 |
Thời
Sự Y Học số 111
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CICELY SAUNDERS (1918- 2005)
: LẮNG NGHE NỖI ĐAU ĐỚN TRỌN VẸN
Được tạo ra để tạm giải quyết những “ thiếu sót ” trong điều trị những
bệnh nhân đã đạt đến một giai đoạn mà bệnh không còn đáp ứng nữa với liệu
pháp chữa lành bệnh, những săn sóc điều trị được mệnh danh là làm giảm
tạm (soins palliatifs) từ nay là một bộ phận của y khoa. Trong lịch sử
điều trị làm giảm tạm (traitement palliatif), Cisely Saunders đã đóng
một vài trò quan trọng nhất.
Cicely, sinh ngày 22 tháng 6 năm 1918, là con gái trưởng của một gia đình
có 3 người con. Gia đình cô sống ở Londres. Suốt trong thời kỳ thơ ấu
và thiếu niên, cô đã phải thay đổi trường học nhiều lần, tính rụt rè bệnh
hoạn mà cô mắc phải đưa đến những khó khăn trong việc hội nhập. Cô khó
khăn trong việc kết bạn kết bè. Ngoài ra bố mẹ cô lại kinh qua nhiều vấn
đề đôi lứa (họ ly dị năm 1940) và điều đó chắc chắn phải làm gia tăng
nỗi khó ở của Cicely. Cô thi hỏng trong kỳ thi nhập học vào đại học Oxford.
Cô được ghi tên vào một danh sách chờ đợi ở Newham College de Cambridge
và cuối cùng được chấp nhận vào St Anne’s College Oxford. Cô quan tâm
về khoa chính trị học, kinh tế học và triết học. Nhưng vào năm 1939, chiến
tranh đã làm thay đổi các kế hoạch của cô. Cicely vào làm ở Hồng Thập
Tự và theo một khóa đào tạo y tá ở Nightingale School.
Cô bắt đầu hành nghề y tá ở St Thomas’s Hospital. Những điều kiện làm
việc vất vã, thời biểu nặng nề và thuốc men thì hiếm hoi. Để xoa dịu những
bệnh nhân trẻ đang chết dần vì bệnh lao hay nhiễm trùng huyết do những
vết thương chiến tranh, các y tá chẳng biết làm gì hơn là mang đến cho
các bệnh nhân này niềm cảm thông của họ. Pénicilline chỉ xuất hiện sau
D Day (ngày đổ bộ Normandie) và morphine được dùng một cách dè xẻn.
Năm 1944, Cicely bị đau lưng và chịu phẫu thuật cắt bỏ lá đốt sống (laminectomie).
Do không có khả năng theo đuổi công tác, cô đã theo học ở St Anne’s College
ở Oxford một khóa đào tạo và ra trường với văn bằng của người làm công
tác y học xã hội.
Năm 1947, Cisely trở lại St Thomas’ s Hospital. Bệnh viện này chuyên điều
trị các ung thư. Ở đây cô đã có một cuộc gặp gỡ quyết định với David Tasma.
David là một người Do thái gốc Ba Lan, 40 tuổi, người sống sót từ khu
Do Thái (ghetto) của Varsovie. Cicely phải lòng người đàn ông này, đang
chết cô đơn vì một căn bệnh ung thư trong một thành phố xa lạ, sau khi
đã sống sót nỗi kinh hoàng và đã mất những người thân thuộc. Lúc lắng
tai nghe, Cesely ý thức rằng phải đáp ứng không những các nhu cầu y tế
của những bệnh nhân này, mà còn cả những đòi hỏi về cảm xúc và sự tìm
kiếm tâm linh của họ nữa. Bệnh viện phải chăng thật sự là một môi trường
thích ứng đối với điều đó ? Khi đó David và Cicely tưởng tượng ra một
cơ sở điều trị, trong đó những người hấp hối có thể được tiếp nhận và
được làm thuyên giảm. Năm 1948, David, trong lúc hấp hối, đã để lại cho
Cicely một số tiền để “mở một cánh cửa sổ vào trong cơ sở điều trị tương
lai của cô”. Thiên chức này của Cicely, được gợi lên bởi một người sống
sót từ la Shoah (tiếng Do thái để chỉ sự sát hại hơn 5 triệu người Do
thái trong Đệ Nhị Thế Chiến), cũng đã gợi ý cho một nhân vật nữ vĩ đại
khác về việc đi kèm một người đang hấp hối (accompagnement au mourant)
: Elizabeth Kubler Ross, bà này bị ảnh hưởng bởi những cánh bướm mà các
trẻ em Do thái bị sát hại ở Majdanek đã vẽ nên.
Do đó Cicely quyết định săn sóc những người hấp hối và tạo nơi lý tưởng
để đi kèm họ. Cô theo ý kiến của một người bạn là thầy thuốc chuyên khoa
ngoại, ông này đánh giá rằng chỉ một văn bằng thầy thuốc mới sẽ cho cô
uy quyền cần thiết để thực hiện các kế hoạch của cô. Cicely bắt đầu học
y khoa năm 33 tuổi, vừa làm việc thiện nguyện ở bệnh viện St Luc. Trong
cơ sở điều trị này, được thành lập năm 1893 cho những người bị bệnh lao
và ung thư vào giai đoạn cuối của cuộc đời, ngay từ năm 1935, người ta
đã thực hiện sự giảm đau bằng cách cho các thuốc nha phiến bằng đường
miệng với những khoảng cách thời gian đều đặn để ngăn ngừa các triệu chứng
của các bệnh nhân. Một phương pháp cách mạng vào thời đó, chứng tỏ rằng
sự cải thiện chất lượng của cuộc sống vào giai đoạn cuối của bệnh nơi
những người hấp hối đã là mối quan tâm từ lâu của các thầy thuốc, trước
khi xuất hiện phong trào điều trị làm giảm tạm (soins palliatifs)
Năm 1957, một khi có văn bằng y khoa trong tay, B.S Cicely Saunders đã
ghi tên vào khoa dược cua St Mary’s Paddington để tiến hành những nghiên
cứu về việc kiểm soát những đau đớn trong giai đoạn cuối của bệnh. Đồng
thời, dưỡng đường St-Joseph des Soeurs de la charité irlandaise giao phó
cho cô một khoa 45 giường trong đó cô sẽ áp dụng những phương pháp mà
cô đã quan sát ở St Luc. Suốt trong thời gian quan sát, B.S Sauders phát
triển lý thuyết nói rằng việc cho đều đặn morphine, không những đã không
gây phụ thuộc (dépendance) và quen thuốc (accoutumance) đối với các chất
nha phiến, mà trái lại cho phép bệnh nhân chỉ nhận những liều lượng nhỏ,
điều này giữ cho bệnh nhân thức tỉnh và làm giảm thiểu ngay cả nguy cơ
nghiện thuốc. Nếu như bệnh nhân đòi hỏi một liều lượng mạnh hơn, đó là
một dấu hiệu tiến triển của bệnh ung thư chứ không phải là dấu hiệu của
sự phụ thuộc thuốc. Từ đó, lý thuyết này đã trở nên một nguyên tắc căn
bản trong việc xử trí đau đớn nơi những người ung thư ở giai đoạn cuối
của cuộc đời.
Sự đau đớn vật lý chỉ là một trong những khía cạnh của nỗi đau khổ mà
những bệnh nhân bị ung thư phải trải qua ở giai đoạn cuối của bệnh : cũng
phải xét đến những vấn đề về tâm lý, xã hội hay tinh thần. Và những vấn
đề này chỉ có thể được đề cập đến và làm thuyên giảm một khi sự đau đớn
vật lý đã được kiểm soát. “Tất cả là đau đớn, một hôm một người bệnh đã
nói với cô như vậy” : đó là ý niệm “Đau đớn toàn thể” (“total pain”),
ý niệm trung tâm trong sự điều trị làm giảm tạm (soins palliatifs).
Năm 1959, Cicely bắt đầu đặt nền tảng cho cơ sở điều trị mà cô đã hằng
ước mơ khi ở bên cạnh giường của David. Cô xuất bản hai văn bản. Nhu Cầu
(The Need) mô tả những nhu cầu của các bệnh nhân vào cuối cuộc đời và
của những người già cả. Kế Hoạch (The Scheme) mô tả những điều kiện tiếp
đón mà cô cho là cần thiết đối với những bệnh nhân vào giai đoạn cuối
: những căn phòng sáng sủa, khả năng vận chuyển dễ dàng các bệnh nhân
từ phòng này qua phòng khác, các salon với những ghế ngồi tiện nghi, và
một bầu không khí gia đình. Nơi này phải dễ chịu không những đối với các
bệnh nhân, mà còn đối với gia đình họ và những người thăm viếng. Những
trẻ em và những gia súc phải được chấp nhận cho vào nơi đó. Người ta phải
có thể cử hành ở đó những biến cố như ngày sinh nhật hay lễ cưới hỏi và
có thể đi dạo trong một công viên ở đó. Môi trường đó cũng là bầu không
khí làm việc nhiệt tình và thân mật giữa các thành viên của nhân viên
điều dưỡng. Trong Kế hoạch (The Scheme), Cisely mô tả Dưỡng đường St Christopher’s
Hospice tương lai. Là một người sùng đạo, cô cũng bố trí ở đó một nơi
tiếp đón phỏng theo tôn giáo, dự kiến nhà nguyện, sự có mặt của các nhà
thần học, các mục sư. Nhưng cô mong muốn về mặt này không có gì được áp
đặt lên bệnh nhân.
Dưỡng đường St Christopher chỉ mở cửa năm 1967 : đã cần đến 17 năm để
tìm ra một mảnh đất, để gây quỹ, để tạo nên một kíp. Trong thời gian đó
Cicely luôn luôn làm việc ở dưỡng đường St Joseph. Vào năm 1963, Cicely
gặp một họa sĩ Ba Lan, Marian Bohusz-Szyszko để đặt hàng một tranh vẽ
cho nhà nguyện tương lai của dưỡng đường St Christopher. Marian và Cicely
phải lòng nhau và cùng nhau chung sống cho đến năm 1980, là năm họ cưới
nhau. Marian qua đời năm 1995 ở dưỡng đường St Christopher.
Vào năm 1969, Dưỡng đường St Christophe được bổ sung một khoa nhập viện
tại nhà (service d’hospitalisation à domicile), cho phép bệnh nhân được
chết ở nhà nếu họ mong muốn. Vào năm 1971, một khoa theo dõi tang chế
(service de suivi de deuil) được thành lập.
