Thời Sự Y Học số 111
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ CICELY SAUNDERS (1918- 2005) : LẮNG NGHE NỖI ĐAU ĐỚN TRỌN VẸN
Được tạo ra để tạm giải quyết những “ thiếu sót ” trong điều trị những bệnh nhân đã đạt đến một giai đoạn mà bệnh không còn đáp ứng nữa với liệu pháp chữa lành bệnh, những săn sóc điều trị được mệnh danh là làm giảm tạm (soins palliatifs) từ nay là một bộ phận của y khoa. Trong lịch sử điều trị làm giảm tạm (traitement palliatif), Cisely Saunders đã đóng một vài trò quan trọng nhất.
Cicely, sinh ngày 22 tháng 6 năm 1918, là con gái trưởng của một gia đình có 3 người con. Gia đình cô sống ở Londres. Suốt trong thời kỳ thơ ấu và thiếu niên, cô đã phải thay đổi trường học nhiều lần, tính rụt rè bệnh hoạn mà cô mắc phải đưa đến những khó khăn trong việc hội nhập. Cô khó khăn trong việc kết bạn kết bè. Ngoài ra bố mẹ cô lại kinh qua nhiều vấn đề đôi lứa (họ ly dị năm 1940) và điều đó chắc chắn phải làm gia tăng nỗi khó ở của Cicely. Cô thi hỏng trong kỳ thi nhập học vào đại học Oxford. Cô được ghi tên vào một danh sách chờ đợi ở Newham College de Cambridge và cuối cùng được chấp nhận vào St Anne’s College Oxford. Cô quan tâm về khoa chính trị học, kinh tế học và triết học. Nhưng vào năm 1939, chiến tranh đã làm thay đổi các kế hoạch của cô. Cicely vào làm ở Hồng Thập Tự và theo một khóa đào tạo y tá ở Nightingale School.
Cô bắt đầu hành nghề y tá ở St Thomas’s Hospital. Những điều kiện làm việc vất vã, thời biểu nặng nề và thuốc men thì hiếm hoi. Để xoa dịu những bệnh nhân trẻ đang chết dần vì bệnh lao hay nhiễm trùng huyết do những vết thương chiến tranh, các y tá chẳng biết làm gì hơn là mang đến cho các bệnh nhân này niềm cảm thông của họ. Pénicilline chỉ xuất hiện sau D Day (ngày đổ bộ Normandie) và morphine được dùng một cách dè xẻn.
Năm 1944, Cicely bị đau lưng và chịu phẫu thuật cắt bỏ lá đốt sống (laminectomie). Do không có khả năng theo đuổi công tác, cô đã theo học ở St Anne’s College ở Oxford một khóa đào tạo và ra trường với văn bằng của người làm công tác y học xã hội.
Năm 1947, Cisely trở lại St Thomas’ s Hospital. Bệnh viện này chuyên điều trị các ung thư. Ở đây cô đã có một cuộc gặp gỡ quyết định với David Tasma. David là một người Do thái gốc Ba Lan, 40 tuổi, người sống sót từ khu Do Thái (ghetto) của Varsovie. Cicely phải lòng người đàn ông này, đang chết cô đơn vì một căn bệnh ung thư trong một thành phố xa lạ, sau khi đã sống sót nỗi kinh hoàng và đã mất những người thân thuộc. Lúc lắng tai nghe, Cesely ý thức rằng phải đáp ứng không những các nhu cầu y tế của những bệnh nhân này, mà còn cả những đòi hỏi về cảm xúc và sự tìm kiếm tâm linh của họ nữa. Bệnh viện phải chăng thật sự là một môi trường thích ứng đối với điều đó ? Khi đó David và Cicely tưởng tượng ra một cơ sở điều trị, trong đó những người hấp hối có thể được tiếp nhận và được làm thuyên giảm. Năm 1948, David, trong lúc hấp hối, đã để lại cho Cicely một số tiền để “mở một cánh cửa sổ vào trong cơ sở điều trị tương lai của cô”. Thiên chức này của Cicely, được gợi lên bởi một người sống sót từ la Shoah (tiếng Do thái để chỉ sự sát hại hơn 5 triệu người Do thái trong Đệ Nhị Thế Chiến), cũng đã gợi ý cho một nhân vật nữ vĩ đại khác về việc đi kèm một người đang hấp hối (accompagnement au mourant) : Elizabeth Kubler Ross, bà này bị ảnh hưởng bởi những cánh bướm mà các trẻ em Do thái bị sát hại ở Majdanek đã vẽ nên.
Do đó Cicely quyết định săn sóc những người hấp hối và tạo nơi lý tưởng để đi kèm họ. Cô theo ý kiến của một người bạn là thầy thuốc chuyên khoa ngoại, ông này đánh giá rằng chỉ một văn bằng thầy thuốc mới sẽ cho cô uy quyền cần thiết để thực hiện các kế hoạch của cô. Cicely bắt đầu học y khoa năm 33 tuổi, vừa làm việc thiện nguyện ở bệnh viện St Luc. Trong cơ sở điều trị này, được thành lập năm 1893 cho những người bị bệnh lao và ung thư vào giai đoạn cuối của cuộc đời, ngay từ năm 1935, người ta đã thực hiện sự giảm đau bằng cách cho các thuốc nha phiến bằng đường miệng với những khoảng cách thời gian đều đặn để ngăn ngừa các triệu chứng của các bệnh nhân. Một phương pháp cách mạng vào thời đó, chứng tỏ rằng sự cải thiện chất lượng của cuộc sống vào giai đoạn cuối của bệnh nơi những người hấp hối đã là mối quan tâm từ lâu của các thầy thuốc, trước khi xuất hiện phong trào điều trị làm giảm tạm (soins palliatifs)
Năm 1957, một khi có văn bằng y khoa trong tay, B.S Cicely Saunders đã ghi tên vào khoa dược cua St Mary’s Paddington để tiến hành những nghiên cứu về việc kiểm soát những đau đớn trong giai đoạn cuối của bệnh. Đồng thời, dưỡng đường St-Joseph des Soeurs de la charité irlandaise giao phó cho cô một khoa 45 giường trong đó cô sẽ áp dụng những phương pháp mà cô đã quan sát ở St Luc. Suốt trong thời gian quan sát, B.S Sauders phát triển lý thuyết nói rằng việc cho đều đặn morphine, không những đã không gây phụ thuộc (dépendance) và quen thuốc (accoutumance) đối với các chất nha phiến, mà trái lại cho phép bệnh nhân chỉ nhận những liều lượng nhỏ, điều này giữ cho bệnh nhân thức tỉnh và làm giảm thiểu ngay cả nguy cơ nghiện thuốc. Nếu như bệnh nhân đòi hỏi một liều lượng mạnh hơn, đó là một dấu hiệu tiến triển của bệnh ung thư chứ không phải là dấu hiệu của sự phụ thuộc thuốc. Từ đó, lý thuyết này đã trở nên một nguyên tắc căn bản trong việc xử trí đau đớn nơi những người ung thư ở giai đoạn cuối của cuộc đời.
Sự đau đớn vật lý chỉ là một trong những khía cạnh của nỗi đau khổ mà những bệnh nhân bị ung thư phải trải qua ở giai đoạn cuối của bệnh : cũng phải xét đến những vấn đề về tâm lý, xã hội hay tinh thần. Và những vấn đề này chỉ có thể được đề cập đến và làm thuyên giảm một khi sự đau đớn vật lý đã được kiểm soát. “Tất cả là đau đớn, một hôm một người bệnh đã nói với cô như vậy” : đó là ý niệm “Đau đớn toàn thể” (“total pain”), ý niệm trung tâm trong sự điều trị làm giảm tạm (soins palliatifs).
Năm 1959, Cicely bắt đầu đặt nền tảng cho cơ sở điều trị mà cô đã hằng ước mơ khi ở bên cạnh giường của David. Cô xuất bản hai văn bản. Nhu Cầu (The Need) mô tả những nhu cầu của các bệnh nhân vào cuối cuộc đời và của những người già cả. Kế Hoạch (The Scheme) mô tả những điều kiện tiếp đón mà cô cho là cần thiết đối với những bệnh nhân vào giai đoạn cuối : những căn phòng sáng sủa, khả năng vận chuyển dễ dàng các bệnh nhân từ phòng này qua phòng khác, các salon với những ghế ngồi tiện nghi, và một bầu không khí gia đình. Nơi này phải dễ chịu không những đối với các bệnh nhân, mà còn đối với gia đình họ và những người thăm viếng. Những trẻ em và những gia súc phải được chấp nhận cho vào nơi đó. Người ta phải có thể cử hành ở đó những biến cố như ngày sinh nhật hay lễ cưới hỏi và có thể đi dạo trong một công viên ở đó. Môi trường đó cũng là bầu không khí làm việc nhiệt tình và thân mật giữa các thành viên của nhân viên điều dưỡng. Trong Kế hoạch (The Scheme), Cisely mô tả Dưỡng đường St Christopher’s Hospice tương lai. Là một người sùng đạo, cô cũng bố trí ở đó một nơi tiếp đón phỏng theo tôn giáo, dự kiến nhà nguyện, sự có mặt của các nhà thần học, các mục sư. Nhưng cô mong muốn về mặt này không có gì được áp đặt lên bệnh nhân.
Dưỡng đường St Christopher chỉ mở cửa năm 1967 : đã cần đến 17 năm để tìm ra một mảnh đất, để gây quỹ, để tạo nên một kíp. Trong thời gian đó Cicely luôn luôn làm việc ở dưỡng đường St Joseph. Vào năm 1963, Cicely gặp một họa sĩ Ba Lan, Marian Bohusz-Szyszko để đặt hàng một tranh vẽ cho nhà nguyện tương lai của dưỡng đường St Christopher. Marian và Cicely phải lòng nhau và cùng nhau chung sống cho đến năm 1980, là năm họ cưới nhau. Marian qua đời năm 1995 ở dưỡng đường St Christopher.
Vào năm 1969, Dưỡng đường St Christophe được bổ sung một khoa nhập viện tại nhà (service d’hospitalisation à domicile), cho phép bệnh nhân được chết ở nhà nếu họ mong muốn. Vào năm 1971, một khoa theo dõi tang chế (service de suivi de deuil) được thành lập.
Những năm 1970 chứng kiến các đơn vị và các trung tâm điều trị giảm tạm được mở ra gần như khắp nơi trên thế giới : phong trào điều trị giảm tạm (mouvement des soins palliatifs) trở thành phổ biến. Cánh cửa sổ của David từ nay được rộng mở trên thế giới.
Năm 2001, BS Saunders và dưỡng đường Saint Christophe nhận giải thưởng Conrad N. Hilton : “Giải thưởng này là sự công nhận rằng khoa học và lòng nhân đạo cần thiết lẫn nhau và đó là điều mà dưỡng đường này muốn thể hiện”, Cicely đã tuyên bố như vậy với báo Times.
Cho đến khi mất năm 2005, vào tuổi 85, Cicely lãnh đạo dưỡng đường St Christophe và quyên góp quỹ cho các dưỡng đường và các bệnh viện.
“Tôi không muốn thay đổi thể giới, tôi chỉ muốn đấu tranh để chống lại sự đau đớn mà thôi.” (LA SEMAINE MEDICALE 18/12/2008)
2/ MẤT NGỦ : TRÊN 55 TUỔI : MỘT THUỐC ĐIỀU HÒA GIẤC NGỦ.
Sau Hội Nghị châu Âu về nghiên cứu giấc ngủ, G.S Yves Dauvilliers, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh (CHU Montpellier) giải thích những lợi ích của một điều trị bằng mélatonine tổng hợp
Hỏi : Có nhiều người Pháp bị mất ngủ hay không ?
G.S Yves Dauvilliers : Trong đất nước chúng ta, trung bình 20% người kêu ngủ không đủ giấc và 9% bị những hậu quả tai hại của một sự mất ngủ nghiêm trọng. Đối với chúng tôi, là những thầy thuốc, phải biết phân biệt một người bị bệnh mất ngủ (insomniaque) với một người ngủ kém (mauvais dormeur), bởi vì thái độ xử trí không giống nhau. Trong trường hợp thứ nhất, bệnh nhân bị “ bệnh 24 giờ ” gọi là bệnh mất ngủ (insomnie). Tại sao 24 giờ ? Bởi vi những rối loạn gây nên bởi sự thiếu ngủ sẽ làm xáo trộn ngày hôm sau với sự mệt mỏi, bực bội, các rối loạn khí chất, giảm hiệu năng trí tuệ và giảm sút sự chăm chú (vigilance). Những người ngủ kém (mauvais dormeur) ngày hôm sau không bị những rối loạn đặc biệt ; những người này chỉ cần cải thiện vệ sinh của đời sống của họ.
Hỏi : Pháp có phải là một trong những nước tiêu thụ nhiều nhất các thuốc ngủ (hypnotiques)?
G.S Yves Dauvilliers : Trước 65 tuổi, 10% những người Pháp dùng đều đặn một thuốc ngủ và 20 % trong trường hợp đột xuất. Sau 65 tuổi, tình hình nghiêm trọng lên : ¼ dân chúng tự điều trị chứng mất ngủ, và 1/3 sau 75 tuổi. Mức tiêu thụ này có vẻ quá nhiều !
Hỏi : Những thuốc nào được dùng nhiều nhất để chống mất ngủ ?
G.S Y.D : Có 3 loại. 1. Các benzodiazépines, các thuốc ngủ (hypnotiques), bằng tác dụng an thần lên hệ thần kinh trung ương làm giảm sự hoạt hóa của các neurone. Những thuốc này cải thiện thời gian thiu ngủ (temps d’endormissement) và duy trì giấc ngủ, nhưng rất thường cho những tác dụng phụ, trong đó có sự giảm những chức năng nhận thức và một sự mất ngủ dội ngược (insomnie de rebond) khi ngừng điều trị . 2. Những thuốc tương cận với benzodiazépines, đưa đến ít những tác dụng phụ hơn, nhưng không phải là vô hại. 3. Các thuốc chống trầm cảm an thần (antidépresseurs sédatifs), có khả năng gây những triệu chứng tai hại gần giống với trường hợp các benzodiazépines. Việc cho toa những điều trị này thường được giới hạn trong 4 tuần, nhưng thường các bệnh nhân tiếp tục sử dụng chúng lâu hơn... thậm chí nhiều năm !
Hỏi : Những hậu quả của việc sử dụng lâu dài là gi ?
G.S Y.D : Sau một tháng, hiệu quả của thuốc giảm dần. Do đó, thường thường người tiêu thụ gia tăng liều lượng hay liên kết thuốc với một thuốc an thần khác. Kết quả : sự xuất hiện những rối loạn của sự chăm chú (trouble de vigilance), của trí nhớ và của những chức năng nhận thức (fonctions cognitives), của những triệu chứng trầm trọng dần với tuổi và có thể dẫn đến những trạng thái lú lẫn. Sự ngừng điều trị khó khăn, bởi vì đưa đến một hội chứng cai thuốc (syndrome de sevrage) và sự dội ngược chứng mất ngủ và các cơn lo âu (crises d’angoisse).
Hỏi : Một điều trị bằng mélatonine mới đây đã được thương mãi hóa ở Pháp. Tác dụng của nó là gì ?
G.S Y.D : Trước hết tôi phải nhắc lại vai trò của mélatonine, một hormone tự nhiên, được tổng hợp trong não bộ và chỉ được sản sinh trong bóng tối. Giấc ngủ được gây nên ngay khi hormone được tiết ra (với một cao điểm vào khoảng 3 hay 4 giờ sáng). Vậy hormone này là một chỉ dấu của chiếc đồng hồ sinh học của chúng ta ; ánh sáng ức chế sự sản sinh của mélatonine. Thuốc điều trị mới này là một sản phẩm được tạo nên từ mélatonine, được tổng hợp trong phòng thí nghiệm và có tác dụng kéo dài. Tác dụng của thuốc này chủ yếu phỏng lại những tác dụng của mélatonine tự nhiên. Mục đích của thuốc này là đạt được một sự điều hòa các nhịp thức-ngủ (rythme veille-sommeil). Đó không phải là một thuốc ngủ cổ điển
Hỏi : Những nghiên cứu nào đã được thực hiện với mélatonine tổng hợp này ?
G.S Y.D : 3 công trình nghiên cứu lớn có thời gian thực hiện nhiều tuần, đã được tiến hành trên 600 người mất ngủ nặng trên 55 tuổi, trong đó một nửa nhận một placebo. Một trong những công trình này đã thực hiện sự ghi giấc ngủ (un enregistrement du sommeil) trong phòng thí nghiệm. Các kết quả : nơi phần lớn các bệnh nhận được điều trị, vào ngày hôm sau, người ta đã quan sát thấy một sự cải thiện rõ rệt chất lượng của giấc ngủ và của khả năng chăm chú lúc ban ngày (vigilance diurne). Như vậy, tác dụng đã tỏ ra thuận lợi trong vòng 24 giờ. Để được chính xác hơn, theo những trả lời của các bảng câu hỏi, 48% nói là đã tìm lại được những đêm ngủ bồi dưỡng (nuits réparatrices), 40% tuyên bố thỏa mãn về một khả năng chăm chú ban ngày tốt hơn và 32,5% đã công nhận có được một giấc ngủ có chất lượng tốt và đồng thời một sự cải thiện hiệu năng ban ngày. Lúc ngừng điều trị, không có một hiện tượng phụ thuộc hay những tác dụng phụ có hại nào được nêu lên, và người ta đã có thể quan sát rằng hiệu quả điều trị vẫn còn tồn tại ít nhất hai tuần.
Hỏi : Những chỉ định chính của phép điều trị này ?
G.S Y.D : Phép điều trị này đặc biệt dành cho những người trên 55 tuổi, mà sự mất ngủ không do một nguyên nhân đặc hiệu, như chứng trầm cảm, một căn bệnh, vài đau đớn mãn tính.Về phương diện sinh lý, sự tiết mélatonine giảm theo tuổi, vì thế phép điều trị này có lợi ích sau tuổi 50. Tôi muốn kết luận một điều và có một lời khuyên quan trọng. Giấc ngủ là một chức năng sinh tử : chính vào lúc ta ngủ mà sự tổng hợp của các protéine và các hormone cần thiết cho đời sống được thực hiện. Một giấc ngủ ban đêm có chất lượng bao hàm vài quy tắc về vệ sinh cuộc sống như một hoạt động vật lý đều đặn, một sự tiếp xúc hàng ngày với ánh sáng và một sự giới hạn thời gian trên giường, thời gian này tương ứng với thời gian của những giờ ngủ. (PARIS-MATCH 22/1-28/1/2008)
3/ GIẤC NGỦ TỐT CHO TIM
Chất lượng và thời gian của giấc ngủ có thể trở thành những chỉ dấu y tế như huyết áp hay những dữ kiện sinh học khác. Thật vậy nhiều công trình nghiên cứu mới đây liên kết giấc ngủ với những bệnh lý rất khác nhau. Những người ngủ nhiều (gros dormeurs) có một trái tim chắc chắn hơn, Christopher Ryan King, thuộc đại học Chicago (Hoa Kỳ), đã xác nhận như thế trong một bài báo của Jama. Trên 495 người được theo dõi trong 5 năm bởi nhà nghiên cứu này và các đồng nghiệp của ông, những người đã ngủ trung bình thêm 1 giờ mỗi đêm có một nguy cơ ít hơn bị vôi hóa các động mạch vành, yếu tố tiên đoán của các bệnh tim. Bệnh lý này đặc biệt được làm dễ bởi tình trạng không dung nạp glucose (intolérance au glucose), chứng béo phì hay cao huyết áp, những yếu tố nguy cơ cũng chịu ảnh hưởng của sự chuyển hóa về đêm. Trong một lãnh vực khác, một công trình nghiên cứu, được thực hiện bởi Trung tâm y tế đại học McGill ở Montréal, nêu lên rằng 52,4% những bệnh nhân bị rối loạn hành vi trong giấc ngủ nghịch lý (TCSP : trouble du comportement en sommeil paradoxal, được đặc trưng bởi những cử động đột ngột, một trạng thái kích động hay những tiếng kêu la), phát triển một bệnh thoái hóa thần kinh như Parkinson hay Alzheimer trong 12 năm sau chẩn đoán khởi đầu. Những bệnh lý này hiện nay khó được chẩn đoán một cách chắc chắn trước khi xuất hiện một giai đoạn rất tiến triển, bởi vì các thầy thuốc thiếu các dữ kiện về các triệu chứng báo trước. Vậy, biết ít nhất một triệu chứng là một bước tiến quan trọng. (SCIENCES ET AVENIR 2/2009)
4/ TÁC DỤNG CỦA CÀ PHÊ LÊN HỆ THẦN KINH TRUNG ƯƠNG
Những điều chứng thực khác nhau làm ta nghĩ rằng bệnh Parkinson ít thường xảy ra nơi những người tiêu thụ cà phê so với những người khác. Ngoài ra, những kết quả của 13 công trình nghiên cứu được thực hiện năm 2002 đã cho thấy rằng nguy cơ phát triển bệnh Parkinson thấp hơn 1/3 nơi những người tiêu thụ cà phê so với những người không tiêu thụ. Năm vừa rồi, hai công trình nghiên cứu được thực hiện ở Phần Lan đã xác nhận điều chứng thực này. Tuy nhiên một sự khác nhau được quan sát giữa phụ nữ và đàn ông. Vào năm 2003, một công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng nguy cơ phát triển bệnh Parkinson giảm nếu phụ nữ không sử dụng điều trị hormone thay thế sau thời kỳ mãn kinh. Ngược lại, những phụ nữ theo điều trị hormone với chất cơ bản là oestrogène và uống cà phê và caféine, có nhiều nguy cơ phát triển bệnh Parkinson hơn. Tuy nhiên những dữ kiện này cần những cuộc nghiên cứu khác.
Người ta cũng đã xác lập rõ rằng cà phê ảnh hưởng lên quá trình nhận thức (processus cognitif). Thí dụ nơi những người già, sự tiêu thụ cà phê giúp chống lại chứng lãng quên. Một vài công trình nghiên cứu đề xuất rằng caféine có thể góp phần làm chậm lại sự tiến triển của bệnh Alzheimer và/ hoặc làm chậm lại sự phát triển của bệnh này. Thật vậy, một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi Lindsay và các cộng sự viên, trên 6.000 người già trên 65 tuổi hay hơn, đã cho thấy rằng nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer giảm đi với sự tiêu thụ cà phê hay với sự thực hiện hoạt động vật lý đều đặn. Cà phê cũng làm giảm những nguy cơ của sa sút trí nhớ, công trình HALE (Healthy Aging : a longitudinal in Europe) đã chứng nhận điều đó. (LA MAGAZINE DES GLEMS 11/2008)
5/ VÀI BIỆN PHÁP VỆ SINH GIẤC NGỦ
1. Dành thời gian trên giường cho giấc ngủ và những hoạt động tình dục. Loại bỏ khỏi giường mọi hoạt động không phù hợp với giấc ngủ : đọc sách báo, xem truyền hình, ăn uống...
2. Không thay đổi giờ ngủ (không quá sớm !) và nhất là giờ thức.
3. Tránh những giấc ngủ trưa trong trường hợp rối loạn giấc ngủ.
4. Tập thể dục trong ngày (đừng vào lúc tối )
5. Tránh những bữa ăn thịnh soạn vào buổi chiều, nhưng chăm lo sao ăn uống được đầy đủ. Tránh những chất kích thích : cà phê, rượu, thuốc lá.
6. Chăm lo những điều kiện môi trường tốt : nhiệt độ, ánh sáng, tiếng động.
7. Tránh nghiền ngẫm. Trái lại tìm kiếm những gì mang lại sự yên tĩnh và thanh thản.
8. Không tự cho thuốc ngủ.
Sự thiết đặt những phương thức này cần thời gian và sự kiên nhẫn. Sự mất ngủ và sự tăng thể trọng có điểm chung là để đạt được chúng dễ hơn là mất chúng. (LE GENERALISTE 22/1/2009)
6/ BỆNH XƯƠNG PAGET (MALADIE OSSEUSE DE PAGET)
Nhà giải phẫu người Anh sir James Paget đã đặt tên ông cho ba bệnh. Bệnh mà chúng ta đề cập đến trong bài này là bệnh xương của Paget (MOP : Maladie Osseuse de Paget), cũng được gọi là viêm xương biến dạng (ostéite déformante), được mô tả năm 1877, hai bệnh khác là những bệnh Paget định vị ở vú và ngoài vú (thường là định vị ở âm hộ), liên kết với một carcinome intradermique.
Bệnh xương Paget hiếm khi xảy ra trước 40 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh khó xác định, vì lẽ thời kỳ tiềm phục lâm sàng dài : tỷ lệ này biến thiên giữa 3 và 5%, gây bệnh cho đàn ông thường hơn đàn bà.
SINH LÝ BỆNH LÝ.
MOP được đặc trưng bởi một sự tăng hoạt của các hủy cốt bào (ostéoclaste), là những tác nhân chính của sự tu chỉnh (remodelage) thường trực xảy ra ở xương. Sự tu chỉnh xương quá mức và hỗn loạn này đưa đến sự phá vỡ cấu trúc xương và hình thái của xương. Bệnh này có một khuynh hướng di truyền rõ rệt.
“ BÁC SĨ ƠI, TÔI KHÔNG ĐỘI MŨ ĐƯỢC ”
Một sự gia tăng viên chu sọ (périmètre cranien) đôi khi là một cách thể hiện bệnh của MOP, gây nên điều mà trong những cuốn sách xưa nhất người ta gọi là dấu hiệu của chiếc mũ (signe du chapeau). Những cuốn sách này có từ thời mà khi đi ra ngoài chẳng ai mà không đội mũ. Hiện nay, MOP thường được khám phá nhất lúc khám X quang, nhân các triệu chứng đau xương. Những định vị xương, theo thứ tự giảm dần, là xương chậu, các đốt sống thắt lưng, xương đùi, cột sống lưng, xương cùng, xương sọ, xương chày (tibia).
CÁC DẤU HIỆU X QUANG
Những dấu hiệu quang tuyến đặc trưng là những bất thường hình dáng (phì đại), những bất thường cấu trúc (các vỏ xương dày lên, cấu trúc sợi của xương) và bất thường mật độ (aspect ouaté). Những hiện tượng tiêu xương (ostéolyse) nổi bật trong giai đoạn khởi đầu, dạng vẻ gây nhầm lẩn vì thường được giải thích như là thương tổn u xương. Vài dạng vẻ quang tuyến đặc biệt cho những tên gợi hình tượng, thí dụ các đốt sống “ hình khung ” (les vertèbres “en cadre”) (do phì đại vỏ xương) hay “hình ngà voi” (ivoires) (do xương bị cô đặc toàn bộ và đồng đều), hay xương chày cong “thành lưỡi kiếm” (en lame de sabre). Một scintigraphie osseuse được đòi hỏi để lập bản đồ (cartographier) các thương tổn trên bộ xương và phát hiện những ổ thương tổn không nhìn thấy được trên X quang. (LE GENERALISTE 8/1/2009)
7/ UNG THƯ CHẲNG BAO LÂU NỮA LÀ TAI ƯƠNG ĐỨNG ĐẦU THẾ GIỚI
Theo một báo cáo của Trung tâm quốc tế nghiên cứu ung thư (Circ), một trong những cơ quan của OMS, vào năm 2010, ung thư sẽ trở nên, trước những bệnh tim mạch, tai ương phổ biến nhất của loài người. Vào năm 2007, hơn 12 triệu trường hợp mới đã được chẩn đoán trên thế giới. Người ta dự kiến sẽ tăng gấp đôi các trường hợp vào năm 2030 ! Các nước nghèo sẽ có nhiều nạn nhân nhất.
“ Một thách thức đối với tất cả các hệ thống y tế ”, Peter Boyle, giám đốc của Circ đã tuyên bố như vậy. (PARIS MATCH 22/1-28/1/2009)
8/ NHỮNG CẶN CỦA KHÓI THUỐC ĐE DỌA SỨC KHOẺ CỦA CÁC TRẺ EM
Môi trường : Theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, các trẻ em rất bị nhiễm bởi các độc tố ngấm vào nội thất của các ngôi nhà ở của những người nghiện thuốc lá.
Sau nhiễm thuốc lá thụ động (tabagisme passif), bây giờ là nhiễm thuốc lá cực kỳ thụ động (tabagisme ultrapassif). Nhiều bố mẹ hút thuốc nghĩ rằng họ bảo vệ các con mình bằng cách làm thoáng khí căn phòng mà họ vừa châm một điếu thuốc lá. Nhưng sự biến mất của làn khói thuốc không có nghĩa là sự biến mất của những nguy cơ đối với sức khỏe. Những cặn bã độc do việc đốt thuốc lá, ăn sâu dài lâu vào các cửa kính, tấm thảm và những đồ gỗ khác, cũng có tác dụng độc hại, những thầy thuốc Hoa Kỳ đã báo động như vậy trong tạp chí chuyên khoa Pediatrics. Theo công trình nghiên cứu, hiện tượng nhiễm độc thuốc lá “bàn tay thứ ba”, như các nhà nghiên cứu đã mệnh danh như thế, còn chưa được biết đến bởi đại chúng, trong khi đó là một lý lẽ có trọng lượng để cấm toàn bộ việc hút thuốc trong các nhà ở
Acide cyanhydrique, monoxyde de carbone, arsenic, polonium 210... Khói thuốc chứa hơn 4.000 sản phẩm hóa học, trong đó 50 được nhận biết sinh ung thư. Nơi những người trưởng thành tiếp xúc đều đặn với khói thuốc một cách không cố ý (nhiễm độc thuốc lá thụ động) những nguy cơ đối với sức khỏe cũng giống như đối với những người hút thuốc. Những trẻ em chịu nhiễm độc thuốc lá do cha mẹ hút thuốc, dễ mắc các nhiễm trùng tai mũi họng và hen phế quản.
Để bảo vệ những người thân thích ở nhà, nhiều người nghiện thuốc chỉ hút trong vài căn phòng của ngôi nhà hay làm thoáng khí cho đến khi màn khói thuốc biến mất. Nhưng những thận trọng này không đủ, BS Jonathan Winickoff (Massachusetts General Hospital de Boston) đã đánh giá như vậy. “Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng những nồng độ độc cao của thuốc lá vẫn tồn tại trong nhà kể cả sau khi ngừng hút thuốc ”.
ĐƯỢC TÍCH TRỮ TRONG CÁC TẤM THẢM.
Mặc dầu không thể nhìn thấy được bằng mắt trần, nhưng có khả năng chịu trách nhiệm mùi thuốc lá lạnh tồn tại dai dẳng, những độc tố thuốc lá này đọng thành những lớp bụi trên tất cả các bề mặt (tấm thảm lát sàn, đồ đạc ..) hay vẫn treo lơ lửng trong không khí trong nhiều ngày, hoặc nhiều tháng. Các trẻ em khi bò, chơi gần mặt đất, nuốt bụi hai lần nhiều hơn so với những người trưởng thành chịu sự ô nhiễm này nhất, các thầy thuốc Hoa Kỳ đã đánh giá như vậy.Tuy vậy, công cuộc điều tra của họ, được tiến hành nơi 1.500 hộ khắp Hoa Kỳ cho thấy rằng hiện tượng này vẫn không được biết đến. Đại đa số những người được hỏi (những người hút thuốc hay không hút thuốc) thật sự được thông tin về những tai hại của thuốc lá thụ động. Nhưng chỉ 65 % những người không hút thuốc và 43% những người hút thuốc là ý thức rằng “hút không khí của một căn phòng trong đó có người đã hút thuốc hôm trước có thể có những hậu quả có hại lên sức khỏe của các trẻ em”. Thế mà những người được thông tin nhất này là những người có khuynh hướng thiết đặt một sự cấm đoán toàn diện sự hút thuốc lá tại nhà, B.S Winickoff đã nhận xét như vậy. Theo ông, ý niệm nhiễm độc thuốc lá “bàn tay thứ ba” (tabagisme de “troisième main”) phải là một phần của những thông điệp y tế cộng đồng về thuốc lá. (LE FIGARO 13/1/2009)
9/ SỰ TRUYỀN TRONG GIA ĐÌNH CỦA CÁC BỆNH TÂM THẦN
Psychiatrie : Một công trình nghiên cứu được tiến hành trên 9 triệu người trong 30 năm xác nhận rằng bệnh loạn tâm thần hưng-trầm cảm (psychose maniaco-dépressive) và bệnh tâm thần phân liệt (schizophrénie) có những nguồn gốc di truyền chung. Các bệnh tâm thần vẫn là một bí ẩn đối với những thầy thuốc vì nhiều lẽ, mặc dầu các tiến bộ về chẩn đoán và điều trị đã được thực hiện. Vào giờ phút vinh quang của phân tâm học và antipsychiatrie, những bệnh này đã được gán một phần cho những rối loạn của sự tương tác xảy ra sớm giữa mẹ và đứa con, hay là của các rối loạn của sự trao đổi trong gia đình. Từ đó, nhiều cuộc điều tra đã chỉ cho thấy rằng yếu tố di truyền là quan trọng, nhưng không phải là yếu tố duy nhất gây bệnh.
Một trong những công trình nghiên cứu lớn về chủ đề này, được công bố hôm nay trong tạp chí y khoa The Lancet, vừa phân tích, đối với 9 triệu người được theo dõi trong 30 năm, sự truyền bệnh trong các gia đình của bệnh tâm thần phân liệt và loạn tâm thần hưng-trầm cảm. Đi từ công trình nghiên cứu này, nhiều kết luận cần thiết : một mặt, hai bệnh này có những nguồn gốc chung, mặt khác, đúng là có một sự truyền di truyền đối với các bệnh này.
Để đi đến những kết quả này, tác giả, giáo sư Paul Lichtenstein, nhà dịch tễ học thuộc viện Karolinska ở Stockholm, và nhóm nghiên cứu đã đặt trong mối tương quan giữa những phiếu hộ tịch và các sổ ghi của các bệnh viện tâm thần. Họ đã sử dụng các dữ kiện liên quan đến 2 triệu gia đình giữa năm 1973 và 2004. Trong dân số này, người ta đếm được 35.985 trường hợp tâm thần phân liệt và 40.487 trường hợp loạn tâm thần hưng-trầm cảm (cũng được gọi là những rối loạn lưỡng cực). Mục tiêu là xác định nguy cơ mắc bị bệnh tâm thần phân liệt hay loạn tâm thần hưng-trầm cảm, đối với một người nào đó, tùy theo trong gia đình anh ta có hiện diện hay không những người bị bệnh lý này hay bệnh lý kia. Những kết quả xác nhận tính chất di truyền rõ rệt của những bệnh lý này (64% đối với tâm thần phân liệt và 59% đối với những rối loạn lưỡng cực). Nguy cơ là 9 lần quan trọng hơn khi ta có một người anh hay chị bị bệnh tâm thần phân liệt.
NHỮNG YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG
Đối với loạn tâm thần hưng trầm cảm, nguy cơ 8 lần cao hơn khi có một anh hay chị bị bệnh. Công trình nghiên cứu này cũng cho thấy rằng nếu chúng ta có một người anh hay một người chị bị bệnh tâm thần phân liệt, chúng ta sẽ có 3,7 lần nguy cơ lớn hơn bị bệnh tâm thần phân liệt. Mặt khác, những con nuôi, có cha mẹ sinh học bị nhưng rối loạn lưỡng cực, cũng có một nguy cơ gia tăng phát triển bệnh tâm thần phân liệt. Sự nổi trội của di truyền đối với một khung cảnh xã hội là rõ ràng và điều này, mặc dầu những yếu tố môi trường đóng một vai trò không phải là không đáng kể .
Thầy thuốc tâm thần Bruno Etain, làm việc trong nhóm tâm thần học di truyền của nhóm bệnh viện Chenevier-Mondor de Créteil, đánh giá rằng lợi ích lớn của bài báo này là đã nghiên cứu một số lượng rất quan trọng các gia đình trong khi những nghiên cứu trước đây chỉ được tiến hành trên vài trăm trường hợp. Bruno Etain nói rằng trong các năm qua, nhiều công trình nghiên cứu đã được tiến hành để khảo sát vai trò của di truyền trong các bệnh này. “Thế nhưng không nên quên những yếu tố môi trường, ông đã nhấn mạnh như thế. Những yếu tố môi trường được nghi ngờ là cúm trong thời kỳ thai nghén, một vài rétrovirus nội tại, toxoplasmose và virus gây bệnh herpès. Thêm vào đó là những biến chứng sản khoa, sinh đẻ kéo dài và có biến chứng, nhiễm trùng chu sinh (infections périnatales). Nhưng cũng có vai trò là những tiền sử chấn thương lúc còn nhỏ, bị lạm dụng tình dục, các rối loạn cảm xúc. Mặc dầu có tính chất khoa học, di truyền không có khả năng tiên đoán tương lai. (LE FIGARO 16/1/2009)
10/ NHỮNG TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT VÀ RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC
Những thể nhẹ trong hai bệnh này là thường xảy ra.
Vào cuối thế kỷ XIX, khi nhà tâm thần học người Đức Krepelin lần đầu tiên đã nhận diện bệnh tâm thần phân liệt (schizophrénie) và bệnh loạn tâm thần hưng- trầm cảm (psychose maniaco-dépressive), ông đã nhanh chóng tự hỏi không biết đó thật sự là hai bệnh lý riêng biệt hay không. Thật vậy, những bệnh này có một số những triệu chứng chung. Mặt khác, mỗi bệnh đã được mô tả trong một dạng điển hình, nhưng những thể nhẹ tương đối thường xảy ra hiện diện trong hai trường hợp.
Bệnh tâm thần phân liệt, được mô tả một cách nhầm lẫn như là một sự tách đôi nhân cách (dédoublement de la personalité), có liên quan đến khoảng 0,8% dân số. Những triệu chứng đầu tiên xuất hiện giữa 15 và 25 tuổi. Lúc khởi đầu, bệnh đôi khi bị lẩn lộn với một cơn tuổi thiếu niên (une crise d’adolescence), điều này làm cho chẩn đoán bị chậm lại. Bệnh được đặc trưng bởi những triệu chứng thay đổi đối với mỗi bệnh nhân, với những rối loạn được gọi là “dương tính” như ảo giác (hallucination), các cơn mê sảng (bouffées délirantes) và những triệu chứng được gọi là “âm tính” như thu rút mình lại (repli sur soi), nín thinh (mutisme). Sự uống rượu và dùng chất ma túy bị cấm chỉ vì hai lý do. Sự tiêu thụ này làm hại hiệu quả của điều trị và làm dễ những tái phát. Điều trị bằng thuốc cho phép làm giới hạn các triệu chứng. Sự hỗ trợ tâm lý (soutien psychologique), cũng như những quy tắc vệ sinh đời sống cải thiện chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân
Bệnh loạn tâm thần hưng trầm cảm hay bệnh lưỡng cực, theo đúng nghĩa, gây bệnh cho 1% dân số. Nếu người ta tính đến những thể nhẹ, tỷ lệ này đạt đến 4%. Dạng điển hình được đặc trưng bởi những rối loạn tính khí, với một sự kế tiếp nhau nơi cùng bệnh nhân, những cơn hưng phấn (kích động quá mức hay sự hứng khởi khí chất), và những cơn trầm cảm. Trong thời kỳ hưng phấn, bệnh nhân có thể vui vẻ, nói nhiều, cựa quậy không yên, tư duy bị rối loạn. Mặt khác, đó là một trong những lý do bệnh nhân thường không muốn được săn sóc điều trị. Những trị liệu, các thuốc điều hòa khí chất hay thuốc an thần, có tác dụng làm dịu sự kích động, trong khi những bệnh nhân ở giai đoạn hưng phấn cho rằng cuộc đời của họ vui hơn trước khi được điều trị. Giữa các cơn, bệnh nhân có thể có một cuộc sống bình thường và điều này kéo dài trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Với một điều trị cân đối, nói chung các bệnh nhân có một hoạt động nghề nghiệp và gia đình bình thường. (LE FIGARO 16/1/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (1/2/2009)

Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com


>>>back>>>

Tin Mới Y Học