối loạn giấc ngủ. Trên 5.713 người được hỏi, 19% là những người thường ngáy (24% đàn ông và 13,8% phụ nữ).
Nhưng tần số này thay đổi tùy theo tuổi tác. Nếu dưới 30 tuổi, chỉ 10% đàn ông và dưới 5% phụ nữ ngáy, tỷ lệ này đạt đến 60% đàn ông và 40% phụ nữ sau tuổi 60 ; tại sao đàn ông ngáy nhiều hơn phụ nữ ? Trước hết chúng ta hãy nhìn xem những nguyên nhân của ngáy.
Khi chúng ta thở, không khí đi qua mũi, rồi vào hầu (họng) nằm phía sau mũi, lưỡi và nắp thanh quản (épiglotte). Sau đó không khí vào trong thanh quản, đến tận các lá phổi qua khí quản. Nằm giữa hai phần cứng là mũi và thanh quản, hầu (pharynx), cho phép không khí đi qua, có một thành màng (paroi membraneuse) mềm mại, được cấu tạo bởi các cơ. Hầu có thể đóng lại, nhất là khi ta thở vào: các thành của hầu sập xuống và ta có nguy cơ nuốt lưỡi nếu các cơ giãn không tránh được sự khép kín này vào thời kỳ đầu của kỳ thở vào. Nhưng khi ta ngủ, những cơ giãn này càng giãn ra khi ta ngủ càng sâu. Hầu khi đó hẹp hơn, làm cho không khí đi qua khó khăn hơn.
Trong lúc thức, luồng khí đi qua đều đặn. Trái lại, trong lúc ngủ, nếu khoảng không gian có sẵn cho khí đi qua không đầy đủ, luồng khi trở nên bị xoáy, làm rung tất các các mô mềm của vùng (đáy lưỡi, lưỡi gà, một phần của khẩu cái mềm và hầu). Những mô mềm này “ phấp phới ” và tạo ra một tiếng thở vào có âm sắc trầm : tiếng ngáy.
Nhiều yếu tố làm dễ sự ngáy. Về phương diện cơ thể học, vài người có một màn hầu (voile du palais) hay một lưỡi gà (luette) dài một cách bất thường, những hạnh nhân lớn, hay một hàm dưới nhỏ hay quá đưa ra đằng sau. Những yếu tố này làm hẹp các đường khí và gây nên ngáy. Chứng béo mập, làm cho lưỡi, các thành của hầu và cổ được bao phủ bởi mỡ, cũng gây nên ngáy. Sự việc ngủ nằm ngửa, làm lưỡi bị trụt ra sau, cũng làm gia tăng ngáy.
MỘT ỐNG KHÍ HẸP
Sự tiêu thụ rượu hay các thuốc ngủ cũng làm gia tăng sự giãn cơ. Cũng vậy, sự thiếu ngủ gây nên sự gia tăng lượng giấc ngủ chậm và sâu (sommeil lent profond), một giai đoạn trong đó ngáy quan trọng nhất (bởi vì sự giãn cơ đạt tối đa). Một cái mũi bị nghẹt, thí dụ lúc bị cúm, có thể gây nên ngáy, bởi vì mũi bị nghẹt buộc không khí chỉ đi qua miệng và bởi vì nó làm gia tăng cố gắng cần thiết để làm không khí lưu thông qua miệng.
Ngoài những yếu tố này ra, một người đàn ông có nhiều nguy cơ bị ngáy hơn, không những do người đàn ông có một thanh quản dô ra hơn, “ quả táo Adam ”, mà còn do một hầu hẹp hơn hầu của các phụ nữ. Chính những khác nhau cơ thể học này khiến cho đàn ông có một giọng nói trầm hơn, nhưng cũng làm giảm khoảng không gian cần thiết cho khí đi qua. Mặt khác, các hormone nữ (nhất là progestérone) làm giới hạn sự ngáy. Điều này giải thích tại sao các bà ngáy cũng gần như bằng các ông sau tuổi mãn kinh. Ngoài ra, thêm vào sự giãn cơ bình thường trong lúc ngủ là sự mất trương lực của các mô lúc tuổi tác gia tăng, điều này giải thích sự gia tăng của hiện tượng ngáy sau tuổi 60.
Sau đây là vài điều lưu ý để làm giảm ngáy lúc ngủ : đừng để bị mất ngủ, tránh uống rượu và dùng các thuốc ngủ vào lúc ngủ, thông mũi trước khi đi ngủ bằng nước muối, khi ngủ nằm nghiêng và gìn giữ thế nào để có một thể trọng bình thường. (POUR LA SCIENCE 2/2009)
8/ BỆNH HƯ KHỚP : CƠ CHẾ ĐÃ ĐƯỢC LÀM SÁNG TỎ ?
Nếu như sự lão hóa các khớp xương, thường được gọi là bệnh hư khớp (arthrose), là một chứng bệnh được hoàn toàn xác nhận, thì cơ chế chính xác làm phát khởi nó vẫn không được biết đến. Người ta biết rằng một loạt các biến cố dẫn đến sự phá hủy các sụn và sự sản xuất quá mức các mô xương : các chồi xương (ostéophytes), các mỏ vẹt (becs-de-perroquet)… Các men, được gọi là métalloprotéase, dưới ảnh hưởng của các ứng lực cơ học liên tiếp, tấn công collagène (cấu tạo 90% sụn khớp) và phá vỡ nó. Vài gène (đặc biệt là BMP-2) cũng được hoạt hóa và biến đổi sụn thành xương. Theo nhóm nghiên cứu của B.S Di Chen của đại học Rochester, Hoa Kỳ, tác nhân phát khởi sinh học của tất cả những phản ứng này là một protéine được gọi là bêta-caténine. Các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ điều đó nơi chuột và một phần trên những tế bào người. Đối với họ, các bêta-caténine sẽ là một " protéine ra tín hiệu ” (protéine de signalisation), lúc được kích thích bởi các lực cơ học hay những thương tổn tại chỗ (ví dụ ménisque), có thể lồng lên và phát khởi toàn bộ quá trình hư khớp. Do đó, phát triển các thuốc nhằm điều hoà những thặng dư protéine này có thể là một hướng nghiên cứu đầy hứa hẹn. (PARIS MATCH 25/12-31/12/2008)
9/ BỆNH HƯ KHỚP (ARTHROSE) : NHỮNG HỨA HẸN CỦA NGHIÊN CỨU
G.S Francis Berenbaum, trưởng khoa thấp khớp của bệnh viện Saint-Antoine AP-HP, giải thích những tiến bộ cho phép chống lại những cơ chế thật sự của bệnh hư khớp.
Hỏi : Bệnh khớp này xuất hiện với những triệu chứng nào ?
G.S Francis Berenbaum : Người bị bệnh bắt đầu chỉ kêu đau trong một khớp. Một trong những đặc điểm của bệnh hư khớp là sự đau đớn gia tăng lúc làm một cố gắng và giảm đi khi khớp được nghỉ ngơi. Ngoài những đau đớn, dần dần trở nên mãn tính, các đợt viêm xảy ra, có thể làm sung vùng khớp (với tràn dịch khớp) và làm thức dậy vào đêm. Chẩn đoán được xác nhận bằng chụp X quang. Bắt đầu từ 60 tuổi, tất cả mọi người đều bị hư khớp ít hay nhiều. Mặc dầu có 6 triệu người Pháp có một hư khớp nhưng không phải tất cả đều kêu đau.
Hỏi : Nguyên nhân của bệnh lý khớp này là gi ?
G.S F.B : Ở khớp, do sự thoái hóa, sụn mỏng dần đi. Có nhiều lý do giải thích 1. Một vài enzyme được sản sinh bởi các tế bào sụn bắt đầu phá hủy sụn. 2. Mới đây người ta đã khám phá một hiện tượng song hành khác : nơi khớp bị bệnh, các tế bào xương cũng tham gia vào quá trình tai hại này bằng cách kích thích sự phá hủy sụn. 3. Mô hoạt dịch (tissu synovial) (màng chung quanh khớp) có thể bị viêm. Nhiều yếu tố là nguồn gốc của bệnh hư khớp : di truyền, môi trường, tuổi tác...
Hỏi : Những khớp bia của bệnh lý này ?
G.S F.B : Những khớp của đầu gối (thường xảy ra nhất), của háng và của những bàn tay. Cũng có những hư khớp của vai, của mắt cá, của cùi chỏ...Và của lưng.
Hỏi : Hiện chúng ta có những loại thuốc nào và các kết quả của chúng ra sao ?
G.S F.B : Có 3 loại : một điều trị tổng quát có tác dụng nhanh, một có tác dụng chậm và một chỉ dùng tại chỗ. Tất cả đều nhằm làm giảm những đau đớn, nhưng không có thuốc nào có mục tiêu chữa lành cả. Trong loại đầu, người ta cho những thuốc chống đau, như paracétamol, các AINS (anti-inflammatoires non stéroidiens), tramadol...Song song với những điều trị này, người ta thường thực hiện nơi khớp những tiêm ngấm cortisone (đối với các đợt viêm) và tiêm acide hyaluronique (để giảm tần số các cơn). Một liệu pháp điều trị không dùng thuốc cũng cần thiết (gồm một hoạt động vật lý giữa các cơn). Những kết quả thường tồi: các người bệnh, được thuyên giảm một phần, phải học sống với các phế tật của mình.
Hỏi : Trong lãnh vực nghiên cứu, những bước tiến lớn là những bước tiến nào ?
G.S F.B : Những bước tiến này nằm ở hai mức độ. 1. Mức của điều trị các đau đớn : người ta muốn mang lại một chất lượng tốt hơn nhiều. 2. Ở mức chữa lành, người ta tìm cách làm chậm lại tối đa, hoặc làm ngưng, các thoái hóa khớp này
Hỏi : Về việc làm thuyên giảm các đau đớn, chúng ta đã tiến đến đâu rồi ?
G.S F.B : Những kết quả của một công trình nghiên cứu rộng rãi (giai đoạn II), so sánh với placebo, trên 220 người bị hư khớp gối, vừa được trình bày ở hội nghị thấp khớp Hoa Kỳ. Các bệnh nhân đã nhận một thuốc sinh liệu pháp (biothérapie) mới, nhằm vào các phân tử có liên quan trong sự đau đớn (như các anti-NGF). Điều trị này, nhằm làm giảm đau rất nhiều các bệnh nhân, được cho bằng những mũi tiêm dưới da, đều đặn, cách nhau nhiều tuần. Những kết quả rất là đáng phấn khởi, nhưng với cái giá của những tác dụng phụ (những cảm giác kiến bò trong bàn tay, bàn chân). Một công trình nghiên cứu khác giai đoạn III theo dự kiến được tiến hành với những liều thấp hơn để cải thiện tương quan lợi ích-nguy cơ.
Hỏi : Để làm chậm lại, thậm chí làm ngưng những thoái hóa khớp này, những nghiên cứu hiện nay đi đến đâu rồi ?
G.S F.B : Ngày nay, chúng ta tiến những bước dài trong những công trình có liên quan đến sự rối loạn của những tế bào xương, nhờ các thuốc đã được sử dụng trong điều trị chứng loãng xương, như ranélate de strontium hay một thuốc thuộc họ biphosphonate. Một công trình nghiên cứu rất rộng lớn hiện đang được tiến hành ở giai đoạn III, ở châu Âu và ở Canada, trên hàng trăm bệnh nhân bị hư khớp gối. Người ta chờ đợi những kết quả vào năm 2011. Người ta hy vọng có thể làm vô hiệu hóa được quá trình hủy hoại của sụn. Thử nghiệm khác đang được tiến hành về những tế bào xương : một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, lần này cho calcitonine bằng đường miệng. Trong bối cảnh của những điều trị nhằm làm ngưng quá trình hư khớp, cũng phải nói về những công trình, đang được tiến hành ở châu Âu và Hoa Kỳ, về một yếu tố tăng trưởng, FGF-18, được tiêm vào trong khớp. Những kết quả nơi động vật tỏ ra dương tính và những thử nghiệm nơi người đã bắt đầu được tiến hành.
Hỏi : Cũng có một công trình nghiên cứu đang tiến hành về hư khớp của các bàn tay ?
G.S F.B : Vâng. Nhiều công trình nghiên cứu được tiến hành ở Pháp và trong các nước châu Âu. Những nghiên cứu này đánh giá tác dụng của một thuốc sinh liệu pháp (biothérapie), adalimumab, nhằm vào một trong những phân tử của phản ứng viêm : TNF alpha. Người ta đang chờ đợi các kết quả vào năm 2010.
Hỏi : Trong trường hợp thành công, những điều trị này cũng sẽ có thể được sử dụng đối với hư khớp háng ?
G.S F.B : Đó là điều chúng ta có thể hy vọng, nhưng sẽ cần các nghiên cứu đặc biệt trước khi có thể xác nhận điều đó. (PARIS MATCH 11/12-17/12/2009)
10/ NHỮNG NGƯỜI ĂN CHAY ÍT BỊ CAO HUYẾT ÁP VÀ ĐÁI ĐƯỜNG
Nutrion : Những lợi ích được quan sát không những chỉ được gán cho chế độ ăn uống không có thịt, mà nhất là còn do một lối sống lành mạnh hơn.
Ở Pháp, theo Trung tâm thông tin về thịt, có 1% đến 2% người ăn chay. Trái với các thành kiến, ăn chay không phải là xấu đối với sức khỏe. Đó là điều được đánh giá bởi Bernard Guy-Grand, phó chủ tịch của viện dinh dưỡng Pháp, và Fernand Lamisse, giáo sư dinh dưỡng. Theo họ sự loại bỏ các thức ăn phát xuất từ thịt của các động vật trên đất dưới biển không có hậu quá về mặt thiếu dinh dưỡng (carence), nếu chúng ta “ liên kết các ngũ cốc với bộ đậu (légumineuses) trong một bữa ăn hay trong một ngày ” .Vào lúc đó, các protéine thực vật có một chất lượng có thể so sánh với các protéine động vật. Thật vậy, trong khung cảnh một chế độ ăn chay (régime végétarien) được theo dõi tốt, chính các ngũ cốc và bộ đậu mang lại phần lớn các protéines.
Về vitamine B12, hiện diện độc nhất trong các thức ăn nguồn gốc động vật, sự tiêu thụ sữa và trứng tránh cho người ăn chay bị thiếu vitamine này. Ngược lại, những người ăn chay không tiêu thụ các sản phẩm sữa và trứng bị nguy cơ thiếu vitamine B12 và thiếu máu. Không kể đến những cung cấp calcium không đầy đủ gây nên bởi loại dinh dưỡng này. Do đó những người ăn chay phải ăn các rau xanh và các trái cây giàu calcium như cải xoong (cresson), rau bi na (épinard), quả hạnh (amande), quả phỉ (noisettes) hay quả đào lạc (pistache).
Mặt khác, về phương diện sức khỏe, những công trình nghiên cứu dịch tễ đã cho thấy rằng những người ăn chay ít bị cao huyết áp và bị bệnh động mạch vành hơn. Theo Fernand Lamisse, đó không những “số lượng và tính chất của các mỡ được ăn vào, nghĩa là ít các axit béo bảo hòa hơn, mà còn là những thói quen đời sống (không hút thuốc, không uống rượu và một hoạt động vật lý có mức độ quan trọng hơn) giải thích những tác dụng có lợi này lên sức khỏe”. Ông cũng nhận xét rằng trong đại tràng, các sợi được ăn vào sinh ra các axit béo chuỗi ngắn, làm kềm hãm sự tổng hợp cholestérol bởi gan.
Về mặt béo phì và bệnh đái đường loại 2, những người ăn chay cũng có lợi. Số lượng quan trọng các sợi trong chế độ ăn của người ăn chay có một tác dụng làm no nê hơn, do đó những người ăn chay ăn với số lượng ít hơn. Nếu sự giảm tỷ lệ của vài ung thư đúng là được quan sát nơi những người ăn chay, thì sự giảm này chủ yếu được giải thích bởi sự tiêu thụ trái cây và rau xanh. Đó là chưa kể đến rằng sự hiện diện trong các cây thực vật nhiều chất chống oxy-hóa có đặc tính chống gây ung thư, ngay cả điều đó đã không bao giờ được chứng minh.
LÝ LẼ MÔI TRƯỜNG
Nói tóm lại, chính lối sống ảnh hưởng lên sức khỏe hơn là sự việc ăn chay. “ Lợi ích được quan sát không thể được quy cho việc không ăn thịt ” , Fernand Lamise đã đánh giá như vậy. Điều này có nghĩa là những “ động vật ăn tạp ” (omnivores), ăn từ 400 đến 800 gam trái cây và rau xanh mỗi ngày, cũng có thể thu được những lợi ích của một lối sống lành mạnh hơn.
Ở Pháp, ăn chay thường thuộc về một lựa chọn ý thức hệ hay triết lý, mặc dầu lý lẽ môi trường thường được đưa ra. Theo một nghiên cứu của Tổ chức lương nông của Liên Hiệp Quốc, sự sản xuất thịt trên thế giới là nguồn gốc của 20% của các khí có effet de serre được phát ra. Sản xuất một ki lô thị bò gây nên sự phát ra tương đương 36,4 kg thán khí (C02). (LE FIGARO 14/1/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH, (6/2/2009)

Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com


>>>back>>>

Tin Mới Y Học