Những năm 1970 chứng kiến các đơn vị và các trung tâm điều trị giảm tạm
được mở ra gần như khắp nơi trên thế giới : phong trào điều trị giảm tạm
(mouvement des soins palliatifs) trở thành phổ biến. Cánh cửa sổ của David
từ nay được rộng mở trên thế giới.
Năm 2001, BS Saunders và dưỡng đường Saint Christophe nhận giải thưởng
Conrad N. Hilton : “Giải thưởng này là sự công nhận rằng khoa học và lòng
nhân đạo cần thiết lẫn nhau và đó là điều mà dưỡng đường này muốn thể
hiện”, Cicely đã tuyên bố như vậy với báo Times.
Cho đến khi mất năm 2005, vào tuổi 85, Cicely lãnh đạo dưỡng đường St
Christophe và quyên góp quỹ cho các dưỡng đường và các bệnh viện.
“Tôi không muốn thay đổi thể giới, tôi chỉ muốn đấu tranh để chống lại
sự đau đớn mà thôi.” (LA SEMAINE MEDICALE 18/12/2008)
2/ MẤT NGỦ : TRÊN 55 TUỔI : MỘT
THUỐC ĐIỀU HÒA GIẤC NGỦ.
Sau Hội Nghị châu Âu về nghiên cứu giấc ngủ, G.S Yves Dauvilliers, thầy
thuốc chuyên khoa thần kinh (CHU Montpellier) giải
thích những lợi ích của một điều trị bằng mélatonine tổng hợp
Hỏi : Có nhiều người Pháp bị mất ngủ hay không ?
G.S Yves Dauvilliers : Trong đất nước chúng ta, trung bình 20% người kêu
ngủ không đủ giấc và 9% bị những hậu quả tai hại của một sự mất ngủ nghiêm
trọng. Đối với chúng tôi, là những thầy thuốc, phải biết phân biệt một
người bị bệnh mất ngủ (insomniaque) với một người ngủ kém (mauvais dormeur),
bởi vì thái độ xử trí không giống nhau. Trong trường hợp thứ nhất, bệnh
nhân bị “ bệnh 24 giờ ” gọi là bệnh mất ngủ (insomnie). Tại sao 24 giờ
? Bởi vi những rối loạn gây nên bởi sự thiếu ngủ sẽ làm xáo trộn ngày
hôm sau với sự mệt mỏi, bực bội, các rối loạn khí chất, giảm hiệu năng
trí tuệ và giảm sút sự chăm chú (vigilance). Những người ngủ kém (mauvais
dormeur) ngày hôm sau không bị những rối loạn đặc biệt ; những người này
chỉ cần cải thiện vệ sinh của đời sống của họ.
Hỏi : Pháp có phải là một trong những nước tiêu thụ nhiều
nhất các thuốc ngủ (hypnotiques)?
G.S Yves Dauvilliers : Trước 65 tuổi, 10% những người Pháp dùng đều đặn
một thuốc ngủ và 20 % trong trường hợp đột xuất. Sau 65 tuổi, tình hình
nghiêm trọng lên : ¼ dân chúng tự điều trị chứng mất ngủ, và 1/3 sau 75
tuổi. Mức tiêu thụ này có vẻ quá nhiều !
Hỏi : Những thuốc nào được dùng nhiều nhất để chống mất
ngủ ?
G.S Y.D : Có 3 loại. 1. Các benzodiazépines, các thuốc ngủ (hypnotiques),
bằng tác dụng an thần lên hệ thần kinh trung ương làm giảm sự hoạt hóa
của các neurone. Những thuốc này cải thiện thời gian thiu ngủ (temps d’endormissement)
và duy trì giấc ngủ, nhưng rất thường cho những tác dụng phụ, trong đó
có sự giảm những chức năng nhận thức và một sự mất ngủ dội ngược (insomnie
de rebond) khi ngừng điều trị . 2. Những thuốc tương cận với benzodiazépines,
đưa đến ít những tác dụng phụ hơn, nhưng không phải là vô hại. 3. Các
thuốc chống trầm cảm an thần (antidépresseurs sédatifs), có khả năng gây
những triệu chứng tai hại gần giống với trường hợp các benzodiazépines.
Việc cho toa những điều trị này thường được giới hạn trong 4 tuần, nhưng
thường các bệnh nhân tiếp tục sử dụng chúng lâu hơn... thậm chí nhiều
năm !
Hỏi : Những hậu quả của việc sử dụng lâu dài là gi ?
G.S Y.D : Sau một tháng, hiệu quả của thuốc giảm dần. Do đó, thường thường
người tiêu thụ gia tăng liều lượng hay liên kết thuốc với một thuốc an
thần khác. Kết quả : sự xuất hiện những rối loạn của sự chăm chú (trouble
de vigilance), của trí nhớ và của những chức năng nhận thức (fonctions
cognitives), của những triệu chứng trầm trọng dần với tuổi và có thể dẫn
đến những trạng thái lú lẫn. Sự ngừng điều trị khó khăn, bởi vì đưa đến
một hội chứng cai thuốc (syndrome de sevrage) và sự dội ngược chứng mất
ngủ và các cơn lo âu (crises d’angoisse).
Hỏi : Một điều trị bằng mélatonine mới đây đã được thương
mãi hóa ở Pháp. Tác dụng của nó là gì ?
G.S Y.D : Trước hết tôi phải nhắc lại vai trò của mélatonine, một hormone
tự nhiên, được tổng hợp trong não bộ và chỉ được sản sinh trong bóng tối.
Giấc ngủ được gây nên ngay khi hormone được tiết ra (với một cao điểm
vào khoảng 3 hay 4 giờ sáng). Vậy hormone này là một chỉ dấu của chiếc
đồng hồ sinh học của chúng ta ; ánh sáng ức chế sự sản sinh của mélatonine.
Thuốc điều trị mới này là một sản phẩm được tạo nên từ mélatonine, được
tổng hợp trong phòng thí nghiệm và có tác dụng kéo dài. Tác dụng của thuốc
này chủ yếu phỏng lại những tác dụng của mélatonine tự nhiên. Mục đích
của thuốc này là đạt được một sự điều hòa các nhịp thức-ngủ (rythme veille-sommeil).
Đó không phải là một thuốc ngủ cổ điển
Hỏi : Những nghiên cứu nào đã được thực hiện với mélatonine
tổng hợp này ?
G.S Y.D : 3 công trình nghiên cứu lớn có thời gian thực hiện nhiều tuần,
đã được tiến hành trên 600 người mất ngủ nặng trên 55 tuổi, trong đó một
nửa nhận một placebo. Một trong những công trình này đã thực hiện sự ghi
giấc ngủ (un enregistrement du sommeil) trong phòng thí nghiệm. Các kết
quả : nơi phần lớn các bệnh nhận được điều trị, vào ngày hôm sau, người
ta đã quan sát thấy một sự cải thiện rõ rệt chất lượng của giấc ngủ và
của khả năng chăm chú lúc ban ngày (vigilance diurne). Như vậy, tác dụng
đã tỏ ra thuận lợi trong vòng 24 giờ. Để được chính xác hơn, theo những
trả lời của các bảng câu hỏi, 48% nói là đã tìm lại được những đêm ngủ
bồi dưỡng (nuits réparatrices), 40% tuyên bố thỏa mãn về một khả năng
chăm chú ban ngày tốt hơn và 32,5% đã công nhận có được một giấc ngủ có
chất lượng tốt và đồng thời một sự cải thiện hiệu năng ban ngày. Lúc ngừng
điều trị, không có một hiện tượng phụ thuộc hay những tác dụng phụ có
hại nào được nêu lên, và người ta đã có thể quan sát rằng hiệu quả điều
trị vẫn còn tồn tại ít nhất hai tuần.
Hỏi : Những chỉ định chính của phép điều trị này ?
G.S Y.D : Phép điều trị này đặc biệt dành cho những người trên 55 tuổi,
mà sự mất ngủ không do một nguyên nhân đặc hiệu, như chứng trầm cảm, một
căn bệnh, vài đau đớn mãn tính.Về phương diện sinh lý, sự tiết mélatonine
giảm theo tuổi, vì thế phép điều trị này có lợi ích sau tuổi 50. Tôi muốn
kết luận một điều và có một lời khuyên quan trọng. Giấc ngủ là một chức
năng sinh tử : chính vào lúc ta ngủ mà sự tổng hợp của các protéine và
các hormone cần thiết cho đời sống được thực hiện. Một giấc ngủ ban đêm
có chất lượng bao hàm vài quy tắc về vệ sinh cuộc sống như một hoạt động
vật lý đều đặn, một sự tiếp xúc hàng ngày với ánh sáng và một sự giới
hạn thời gian trên giường, thời gian này tương ứng với thời gian của những
giờ ngủ. (PARIS-MATCH 22/1-28/1/2008)
3/ GIẤC NGỦ TỐT CHO TIM
Chất lượng và thời gian của giấc ngủ có thể trở thành những chỉ dấu y
tế như huyết áp hay những dữ kiện sinh học khác. Thật vậy nhiều công trình
nghiên cứu mới đây liên kết giấc ngủ với những bệnh lý rất khác nhau.
Những người ngủ nhiều (gros dormeurs) có một trái tim chắc chắn hơn, Christopher
Ryan King, thuộc đại học Chicago (Hoa Kỳ), đã xác nhận như thế trong một
bài báo của Jama. Trên 495 người được theo dõi trong 5 năm bởi nhà nghiên
cứu này và các đồng nghiệp của ông, những người đã ngủ trung bình thêm
1 giờ mỗi đêm có một nguy cơ ít hơn bị vôi hóa các động mạch vành, yếu
tố tiên đoán của các bệnh tim. Bệnh lý này đặc biệt được làm dễ bởi tình
trạng không dung nạp glucose (intolérance au glucose), chứng béo phì hay
cao huyết áp, những yếu tố nguy cơ cũng chịu ảnh hưởng của sự chuyển hóa
về đêm. Trong một lãnh vực khác, một công trình nghiên cứu, được thực
hiện bởi Trung tâm y tế đại học McGill ở Montréal, nêu lên rằng 52,4%
những bệnh nhân bị rối loạn hành vi trong giấc ngủ nghịch lý (TCSP : trouble
du comportement en sommeil paradoxal, được đặc trưng bởi những cử động
đột ngột, một trạng thái kích động hay những tiếng kêu la), phát triển
một bệnh thoái hóa thần kinh như Parkinson hay Alzheimer trong 12 năm
sau chẩn đoán khởi đầu. Những bệnh lý này hiện nay khó được chẩn đoán
một cách chắc chắn trước khi xuất hiện một giai đoạn rất tiến triển, bởi
vì các thầy thuốc thiếu các dữ kiện về các triệu chứng báo trước. Vậy,
biết ít nhất một triệu chứng là một bước tiến quan trọng. (SCIENCES
ET AVENIR 2/2009)
4/ TÁC DỤNG CỦA CÀ PHÊ LÊN HỆ THẦN
KINH TRUNG ƯƠNG
Những điều chứng thực khác nhau làm ta nghĩ rằng bệnh Parkinson ít thường
xảy ra nơi những người tiêu thụ cà phê so với những người khác. Ngoài
ra, những kết quả của 13 công trình nghiên cứu được thực hiện năm 2002
đã cho thấy rằng nguy cơ phát triển bệnh Parkinson thấp hơn 1/3 nơi những
người tiêu thụ cà phê so với những người không tiêu thụ. Năm vừa rồi,
hai công trình nghiên cứu được thực hiện ở Phần Lan đã xác nhận điều chứng
thực này. Tuy nhiên một sự khác nhau được quan sát giữa phụ nữ và đàn
ông. Vào năm 2003, một công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng nguy cơ
phát triển bệnh Parkinson giảm nếu phụ nữ không sử dụng điều trị hormone
thay thế sau thời kỳ mãn kinh. Ngược lại, những phụ nữ theo điều trị hormone
với chất cơ bản là oestrogène và uống cà phê và caféine, có nhiều nguy
cơ phát triển bệnh Parkinson hơn. Tuy nhiên những dữ kiện này cần những
cuộc nghiên cứu khác.
Người ta cũng đã xác lập rõ rằng cà phê ảnh hưởng lên quá trình nhận thức
(processus cognitif). Thí dụ nơi những người già, sự tiêu thụ cà phê giúp
chống lại chứng lãng quên. Một vài công trình nghiên cứu đề xuất rằng
caféine có thể góp phần làm chậm lại sự tiến triển của bệnh Alzheimer
và/ hoặc làm chậm lại sự phát triển của bệnh này. Thật vậy, một công trình
nghiên cứu được thực hiện bởi Lindsay và các cộng sự viên, trên 6.000
người già trên 65 tuổi hay hơn, đã cho thấy rằng nguy cơ phát triển bệnh
Alzheimer giảm đi với sự tiêu thụ cà phê hay với sự thực hiện hoạt động
vật lý đều đặn. Cà phê cũng làm giảm những nguy cơ của sa sút trí nhớ,
công trình HALE (Healthy Aging : a longitudinal in Europe) đã chứng nhận
điều đó. (LA MAGAZINE DES GLEMS 11/2008)
5/
VÀI BIỆN PHÁP VỆ SINH GIẤC NGỦ
1. Dành thời gian trên giường cho giấc ngủ và những hoạt động tình dục.
Loại bỏ khỏi giường mọi hoạt động không phù hợp với giấc ngủ : đọc sách
báo, xem truyền hình, ăn uống...
2. Không thay đổi giờ ngủ (không quá sớm !) và nhất là giờ thức.
3. Tránh những giấc ngủ trưa trong trường hợp rối loạn giấc ngủ.
4. Tập thể dục trong ngày (đừng vào lúc tối )
5. Tránh những bữa ăn thịnh soạn vào buổi chiều, nhưng chăm lo sao ăn
uống được đầy đủ. Tránh những chất kích thích : cà phê, rượu, thuốc lá.
6. Chăm lo những điều kiện môi trường tốt : nhiệt độ, ánh sáng, tiếng
động.
7. Tránh nghiền ngẫm. Trái lại tìm kiếm những gì mang lại sự yên tĩnh
và thanh thản.
8. Không tự cho thuốc ngủ.
Sự thiết đặt những phương thức này cần thời gian và sự kiên nhẫn. Sự mất
ngủ và sự tăng thể trọng có điểm chung là để đạt được chúng dễ hơn là
mất chúng. (LE GENERALISTE 22/1/2009)
6/ BỆNH XƯƠNG PAGET (MALADIE OSSEUSE
DE PAGET)
Nhà giải phẫu người Anh sir James Paget đã đặt tên ông cho ba bệnh. Bệnh
mà chúng ta đề cập đến trong bài này là bệnh xương của Paget (MOP : Maladie
Osseuse de Paget), cũng được gọi là viêm xương biến dạng (ostéite déformante),
được mô tả năm 1877, hai bệnh khác là những bệnh Paget định vị ở vú và
ngoài vú (thường là định vị ở âm hộ), liên kết với một carcinome intradermique.
Bệnh xương Paget hiếm khi xảy ra trước 40 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh khó xác
định, vì lẽ thời kỳ tiềm phục lâm sàng dài : tỷ lệ này biến thiên giữa
3 và 5%, gây bệnh cho đàn ông thường hơn đàn bà.
SINH LÝ BỆNH LÝ.
MOP được đặc trưng bởi một sự tăng hoạt của các hủy cốt bào (ostéoclaste),
là những tác nhân chính của sự tu chỉnh (remodelage) thường trực xảy ra
ở xương. Sự tu chỉnh xương quá mức và hỗn loạn này đưa đến sự phá vỡ cấu
trúc xương và hình thái của xương. Bệnh này có một khuynh hướng di truyền
rõ rệt.
“ BÁC SĨ ƠI, TÔI
KHÔNG ĐỘI MŨ ĐƯỢC ”
Một sự gia tăng viên chu sọ (périmètre cranien) đôi khi là một cách thể
hiện bệnh của MOP, gây nên điều mà trong những cuốn sách xưa nhất người
ta gọi là dấu hiệu của chiếc mũ (signe du chapeau). Những cuốn sách này
có từ thời mà khi đi ra ngoài chẳng ai mà không đội mũ. Hiện nay, MOP
thường được khám phá nhất lúc khám X quang, nhân các triệu chứng đau xương.
Những định vị xương, theo thứ tự giảm dần, là xương chậu, các đốt sống
thắt lưng, xương đùi, cột sống lưng, xương cùng, xương sọ, xương chày
(tibia).
CÁC DẤU HIỆU X QUANG
Những dấu hiệu quang tuyến đặc trưng là những bất thường hình dáng (phì
đại), những bất thường cấu trúc (các vỏ xương dày lên, cấu trúc sợi của
xương) và bất thường mật độ (aspect ouaté). Những hiện tượng tiêu xương
(ostéolyse) nổi bật trong giai đoạn khởi đầu, dạng vẻ gây nhầm lẩn vì
thường được giải thích như là thương tổn u xương. Vài dạng vẻ quang tuyến
đặc biệt cho những tên gợi hình tượng, thí dụ các đốt sống “ hình khung
” (les vertèbres “en cadre”) (do phì đại vỏ xương) hay “hình ngà voi”
(ivoires) (do xương bị cô đặc toàn bộ và đồng đều), hay xương chày cong
“thành lưỡi kiếm” (en lame de sabre). Một scintigraphie osseuse được đòi
hỏi để lập bản đồ (cartographier) các thương tổn trên bộ xương và phát
hiện những ổ thương tổn không nhìn thấy được trên X quang. (LE
GENERALISTE 8/1/2009)
7/ UNG THƯ CHẲNG BAO LÂU
NỮA LÀ TAI ƯƠNG ĐỨNG ĐẦU THẾ GIỚI
Theo một báo cáo của Trung tâm quốc tế nghiên cứu ung thư (Circ), một
trong những cơ quan của OMS, vào năm 2010, ung thư sẽ trở nên, trước những
bệnh tim mạch, tai ương phổ biến nhất của loài người. Vào năm 2007, hơn
12 triệu trường hợp mới đã được chẩn đoán trên thế giới. Người ta dự kiến
sẽ tăng gấp đôi các trường hợp vào năm 2030 ! Các nước nghèo sẽ có nhiều
nạn nhân nhất.
“ Một thách thức đối với tất cả các hệ thống y tế ”, Peter Boyle, giám
đốc của Circ đã tuyên bố như vậy. (PARIS MATCH 22/1-28/1/2009)
8/ NHỮNG CẶN CỦA KHÓI THUỐC
ĐE DỌA SỨC KHOẺ CỦA CÁC TRẺ EM
Môi trường : Theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, các trẻ em rất
bị nhiễm bởi các độc tố ngấm vào nội thất của các ngôi nhà ở của những
người nghiện thuốc lá.
Sau nhiễm thuốc lá thụ động (tabagisme passif), bây giờ là nhiễm thuốc
lá cực kỳ thụ động (tabagisme ultrapassif). Nhiều bố mẹ hút thuốc nghĩ
rằng họ bảo vệ các con mình bằng cách làm thoáng khí căn phòng mà họ vừa
châm một điếu thuốc lá. Nhưng sự biến mất của làn khói thuốc không có
nghĩa là sự biến mất của những nguy cơ đối với sức khỏe. Những cặn bã
độc do việc đốt thuốc lá, ăn sâu dài lâu vào các cửa kính, tấm thảm và
những đồ gỗ khác, cũng có tác dụng độc hại, những thầy thuốc Hoa Kỳ đã
báo động như vậy trong tạp chí chuyên khoa Pediatrics. Theo công trình
nghiên cứu, hiện tượng nhiễm độc thuốc lá “bàn tay thứ ba”, như các nhà
nghiên cứu đã mệnh danh như thế, còn chưa được biết đến bởi đại chúng,
trong khi đó là một lý lẽ có trọng lượng để cấm toàn bộ việc hút thuốc
trong các nhà ở
Acide cyanhydrique, monoxyde de carbone, arsenic, polonium 210... Khói
thuốc chứa hơn 4.000 sản phẩm hóa học, trong đó 50 được nhận biết sinh
ung thư. Nơi những người trưởng thành tiếp xúc đều đặn với khói thuốc
một cách không cố ý (nhiễm độc thuốc lá thụ động) những nguy cơ đối với
sức khỏe cũng giống như đối với những người hút thuốc. Những trẻ em chịu
nhiễm độc thuốc lá do cha mẹ hút thuốc, dễ mắc các nhiễm trùng tai mũi
họng và hen phế quản.
Để bảo vệ những người thân thích ở nhà, nhiều người nghiện thuốc chỉ hút
trong vài căn phòng của ngôi nhà hay làm thoáng khí cho đến khi màn khói
thuốc biến mất. Nhưng những thận trọng này không đủ, BS Jonathan Winickoff
(Massachusetts General Hospital de Boston) đã đánh giá như vậy. “Nhiều
công trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng những nồng độ độc cao của thuốc
lá vẫn tồn tại trong nhà kể cả sau khi ngừng hút thuốc ”.
ĐƯỢC TÍCH TRỮ TRONG CÁC TẤM THẢM.
Mặc dầu không thể nhìn thấy được bằng mắt trần, nhưng có khả năng chịu
trách nhiệm mùi thuốc lá lạnh tồn tại dai dẳng, những độc tố thuốc lá
này đọng thành những lớp bụi trên tất cả các bề mặt (tấm thảm lát sàn,
đồ đạc ..) hay vẫn treo lơ lửng trong không khí trong nhiều ngày, hoặc
nhiều tháng. Các trẻ em khi bò, chơi gần mặt đất, nuốt bụi hai lần nhiều
hơn so với những người trưởng thành chịu sự ô nhiễm này nhất, các thầy
thuốc Hoa Kỳ đã đánh giá như vậy.Tuy vậy, công cuộc điều tra của họ, được
tiến hành nơi 1.500 hộ khắp Hoa Kỳ cho thấy rằng hiện tượng này vẫn không
được biết đến. Đại đa số những người được hỏi (những người hút thuốc hay
không hút thuốc) thật sự được thông tin về những tai hại của thuốc lá
thụ động. Nhưng chỉ 65 % những người không hút thuốc và 43% những người
hút thuốc là ý thức rằng “hút không khí của một căn phòng trong đó có
người đã hút thuốc hôm trước có thể có những hậu quả có hại lên sức khỏe
của các trẻ em”. Thế mà những người được thông tin nhất này là những người
có khuynh hướng thiết đặt một sự cấm đoán toàn diện sự hút thuốc lá tại
nhà, B.S Winickoff đã nhận xét như vậy. Theo ông, ý niệm nhiễm độc thuốc
lá “bàn tay thứ ba” (tabagisme de “troisième main”) phải là một phần của
những thông điệp y tế cộng đồng về thuốc lá. (LE FIGARO
13/1/2009)
9/ SỰ TRUYỀN TRONG GIA ĐÌNH
CỦA CÁC BỆNH TÂM THẦN
Psychiatrie : Một công trình nghiên cứu được tiến hành trên 9 triệu người
trong 30 năm xác nhận rằng bệnh loạn tâm thần hưng-trầm cảm (psychose
maniaco-dépressive) và bệnh tâm thần phân liệt (schizophrénie) có những
nguồn gốc di truyền chung. Các bệnh tâm thần vẫn là một bí ẩn đối với
những thầy thuốc vì nhiều lẽ, mặc dầu các tiến bộ về chẩn đoán và điều
trị đã được thực hiện. Vào giờ phút vinh quang của phân tâm học và antipsychiatrie,
những bệnh này đã được gán một phần cho những rối loạn của sự tương tác
xảy ra sớm giữa mẹ và đứa con, hay là của các rối loạn của sự trao đổi
trong gia đình. Từ đó, nhiều cuộc điều tra đã chỉ cho thấy rằng yếu tố
di truyền là quan trọng, nhưng không phải là yếu tố duy nhất gây bệnh.
Một trong những công trình nghiên cứu lớn về chủ đề này, được công bố
hôm nay trong tạp chí y khoa The Lancet, vừa phân tích, đối với 9 triệu
người được theo dõi trong 30 năm, sự truyền bệnh trong các gia đình của
bệnh tâm thần phân liệt và loạn tâm thần hưng-trầm cảm. Đi từ công trình
nghiên cứu này, nhiều kết luận cần thiết : một mặt, hai bệnh này có những
nguồn gốc chung, mặt khác, đúng là có một sự truyền di truyền đối với
các bệnh này.
Để đi đến những kết quả này, tác giả, giáo sư Paul Lichtenstein, nhà dịch
tễ học thuộc viện Karolinska ở Stockholm, và nhóm nghiên cứu đã đặt trong
mối tương quan giữa những phiếu hộ tịch và các sổ ghi của các bệnh viện
tâm thần. Họ đã sử dụng các dữ kiện liên quan đến 2 triệu gia đình giữa
năm 1973 và 2004. Trong dân số này, người ta đếm được 35.985 trường hợp
tâm thần phân liệt và 40.487 trường hợp loạn tâm thần hưng-trầm cảm (cũng
được gọi là những rối loạn lưỡng cực). Mục tiêu là xác định nguy cơ mắc
bị bệnh tâm thần phân liệt hay loạn tâm thần hưng-trầm cảm, đối với một
người nào đó, tùy theo trong gia đình anh ta có hiện diện hay không những
người bị bệnh lý này hay bệnh lý kia. Những kết quả xác nhận tính chất
di truyền rõ rệt của những bệnh lý này (64% đối với tâm thần phân liệt
và 59% đối với những rối loạn lưỡng cực). Nguy cơ là 9 lần quan trọng
hơn khi ta có một người anh hay chị bị bệnh tâm thần phân liệt.
NHỮNG YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG
Đối với loạn tâm thần hưng trầm cảm, nguy cơ 8 lần cao hơn khi có một
anh hay chị bị bệnh. Công trình nghiên cứu này cũng cho thấy rằng nếu
chúng ta có một người anh hay một người chị bị bệnh tâm thần phân liệt,
chúng ta sẽ có 3,7 lần nguy cơ lớn hơn bị bệnh tâm thần phân liệt. Mặt
khác, những con nuôi, có cha mẹ sinh học bị nhưng rối loạn lưỡng cực,
cũng có một nguy cơ gia tăng phát triển bệnh tâm thần phân liệt. Sự nổi
trội của di truyền đối với một khung cảnh xã hội là rõ ràng và điều này,
mặc dầu những yếu tố môi trường đóng một vai trò không phải là không đáng
kể .
Thầy thuốc tâm thần Bruno Etain, làm việc trong nhóm tâm thần học di truyền
của nhóm bệnh viện Chenevier-Mondor de Créteil, đánh giá rằng lợi ích
lớn của bài báo này là đã nghiên cứu một số lượng rất quan trọng các gia
đình trong khi những nghiên cứu trước đây chỉ được tiến hành trên vài
trăm trường hợp. Bruno Etain nói rằng trong các năm qua, nhiều công trình
nghiên cứu đã được tiến hành để khảo sát vai trò của di truyền trong các
bệnh này. “Thế nhưng không nên quên những yếu tố môi trường, ông đã nhấn
mạnh như thế. Những yếu tố môi trường được nghi ngờ là cúm trong thời
kỳ thai nghén, một vài rétrovirus nội tại, toxoplasmose và virus gây bệnh
herpès. Thêm vào đó là những biến chứng sản khoa, sinh đẻ kéo dài và có
biến chứng, nhiễm trùng chu sinh (infections périnatales). Nhưng cũng
có vai trò là những tiền sử chấn thương lúc còn nhỏ, bị lạm dụng tình
dục, các rối loạn cảm xúc. Mặc dầu có tính chất khoa học, di truyền không
có khả năng tiên đoán tương lai. (LE FIGARO 16/1/2009)
10/ NHỮNG TRIỆU CHỨNG CỦA
BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT VÀ RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC
Những thể nhẹ trong hai bệnh này là thường xảy ra.
Vào cuối thế kỷ XIX, khi nhà tâm thần học người Đức Krepelin lần đầu tiên
đã nhận diện bệnh tâm thần phân liệt (schizophrénie) và bệnh loạn tâm
thần hưng- trầm cảm (psychose maniaco-dépressive), ông đã nhanh chóng
tự hỏi không biết đó thật sự là hai bệnh lý riêng biệt hay không. Thật
vậy, những bệnh này có một số những triệu chứng chung. Mặt khác, mỗi bệnh
đã được mô tả trong một dạng điển hình, nhưng những thể nhẹ tương đối
thường xảy ra hiện diện trong hai trường hợp.
Bệnh tâm thần phân liệt, được mô tả một cách nhầm lẫn như là một sự tách
đôi nhân cách (dédoublement de la personalité), có liên quan đến khoảng
0,8% dân số. Những triệu chứng đầu tiên xuất hiện giữa 15 và 25 tuổi.
Lúc khởi đầu, bệnh đôi khi bị lẩn lộn với một cơn tuổi thiếu niên (une
crise d’adolescence), điều này làm cho chẩn đoán bị chậm lại. Bệnh được
đặc trưng bởi những triệu chứng thay đổi đối với mỗi bệnh nhân, với những
rối loạn được gọi là “dương tính” như ảo giác (hallucination), các cơn
mê sảng (bouffées délirantes) và những triệu chứng được gọi là “âm tính”
như thu rút mình lại (repli sur soi), nín thinh (mutisme). Sự uống rượu
và dùng chất ma túy bị cấm chỉ vì hai lý do. Sự tiêu thụ này làm hại hiệu
quả của điều trị và làm dễ những tái phát. Điều trị bằng thuốc cho phép
làm giới hạn các triệu chứng. Sự hỗ trợ tâm lý (soutien psychologique),
cũng như những quy tắc vệ sinh đời sống cải thiện chất lượng cuộc sống
của các bệnh nhân
Bệnh loạn tâm thần hưng trầm cảm hay bệnh lưỡng cực, theo đúng nghĩa,
gây bệnh cho 1% dân số. Nếu người ta tính đến những thể nhẹ, tỷ lệ này
đạt đến 4%. Dạng điển hình được đặc trưng bởi những rối loạn tính khí,
với một sự kế tiếp nhau nơi cùng bệnh nhân, những cơn hưng phấn (kích
động quá mức hay sự hứng khởi khí chất), và những cơn trầm cảm. Trong
thời kỳ hưng phấn, bệnh nhân có thể vui vẻ, nói nhiều, cựa quậy không
yên, tư duy bị rối loạn. Mặt khác, đó là một trong những lý do bệnh nhân
thường không muốn được săn sóc điều trị. Những trị liệu, các thuốc điều
hòa khí chất hay thuốc an thần, có tác dụng làm dịu sự kích động, trong
khi những bệnh nhân ở giai đoạn hưng phấn cho rằng cuộc đời của họ vui
hơn trước khi được điều trị. Giữa các cơn, bệnh nhân có thể có một cuộc
sống bình thường và điều này kéo dài trong nhiều tháng, thậm chí nhiều
năm. Với một điều trị cân đối, nói chung các bệnh nhân có một hoạt động
nghề nghiệp và gia đình bình thường. (LE FIGARO 16/1/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (1/2/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |