 |
Thời
Sự Y Học số 110
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ NHỮNG HORMONE DÙNG ĐỂ
ĐIỀU TRỊ CHỨNG MÃN KINH CÓ THỂ LÀM BIẾN ĐỔI NÃO BỘ.
Những phụ nữ, đã sử dụng oestrogène và progestatifs, có một nguy cơ gia
tăng bị teo não bộ (atrophie cérébrale).
Việc điều trị bằng hormone thay thế (traitement substitutif, THS) chứng
mãn kinh, từng được tô điểm bởi tất cả các đức tính tốt trong những năm
1970-1980, đã thật sự mang chì trong cánh. Công trình nghiên cứu rộng
lớn của Hoa Kỳ Women Health Initiative (WHI), được công bố bắt đầu từ
năm 2002 và kết luận rằng những nguy cơ của một điều trị như thế là lớn
hơn những lợi ích, lại đang tiếp tục làm rơi rụng các kết quả. Tạp chí
của Hoa kỳ Neurology đã công bố tuần qua những kết luận của Women ‘s Health
Initiative Memory Study, tiết lộ rằng những phụ nữ được điều trị với hormone
thay thế, có một sự teo ở mức độ nhỏ của vài vùng của não bộ.
Nhìn toàn bộ, công trình nghiên cứu WHI, so sánh 8.000 phụ nữ được điều
trị hormone với 8.000 người khác không dùng loại thuốc này, đã tiết lộ
rằng những phụ nữ được điều trị bằng hormone có nguy cơ gia tăng bị ung
thư vú, tai biến mạch máu não và huyết khối tĩnh mạch (thrombose veineuse),
nhưng ít bị loãng xương và ung thư ruột già hơn. Tiếp theo sau đó, công
trình này đã phát hiện một sự sa sút trí tuệ (déclin intellectuel) quan
trọng hơn đối với các phụ nữ trên 65 tuổi, được điều trị với các hormone
này.
SỰ THOÁI HÓA
Các nhà nghiên cứu, quan tâm bởi điều chứng thực này, đã kháo sát 1.400
phụ nữ tham dự, được tuyển mộ vào trong công trình này 8 năm sau khi bắt
đầu công cuộc điều tra, và đã khám não bộ của họ bằng IRM
(imagerie par résonance magnétique). Sự so sánh các phụ nữ được điều trị
với hormone và những phụ nữ khác, nhấn mạnh rằng, nhìn toàn bộ, những
phụ nữ được điều trị với hormone thay thế có thể tích não bộ bị giảm nhẹ.
Sự biến đổi này có liên hệ đến hai vùng đặc biệt có liên quan đến sự suy
nghĩ và trí nhớ : thùy trán (lobe frontal) và thùy hải mã (hippocampe).
Người ta đã nhận thấy rằng thùy trán nơi các phụ nữ được điều trị hormone,
trung bình nhỏ hơn 2,37 cm³ so với thùy trán của các phụ nữ không được
điều trị. Thể tích của thùy hải mã cũng dưới 0,10 cm³, nhưng trong trường
hợp này, sự khác nhau không được đánh giá là có ý nghĩa trên bình diện
thống kê.
Trong cùng tập san Neurology, các nhà nghiên cứu giải thích là họ đã xem
xét mức độ lan rộng của những thương tổn mạch máu trong nhóm những phụ
nữ này. Họ không phát hiện những khác nhau quan trọng tùy theo sự điều
trị hormone hay không. Từ đó người ta nghĩ rằng sự teo não bộ được quan
sát trong công trình nghiên cứu không phải có nguồn gốc mạch máu, mà liên
quan đến sự thoái hóa (dégénérescence).
“Những kết quả của công trình nghiên cứu của chúng tôi mang lại một lời
giải thích khả dĩ về sự gia tăng nguy cơ sa sút trí tuệ nơi các phụ nữ
đã theo một điều trị hormone sau thời kỳ mãn kinh”, BS Susan Reznik, tác
giả chính của công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh như vậy.
Ở Pháp, những hormone của mãn kinh, được sử dụng trong suốt 30 năm qua,
là khá khác với những hormone được cho ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, vì lẽ đã không
bao giờ có một công trình nghiên cứu nào cho phép đánh giá tác dụng lên
não bộ của œstrogène và progestatifs được sử dụng ở Pháp, nên không ai
có thể kết luận rằng những dữ kiện đáng lo ngại của công trình nghiên
cứu này lại không thể được suy diễn ở Pháp. (LE FIGARO
20/1/2009)
2/
SỰ GIA TĂNG TRỞ LẠI BỆNH SỞI TRONG CÁC NƯỚC CHÂU ÂU
Virologie: Vào năm 2006-2007, hơn 12.000 trường hợp bệnh sởi đã được ghi
nhận trong 32 nước châu Âu. Phần lớn liên quan đến những trẻ không được
tiêm chủng hoặc tiêm chủng không đúng cách, theo một công trình nghiên
cứu được công bố trong The Lancet, tờ báo y học có uy tín của Anh. Đồng
thời OMS đưa ra những nghi ngờ thật sự về khả năng thanh toán bệnh sởi
ở Châu Âu từ nay đến 2010 như đã dự kiến.
Công trình nghiên cứu, được điều hành bởi Mark Muscat (Statens Serum Institut,
Copenhague, Đan Mạch), cho thấy rằng 12.132 trường hợp sởi (trong đó 7
tử vong) đã được ghi nhận năm 2006 và 2007 trong 32 nước châu Âu. Phần
lớn các trường hợp (85%) đã được ghi nhận trong 5 nước: Roumanie, Đức,
Anh, Thụy Sĩ và Ý. Đó là những trường hợp xảy ra nơi các trẻ em không
được tiêm chủng hay tiêm chủng một cách không được đầy đủ ; cần biết rằng
để được có hiệu quả phải cần hai liều thuốc chủng. Mặt khác, nếu tổng
số các trường hợp (3909) đã giảm xuống nhiều năm 2007, so với năm trước
(8223), bệnh sởi đã gia tăng trở lại năm 2008, với hơn 6.200 trường hợp
được ghi nhận trong 9 tháng đầu tiên.
Ở Pháp, trong cùng thời kỳ này, 150 trường hợp sởi đã được khai báo, hoặc
một sự gia tăng rất rõ rệt so với các năm trước (khoảng 40 trường hợp
năm 2006 và 2007). Chúng ta hãy nhắc lại rằng bệnh sởi có thể gây nên
những biến chứng nghiêm trọng như viêm phổi. Các nhũ nhi không phải là
đối tượng duy nhất bị bệnh, bệnh cũng xảy ra nơi các thiếu niên, những
người trưởng thành trẻ tuổi và những phụ nữ có thai. (LE
FIGARO 9/1/2009)
3/ PHÒNG NGỪA SÂU RĂNG: FLUOR KHÔNG
CÒN ĐƯỢC CHO MỘT CÁCH CÓ HỆ THỐNG NỮA
ODONTOLOGIE : Cơ quan an ninh những sản phẩm y tế
của Pháp Afssaps (Agence française de sécurité sanitaire des produits
de santé) hôm qua đã khuyên đừng cho một cách có hệ thống fluor dưới dạng
thuốc giọt hay thuốc viên nơi các trẻ em lúc mới sinh ra đời.
Trong những năm 1970, ở Hoa Kỳ người ta đã phát hiện rằng những trẻ em
gần như không bị sâu răng trong những thành phố mà ở đó nồng độ fluor
trong nước uống cao. Từ đó, trong các nước giàu có, đã phát triển cả một
loạt các sản phẩm (thuốc đánh răng, gels, thuốc súc miệng), có chất cơ
bản là fluor, dành cho các trẻ em và người lớn, để ngăn ngừa những thương
tổn răng. Khá nhanh sau đó, các thầy thuốc nhi khoa đã khuyên các phụ
nữ có thai uống những thuốc viên fluor và cho các trẻ sơ sinh ngay sau
khi sinh ra đời fluor thuốc viên hay thuốc giọt để uống với bình sữa.
Cơ quan an toàn các sản phẩm y tế của Pháp hôm qua đã khuyên đừng cho
trẻ sơ sinh uống fluor nữa và đừng cho thuốc bằng đường miệng một cách
hệ thống ở những trẻ trên 6 tháng. Suốt trong 20 năm qua, tỷ lệ sâu răng
nơi các trẻ em đã thoái lui rõ rệt dưới tác dụng hiệp đồng của vệ sinh
răng và sự sử dụng fluor.Tuy nhiên những trẻ xuất phát từ những giới nghèo
khổ nhất vẫn đặc biệt có nguy cơ.
Với vài liều lượng, fluor có những tác dụng rất thuận lợi chống lại bệnh
sâu răng : fluor có khả năng giới hạn sự làm mất chất khoáng (déminéralisation)
và trái lại làm dễ sự tái khoáng hóa (reminéralisation) của răng. Ngoài
ra, nó ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gây sâu răng. Vấn đề là một
quá liều (giữa 10 và 40 mg mỗi ngày) có thể dẫn đến tác dụng ngược lại,
nghĩa là một nhiễm độc fluor (fluorose) : men răng trở nên xốp, răng bị
nhuộm màu, dễ gãy. Những thương tổn xương cũng có thể xảy ra.
Thế mà, các nguồn fluor đã tăng lên, dĩ nhiên với các viên thuốc được
dùng ngay khi sinh ra đời, các kem đánh răng hay các gels. Nhưng nguồn
fluor cũng có trong muối ăn thêm fluor (sel de table fluoré), được dùng
trong các cantine học đường. Mặt khác, nước máy (eau du robinet) trong
vài vùng giàu fluor hơn. Nhưng 85% người Pháp sống trong những commune
có nồng độ fluor trong nước máy rất thấp, khoảng 0,3% mg/ngày. Tuy vậy,
ở Pháp, người ta cấm không được thêm muối fluor vào trong bánh mì hay
những thức ăn kỹ nghệ. Vài nước khoáng đóng chai chứa những nồng độ cao
fluor. Sự đa dạng của những nguồn fluor này, nếu không có những chỉ dẫn
về các mức độ tiêu thụ được mong muốn, sẽ góp phần làm gia tăng nguy cơ
quá liều. Theo tổ chức y tế thế giới, liều lượng tối ưu là 0,05 mg /kg/ngày,
liều lượng không được vượt quá là 1mg/ngày. Những dữ kiện mới nhất của
Pháp cho rằng 2,27% dân chúng bị nhiễm độc fluor (fluorose) nhẹ và 8,8%
có một nhiễm độc “ nghi ngờ ”. Điều này không phải là không đáng kể.
“ ĐÁNH RĂNG HAI LẦN MỖI NGÀY ”
Chính trong bối cảnh này mà Afssaps (Agence française de sécurité sanitaire
des produits de santé) đã xem xét hồ sơ và đưa ra những kết luận đoạn
tuyệt với những chiến lược phòng ngừa hiện nay. Từ nay trở đi, không còn
vấn đề cho fluor (thuốc giọt hay viên) trong các bình sữa của các nhũ
nhi dưới 6 tháng nữa. Đối với những nhũ nhi trên 6 tháng, các chuyên viên
khuyên sử dụng, một cách ưu tiên, các dạng fluor dùng tại chỗ, như kem
đánh răng, chứa những liều lượng thích ứng theo tuổi. “ Dầu nguy cơ của
đứa trẻ là thế nào đi nữa, biện pháp ngăn ngừa sâu răng hiệu quả nhất
là đánh răng hai lần mỗi ngày và sử dụng kem đánh răng có thêm fluor (dentifrice
fluorée) với nồng độ thích ứng theo tuổi ”, các chuyên viên của Afssaps
đã đánh giá như vậy. Nơi những trẻ có nguy cơ cao bị sâu răng, fluor có
thể được cho bổ sung lúc ở em bé xuất hiện những chiếc răng đầu tiên,
vào khoảng 6 tháng. (LE FIGARO 27/11/2008)
4/ DỊCH SỎI THẬN NƠI CÁC
TRẺ EM HOA KỲ
Một trận dịch mới dường như đang giáng vào các trẻ em ở Hoa Kỳ : các sỏi
đường tiểu (calculs urinaires). Là nạn nhân của một chế độ ăn uống quá
mặn hay quá nhiều protéine, các trẻ nhỏ ở Hoa Kỳ bị đau thận, đôi khi
ngay lúc vừa mới 5 tuổi. Hiện nay, ở Pháp dường như không bị ảnh hưởng
bởi hiện tượng này, nhưng các chuyên viên vẫn cảnh giác vì cách ăn uống
ở Pháp gần giống với Hoa Kỳ.
Thường thường, các sỏi thận (còn được gọi là lithiase rénale) là một bệnh
của người trưởng thành. Các trường hợp xảy ra nơi trẻ em là hiếm (tỷ lệ
20 lần thấp hơn so với người lớn), và chúng chủ yếu xảy ra trong những
khung cảnh đặc biệt : nhiễm trùng, dị dạng, các bệnh chuyển hóa di truyền.Theo
New York Times số ngày 28 tháng 10, các bệnh sỏi đường tiểu đã trở nên
thường tình nơi các trẻ em Hoa Kỳ, cái thừa trừ của những bất quân bình
dinh dưỡng đã dẫn đến dịch béo phì và bệnh đái đường nhi đồng. Nhiều chuyên
gia đang chứng kiến sự bộc phát của những trường hợp sỏi đường tiểu bắt
đầu từ 5-6 tuổi và vào khoảng 10 tuổi. Nhiều khoa chuyên môn đã được thành
lập trong vài bệnh viện, như ở Children ‘ s Hospital Boston (Massachusetts).
Mặc đầu không có các dữ kiện đáng tin cậy về số các trường hợp, các thầy
thuốc chuyên khoa niệu và thận nhi đồng ở Hoa Kỳ nói rằng họ đang chứng
kiến một sự gia tăng dốc đứng các trường hợp sỏi thận nơi những bệnh nhân
trẻ tuổi. Vài bệnh viện đã mở bệnh viện sỏi thận nhi đồng (pediatric kidney
stone clinics).
“Các bác sĩ lớn tuổi nói rằng, trong những năm 1970 và 1980 họ đã thăm
khám một trẻ bị sỏi thận một lần mỗi vài tháng. Còn giờ đây chúng tôi
thăm khám các trẻ mỗi lần một tuần hay ít hơn”, giáo sư Caleb Nelson (Havard
Medical School) đã kể lại như vậy. “Khi chúng tôi nói chuyện với bố mẹ,
hầu hết họ nói rằng họ đã không bao giờ nghe nói đến một đứa trẻ bị sỏi
thận và nghĩ rằng có cái gì không ổn đối với con cái họ”. Những nghiên
cứu dịch tễ học đang được tiến hành. Bệnh sỏi thận được khám phá nhân
những trường hợp đau bụng cấp tính ít hay nhiều, có thể đưa đến cơn đau
quặn thận (colique néphrétique), hay do sự hiện diện của máu trong nước
tiểu.
ĂN QUÁ NHIỀU ĐỒ NGỌT.
Ở Trung quốc, mới đây nhiều trẻ em, đã uống sữa bị làm bẩn bởi mélamine
(một chất độc hóa học được thêm một cách bất hợp pháp vào sữa để làm tăng
nồng độ protéine), đã phát triển sỏi thận.
Sự gia tăng sỏi thận nơi các trẻ em ở Hoa Kỳ được gán cho nhiều yếu tố,
trong đó có muối, gia vị hợp pháp và có mặt khắp nơi.
Mặc dầu hầu hết các nghiên cứu về sỏi thận phát xuất từ những nghiên cứu
trên người trưởng thành, nhưng các chuyên gia tin rằng có thể áp dụng
được cho trẻ em. Những công trình nghiên cứu đã nhận thấy rằng các yếu
tố ăn uống là nguyên nhân dẫn đầu của sỏi thận. Cũng như ở người lớn,
các sỏi đường tiểu thường được cấu tạo bởi các tinh thể oxalate de calcium,
mà sự tạo thành được làm dễ bởi những nước tiểu quá đậm đặc. 40-65% các
sỏi thận được tạo thành khi oxalate, một sản phẩm phụ của một vài thức
ăn, được nối kết với calcium trong nước tiểu (những loại thông thường
khác gồm có sỏi calcium phosphate và các sỏi axit uric). Và hai yếu tố
nguy cơ lớn nhất cho quá trình kết nối này là uống không đủ nước và ăn
quá nhiều muối : cả hai làm gia tăng lượng calcium và oxalate trong nước
tiểu.
Muối thặng dư phải được bài tiết qua thận, nhưng muối kết hợp với calcium
trên đường thải ra ngoài, tạo nên một nồng độ calcium lớn hơn trong nước
tiểu và trong thận. Các chuyên gia Hoa Kỳ như giáo sư Bruce Slaughenhoupt
(Đại học nhi khoa Wisconsin) buộc tội trước hết sự tiêu thụ quá mức muối.
“Những gì mà chúng ta đã thật sự thấy là một sự gia tăng gánh muối (salt
load) trong chế độ ăn uống của trẻ em ” B.S Bruce Slaughenhoupt, đồng
giám đốc của khoa niệu nhi đồng và của bệnh viện sỏi thận nhi đồng ở Đại
học Wisconsin đã nói như vậy. Ngoài chips và frites, muối phần lớn hiện
diện trong những thức ăn được chế biến như thịt sandwichs và soupe đóng
hộp , bữa ăn đóng gói, và ngay cả những đồ uống cho những vận động viên
thể thao (Gatorade), mà giới trẻ Hoa Kỳ rất ưa chuộng. Các trẻ cũng có
khuynh hướng uống không đủ nước. “ Chúng không muốn đi vào nhà tắm ở trường
vì chúng không có thời giờ, vì thế chúng uống ít nước hơn. Các trẻ chỉ
uống khi chúng khát, nhưng như thế là quá ít ỏi, đặc biệt là đối các trẻ
chơi thể thao hay chỉ cần hoạt động. “ Uống nhiều nước hơn là bước quan
trọng nhất trong việc ngăn ngừa sỏi thận ”, BS Alicia Neu, giám đốc của
pediatric stone clinic (Johns Hopkins Children’s Center, Baltimore) đã
nói như vậy. Tỷ lệ sỏi thận nơi người trưởng thành cũng đang gia tăng,
đặc biệt là nơi phụ nữ, và các chuyên viên nói là họ thấy nhiều người
trưởng thành ở lứa tuổi 20 và 30 bị sỏi thận nhiều hơn trong quá khứ,
sỏi thận thường xảy ra hơn nơi những người trưởng thành trong lứa tuổi
40 và 50.
“Sỏi thận không còn là bệnh của lứa tuổi trung niên, BS Nelson đã nói
như vậy. “Hầu hết chúng ta nghi ngờ những gì chúng ta đang thấy là sự
tràn đầy khắp nơi của sự gia tăng của các sỏi đường tiểu trong toàn thể
dân chúng. Tuổi trung bình của trẻ bị sỏi thận là khoảng 10 tuổi. Những
người trẻ mắc bệnh sỏi thận không phải tất cả đều béo phì, một thầy thuốc
nhi khoa Hoa Kỳ đã phát biểu như vậy. Nhiều chuyên gia nói rằng sự gia
tăng chứng béo phì là yếu tố góp phần tạo nên sỏi thận nơi các trẻ em
và người lớn. Nhưng không phải tất cả các bệnh viện sỏi thận hiện đang
tiếp nhận các trẻ em tăng thể trọng, và có một trọng lượng bình thường
không có nghĩa là không bị sỏi thận.
50-60% các trẻ em bị sỏi thận có một bệnh sử gia đình bị sỏi. “ Nếu anh
có một bệnh sử gia đình bị sỏi thận, thì điều quan trọng là phải công
nhận rằng các con anh sẽ có nguy cơ bị sỏi thận vào một lúc nào đó trong
cuộc đời của chúng”, BS Nelson đã nói như vậy “ Điều này có nghĩa là anh
phải hướng dẫn cho chúng những thói quen bồi nước đầy đủ, chế độ ăn uống
quân bình, và tránh những thức ăn được chế biến, nhiều muối, nhiều mỡ
”
Các chuyên gia cũng cáo buộc sự thặng dư đồ ngọt, đặc biệt là trong các
soda ; và những chế độ ăn uống tăng đạm, rất phổ biến nơi các thiếu niên
mong muốn sụt cân. Cũng có bằng cớ cho thấy rằng sucrose, được tìm thấy
trong soda, có thể làm gia tăng nguy cơ sỏi thận, cũng như những chế độ
ăn uống làm giảm cân có nhiều proteine, càng ngày càng phổ biến trong
các thiếu niên.
Một quan niệm sai lầm thường thấy là những người bị sỏi thận thường được
khuyên nên tránh calcium. Thật ra, những sản phẩm sữa đã được chứng tỏ
làm giảm nguy cơ bị sỏi thận, bởi vì calcium trong thức ăn nối kết với
oxalate trước khi được hấp thụ bởi cơ thể, như vậy ngăn ngừa nó đi vào
trong thận.
“ Nước Pháp không ở trong trường hợp tiêu biểu này. Tính đến nay, chúng
tôi đã không quan sát thấy một biến đổi nào về sỏi đường tiểu của trẻ
em, G.S Pierre Cochat (CHU de Lyon), người điều hành một trong ba trung
tâm chuẩn đối với những bệnh thận nhi đồng, đã đảm bảo như vậy. Khi chúng
tôi có một mối nghi ngờ, thì một điều tra tiết thực hoàn chỉnh được thực
hiện, nhưng, hiện nay, vẫn không có gì thay đổi. Trên 20 đến 30 trường
hợp sỏi đường tiểu được thấy mỗi năm ở Lyon nơi những trẻ dưới 18 tuổi,
thì dưới 5% thuộc về nguyên nhân ăn uống, hoặc một trường hợp mỗi năm.
Tôi không ngạc nhiên về những gì xảy ra ở Hoa Kỳ, nhưng không đáng lo
ngại đối với Pháp hiện nay ”, G.S Georges Deschenes của bệnh viện Robert-Debré
đã xác nhận như thế.
QUÁ LIỀU VITAMINE D.
Về phần mình, B.S Christophe Philippe, thầy thuốc nhi khoa ở phòng cấp
cứu của bệnh viện Louis-Mourier, đã ghi nhận vài trường hợp sỏi thận do
vitamine D dùng quá liều. “Vitamine này thường được thầy thuốc ghi toa
cho các nhũ nhi để tránh tình trạng thiếu do dinh dưỡng. Nhưng vài em
bé đã được cho quá liều, dưới dạng thuốc giọt có liều lượng quá mạnh và
bởi laits maternisés được làm phong phú vitamine D”.
(LE FIGARO 3/11/2008) (INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE
30/10/2008)
5/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT
: NGĂN NGỪA BẰNG CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG
Giáo Sư François Desgrandchamps, trưởng khoa tiết niệu của bệnh viện Saint-Louis
(Pháp), đưa ra những dữ kiện từ bài tường trình chính thức của ông, xác
nhận những tác dụng có lợi của vài chất dinh dưỡng.
Hỏi : Những yếu tố nguy cơ chính của ung thư tuyến tiền
liệt (cancer de la prostate) là những yếu tố nào ?
G.S François Desgrandchamps : Đầu tiên hết là tuổi tác : trên 50 tuổi.
Sau đó là di truyền rồi chế độ ăn uống. Ở đàn ông, ung thư này thường
xảy ra nhất : ở Pháp, người ta thống kê hơn 60.000 trường hợp mới mỗi
năm.
Hỏi : Làm sao suy diễn rằng chế độ ăn uống có một vai
trò trong sự phát triển loại ung thư này ?
G.S F.D : Người ta đã nhận thấy rằng những dân di cư từ những vùng có
tỷ lệ ung thư thấp (Trung Hoa, Nhật Bản...) vào những nước khác với tỷ
lệ ung thư cao, có nguy cơ gia tăng mắc phải ung thư . Người ta không
thể gán cho tần số lớn hơn này là do một bất thường các gène. Lời giải
thích duy nhất hợp lý là một sự thay đổi cách ăn uống.
Hỏi : Những thức ăn nào làm dễ sự xuất hiện của một ung
thư của tiền liệt tuyến ?
G.S F.D : Người ta đã khám phá rằng một thức ăn quá giàu năng lượng là
đặc biệt có hại. Thí dụ, đó có thể là các mỡ bảo hòa nguồn gốc động vật
(bơ, phó mát béo hay thịt đỏ béo). Một sự tiêu thụ calcium quá cao (hơn
1g/ngày), do hấp thụ quá mức những sản phẩm sữa, cũng tỏ ra có hại.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng minh những
tác dụng có hại này ?
G.S F.D : Đã có nhiều công trình. Tôi có thể nêu lên cho ông công trình
của Hoa Kỳ, được tiến hành trên 4.797 bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến
và 5779 người chứng và được công bố trong tạp chí khoa học “ Journal of
Urology ” năm 1997. Những kết quả của công trình này đã cho thấy rằng
một sự tiêu thụ đều đặn mỡ bảo hòa (graisses saturées) làm gia tăng gấp
đôi nguy cơ bị ung thư ! Về những hậu quả của một sự thặng dư calcium,
các kết luận của công trình nghiên cứu Pháp Sivimax, kéo dài hơn 7 năm
(trên 5.141 người đàn ông), đã cho phép quan sát rằng một sự tiêu thụ
quá mức những sản phẩm sữa có thể làm gia tăng gấp đôi nguy cơ xuất hiện
một khối u ác tính của tiền liệt tuyến. Người ta nghĩ rằng, các mỡ bảo
hòa, do mang lại năng lượng, làm dễ sự tăng trưởng của những tế bào ung
thư và sự thặng dư calcium trung hòa tác dụng có lợi chống lại sự tăng
sinh của vitamine D.
Hỏi: Thế thì những thức ăn tốt tạo nên một sự bảo vệ
chống lại ung thư là những thức ăn nào?
G.S F.D : Một chế độ ăn uống nghèo chất mỡ bảo hòa nguồn gốc động vật
với một sự tiêu thụ đều đặn cá mỡ mang lại các chất béo polyinsaturé của
oméga 3 chuỗi dài. Vai trò bảo vệ của chúng được giải thích bởi sự kiện
là những axit béo này là những tiền thân của các prostaglandines, có tác
dụng làm giảm sự tăng sinh của khối u. Các rau xanh, nhất là cà chua,
do các lycopène của chúng, và các trái cây (đặc biệt là dưa hấu và quả
lựu) cũng có lợi ích bởi vì, giàu các chất chống oxy hóa có tác dụng “
sửa chữa ” các thiệt hại nhiễm sắc thế, có thể là nguồn gốc của nhiều
ung thư. Những thức ăn khác cũng có một tác dụng bảo vệ nhưng không được
chứng tỏ bởi những công trình nghiên cứu đặc biệt như đậu nành, hành,
tỏi, brocolis, choux de Bruxelles.
Hỏi : Vài chất bổ sung ăn uống cũng đã chứng tỏ tác dụng
bảo vệ ?
G.S F.D : Vâng, chúng ta có những kết quả thử nghiệm (trong đó những kết
quả của công trình nghiên cứu Suvimax) xác nhận điều đó. Thí dụ, người
ta đã quan sát rằng một bổ sung hàng ngày vitamine C (120 mg), E (30mg),
bêta-carotène) (6mg) và sélénium (100 mcg), liên kết với 20 mg kẽm, chia
đôi nguy cơ xuất hiện một khối u tiền liệt tuyến
Hỏi : Và trong trường hợp ung thư được xác nhận của tiền
liệt tuyến, thức ăn có còn đóng một vài trò hay không ?
G.S .F.D : Vâng, nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ điều đó. Thí
dụ những kết luận cua Hoa Kỳ được công bố mới đây trong tạp chí khoa học
“ Urology ” (được thực hiện trên 93 bệnh nhân ở một giai đoạn sớm) cho
thấy rằng một sự biến đổi chế độ ăn uống cho phép làm chậm lại tiến triển
của bệnh. (PARIS MATCH : 15/1-21/1/2009)
6/ MỠ ĐỘNG VẬT VÀ UNG THƯ TUYẾN
TIỀN LIỆT
Hơn một chục công trình nghiên cứu được tiến hành trên 3.000 bệnh nhân
bị ung thư tuyến tiền liệt và 4.600 người kiểm chứng đã xác nhận vai trò
có hại của một chế độ ăn uống giàu mỡ động vật. Mối tương quan giữa chế
độ ăn uống và ung thư tiền liệt tuyến có vẻ rõ ràng hơn là trong các ung
thư của đại tràng và vú. Một vài chất mỡ trong thức ăn có lẽ được biến
đổi thành androgène, với kết quả là một sự kích thích các dòng tế bào
ung thư nằm im trong tuyến tiền liệt. Một công trình nghiên cứu mới đây,
được thực hiện ở Canada, đã làm sáng tỏ vai trò của mỡ trong tiến triển
của ung thư tuyến tiền liệt.
Nơi 384 người đàn ông bị ung thư tuyến tiền liệt, một bảng câu hỏi đặc
biệt liên quan đến loại thức ăn được dùng bởi những bệnh nhân này đã cho
phép chứng tỏ rằng sự tiêu thụ mỡ bảo hòa (graisses saturées) được liên
kết nghịch với tỷ lệ sống còn.
Những công trình nghiên cứu khác, được thực hiện bởi nhóm Memorial Sloan-Kettering
của Nữu Ước, đã chứng tỏ rằng những ung thư tuyến tiền liệt được ghép
trên chuột, có sự tăng trưởng gia tăng rõ rệt nếu động vật được nuôi bằng
một chế độ giàu mỡ động vật, trong khi sự tăng trưởng này chậm lại rõ
rệt khi mỡ thực vật hay một chế độ nghèo mỡ được cho. Loại thí nghiệm
động vật này chứng tỏ một cách khách quan tác dụng của một chế độ ăn uống
giàu mỡ động vật lên ung thư tuyến tiền liệt. (TEMPO
MEDICAL 9/2008)
7/ CÀ CHUA, LYCOPÈNE VÀ UNG THƯ
TIỀN LIỆT TUYẾN
Những công trình nghiên cứu dường như chứng minh rằng sự tiêu thụ đều
đặn lycopène, một caroténoide xuất phát từ cà chua và chịu trách nhiệm
màu đỏ của trái cà chua, làm giảm 20-50% nguy cơ bị ung thư tiền liệt
tuyến. Lycopène, hiện diện chủ yếu trong cà chua, nhưng cũng hiện diện
với liều lượng quan trọng trong đu đủ, bưởi hồng, quả mơ, dưa hấu và ổi,
là một yếu tố bảo vệ chống ung thư tiền liệt tuyến. Nam Âu, ăn nhiều cà
chua, có những tỷ lệ tử vong 10 trên 10.000 trong khi Bắc Âu được liên
kết với những tỷ lệ gần 20 đến 30.
Dĩ nhiên, Bắc Âu cũng được đặc trưng bởi một chế độ ăn uống tăng calorie
(une alimentation hypercalorique) giàu mỡ động vật, trong khi Nam Âu tiêu
thụ nhiều hơn trái cây và rau xanh. Mới đây, một công trình nghiên cứu
với một nhóm placebo đã xem xét mối liên hệ giữa những nồng độ trong huyết
thanh của những chất chống oxy hóa khác nhau như alpha- và bêta-carotène,
bêta-cryptoxanthine, và lycopène. 578 người đàn ông đã phát triển ung
thư tuyến tiền liệt (được theo dõi trong 13 năm) cũng như 1.294 trường
hợp kiểm chứng đã được nghiên cứu. Lycopène là chất chống oxy hóa duy
nhất được chứng minh một cách rõ ràng có liên hệ với ung thư tuyến tiền
liệt : những nồng độ trong huyết thanh của lycopène rõ rệt thấp hơn nơi
những bệnh nhân bị ung thư tuyến tiền liệt so voi những trường hợp kiểm
chứng. (TEMPO MEDICAL 9/2008)
8/ TRẦM CẢM : ĐIỀU TRỊ MỚI
VỚI TÁC DỤNG NHANH LÊN GIẤC NGỦ
Giáo sư Patrick Lemoine, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần, bình luận về
những lợi ích của agomélatine, vừa được châu Âu cho phép thương mãi hóa.
Hỏi : Làm sao phân biệt một trạng thái buồn rầu sâu nặng
với một trầm cảm thật sự ?
B.S Patrick Lemoine : Tất cả chúng ta, vào một lúc nào đó trong cuộc đời,
bị liên quan bởi một trạng thái trầm cảm (état dépressif). Nhưng chúng
ta nói là trầm cảm với tư cách bệnh, trước sự diện hiện của hai tiểu chuẩn.
1. Khi nỗi buồn sâu xa kéo dài quá lâu (thí dụ hơn một năm sau tang chế).
2. Khi sự đau khổ tinh thần đưa đến những triệu chứng đặc hiệu, như lo
lắng (angoisse), rối loạn giấc ngủ thường xuyên, rối loạn cảm giác ăn
ngon, sự trì chậm của tư duy, của động tác, không quan tâm đến tất cả
những gì có thể là nguồn lạc thú. Những trầm cảm này gây bệnh cho 6-8%
dân số !
Hỏi : Việc xác lập chẩn đoán có tế nhị không ?
B.S P.L : Vâng, bởi vì vài chứng trầm cảm được che dấu (dépression masquée)
chỉ được thể hiện bởi những nỗi khốn khổ vật lý như đau đầu hay đau lưng.
Ngoài ra có những dạng lâm sàng khác nhau của bệnh trầm cảm cần phải phân
biệt rõ : 1. Chứng trầm cảm phản ứng (dépression réactionnelle)
với một biến cố (ly dị, tang chế, thất nghiệp...) có thể liên quan đến
rất nhiều người. 2. Chứng trầm cảm không phản ứng (dépression
non réactionnelle), xảy ra trên những thể trạng di truyền đặc biệt thuận
lợi. Ở đây, người ta chẩn đoán một rối loạn được gọi là lưỡng cực (trouble
bipolaire): một bệnh loạn tâm thần hưng- trầm cảm (psychose maniaco-dépressive)
thể hiện bằng một cảm giác buồn bã vô cùng nghiêm trọng và những cơn hưng
cảm (manies), có thể dẫn đến những hành động không suy xét. 3.
Trầm cảm đơn cực (dépression unipolaire) (không có những cơn hưng cảm),
gồm một cực hỗn loạn rất nặng phải chịu đựng.
Hỏi : Thường làm sao điều trị những chứng trầm cảm khác
nhau này ?
B.S P.L : Việc xử trí các chứng trầm cảm phản ứng (thể trung bình hay
nặng) thường là kết hợp một điều trị bằng thuốc và một tâm lý liệu pháp
nhận thức và hành vi (psychothérapie cognitive et comportementale). Những
kết quả tương đối khiêm tốn : chỉ 60 đến 65% các bệnh nhân phản ứng dương
tính sau 3 tuần. Đối với những trầm cảm lưỡng cực (dépressions bipolaires),
điều trị chủ yếu là dược lý.Từ nhiều năm nay, người ta cho những thuốc
chống trầm cảm (antidépesseurs) suốt cả cuộc đời, nhưng mới đây, người
ta đã nhận ra rằng sau một thời gian nào đó, các thuốc chống trầm cảm
này làm dễ những tái phát. Do đó, sơ đồ điều trị hiện nay là sau 3-6 tháng,
người ta thay thế các thuốc chống trầm cảm bằng những thuốc điều hòa tính
khí (régulateurs de l’humeur) như lithium, acide valproique. Kể từ lúc
thuốc điều hòa tính khí có chất lượng tốt đã được tìm thấy, hẳn không
còn bị tái phát nữa.Trong những trường hợp trầm cảm đơn cực (dépression
unipolaire), các thuốc chống trầm cảm có thể được cho trong một thời gian
dài (đôi khi được liên kết với các thuốc điều hòa tính khí). Kết quả :
2/3 bệnh nhân được ổn định.
Hỏi : Agomélatine vừa được giấy phép châu Âu cho phép
lưu hành trên thị trường. Những lợi ích của nó là gi ?
B.S P.L : Cơ chế tác dụng của nó gồm có hai : 1. Thuốc tác động lên mélatonine,
hormone được tiết ra trong bóng tối, tạo một tín hiệu của giấc ngủ đối
với cơ thể. 2. Thuốc có một tác dụng dương tính lên sérotonine, một chất
dẫn truyền thần kinh, liên quan đến tính khí, giấc ngủ và sự ăn ngon.
Dường như với thuốc này, hai tác dụng này tăng cường lẫn nhau. Tính độc
đáo của điều trị là ở chỗ, do tác dụng của nó lên mélatonine, thuốc tác
động rất nhanh (trong một tuần lễ) lên những rối loạn của giấc ngủ. Và
do tác dụng của nó lên sétononine, thuốc là một chất chống trầm cảm hiệu
quả.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã được thực hiện
với phép điều trị mới nhất này ?
B.S P.L : Tác dụng của agomélatine đã được nghiên cứu từ một chục năm
nay. Nhiều ngàn bệnh nhân trên thế giới đã nhận điều trị trong những thử
nghiệm lâm sàng được kiểm tra. Các kết quả đã cho thấy một sự dung nạp
rất tốt, một hiệu quả tốt và, nhất là, giấc ngủ nhanh chóng trở lại bình
thường ! Một lợi ích vô cùng quan trọng, bởi vì chính trong lúc ngủ mà
các quá trình sửa chữa của cơ thể được thực hiện. Và điều đó, trên bình
diện vật lý và tâm thần. Sự trở lại những đêm ngủ bồi sức này là dấu hiệu
của một sự cải thiện rõ rệt cua các cơ chế có liên hệ trong chứng trầm
cảm. (PARIS MATCH 31/12/2008-7/1/2009)
9/ CÀ PHÊ VÀ CHỨNG TRẦM CẢM
Hỏi : Những tác dụng của cà phê lên những người tiêu
thụ cà phê bị chứng trầm cảm là những tác dụng nào ?
B.S Fumal : Một công trình vừa được công bố về vấn đề này nơi những người
trẻ. Dịch tễ học cho chúng ta biết rằng 75% đến 98% những người trẻ, trưởng
thành hay chưa trưởng thành, tiêu thụ nước uống có caféine mỗi ngày và
rằng 31% uống hơn hai lần mỗi ngày. Thế mà, những vấn đề về giấc ngủ là
một triệu chứng chính yếu của chứng trầm cảm nơi trẻ em và thiếu niên.
Trong công trình nghiên cứu mà chúng tôi muốn đề cập đến, Whalen và các
cộng sự viên đã xem xét tác dụng của caféine và mối liên hệ của nó với
giấc ngủ nơi những người trẻ trong những môi trường tự nhiên của chúng.
Thì ra rằng những thiếu niên bị những rối loạn trầm cảm, tiêu thụ nhiều
caféine hơn và có nhiều vấn đề về giấc ngủ hơn những thiếu niên lành mạnh.
Những bệnh nhân trẻ tuổi cho thấy lo âu hơn trong những ngày mà họ uống
cà phê. Những điều trị đã làm giảm sự tiêu thụ nhưng các triệu chứng liên
quan với giấc ngủ vẫn thường xảy ra. Những kết quả này gợi ý rằng tốt
hơn là khuyên những người bị trầm cảm uống cà phê có chừng mực. Nhưng
chứng trầm cảm là một bối cảnh đặc biệt và những dữ kiện này đòi hỏi được
xác nhận. (LE MAGAZINE DES GLEMS 11/2008)
10/ MỘT GÈNE MỚI TRONG BỆNH ALZHEIMER
Neurologie : Vài yếu tố di truyền có liên hệ một phần trong sự xuất hiện
của chứng sa sút trí tuệ này.
Bệnh Alzheimer phải chăng có nguồn gốc di truyền, ít nhất cũng một phần
? Bệnh có được truyền trong khung cảnh gia đình hay không ? Sự việc có
bố hoặc mẹ bị mắc bệnh có làm gia tăng nguy cơ cho chính mình hay không
? Suốt trong 15 năm qua, một số gène liên kết với bệnh Alzheimer đã được
nhận diện, đặc biệt là để giải thích những thể xảy ra sớm của bệnh Alzheimer.
Nhưng chỉ dưới 5% các trường hợp Alzheimer là có thể liên kết với một
biến dạng di truyền (mutation génétique).
Chủ nhật vừa qua, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã loan báo trong tạp chí
Anh Nature Genetics là đã khám phá một gène mới có khuynh hướng làm dễ
phát sinh bệnh Alzheimer nơi người già. Sự hiện diện một gène như thế
chỉ làm gia tăng nguy cơ đối với phụ nữ. Khám phá này có thể giả thích
tại sao các phụ nữ thường là nạn nhân của căn bệnh khủng khiếp này hơn
là đàn ông. Dầu sao cũng chắc chắn rằng những tố bẩm di truyền cũng được
điều tiết bởi lối sống và môi trường.
Để khám phá gène mới này, các nhà nghiên cứu của Mayo Clinic ở Florida,
đã xem xét toàn bộ génome của 844 bệnh nhân bị bệnh Alzheimer và đã so
sánh với génome của 1.255 người cùng lứa tuổi không bị bệnh. Như thế các
nhà nghiên cứu đã có thể cho thấy rằng những người mang một đột biến của
gène PCDH11X, nằm trên nhiễm sắc thế X, có một nguy cơ gia tăng bị bệnh.
Mỗi cá nhân có hai bản sao của mỗi gène, một từ cha và một từ mẹ. Các
nhà khoa học cũng đã có thể quan sát rằng những phụ nữ (có hai nhiễm sắc
thể X, trong khi những người đàn ông chỉ có một) mà hai bản sao của gène
PCDH11X có cùng đột biến này, có hầu như hai lần nhiều hơn nguy cơ bị
bệnh Alzheimer (nguy cơ được nhân lên 1,75) hơn những người khác. Những
phụ nữ chỉ có một bản sao của gène này chỉ có một sự gia tăng rất thấp
(được nhân lên 1,26) cũng như những người đàn ông chỉ có một bản sao.
Những khám phá này đã được xác nhận trên 1.547 bệnh nhân, được so sánh
với 1.209 những người “ chứng ”. Những công trình như thế cho phép mở
ra những hướng điều trị mới.
TRỘI TRONG NHỮNG THỂ XẢY RA SỚM
Gène được nhận diện mã hóa cho một protéine được gọi là protocadhérine,
đóng một vai trò trong sự dính của các tế bào ở não. “Chẳng bao lâu nữa
chúng ta sẽ có thể nói một khám phá như vậy có sẽ cải thiện chẩn đoán
của bệnh hay sự điều trị của nó hay không”, một trong những đồng tác giả,
BS Carrasquillo đã đánh giá như vậy.
Những nguyên nhân của bệnh Alzheimer vẫn không được rõ ràng, mặc dầu người
ta biết rằng tuổi cao và nữ giới là những yếu tố làm dễ. “Khi một trường
hợp bệnh Alzheimer xảy ra trong gia đình, thí dụ cha hay mẹ bị bệnh, khi
đó người ta có một nguy cơ hơi cao hơn đến lượt mình bị bệnh, so với dân
chúng tổng quát cùng lứa tuổi”, G.S Françoise Forette, một trong những
chuyên gia tốt nhất về vấn đề này ở Pháp đã giải thích như vậy. Tuy nhiên
nhiều trường hợp được gọi là lẻ tẻ xảy ra mà không nằm trong một bối cảnh
gia đình nào cả. (LE FIGARO 13/1/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (25/1/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |