 |
Thời
Sự Y Học số 109
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ TÂM THẦN HỌC ĐÃ ĐƯỢC 200 TUỔI.
Chính do một thầy thuốc người Đức, Johann Christian Reil, sinh năm 1759
trong thành phố nhỏ Rhaude ở Frise orientale, mà chúng ta có được sự phát
minh của thuật ngữ “tâm thần học” (psychiatrie). Vào tuổi 20, đứa con
trai này của mục sư theo đạo Luther đã bắt đầu học y khoa ở Gottingen
trước khi đổi trường một năm sau đó và hoàn thành học trình ở đại học
Halle. Sau đó ông trở lại thành phố nơi ông sinh ra đời và mở ở đó một
phòng khám bệnh trong vài năm. Năm 1787, ông lại lên đường trở lại đại
học Halle, ở đây ông được bổ nhiệm làm giáo sư đại học. Năm sau đó, sau
khi B.S Goldhagen, vị giáo sư cũ của ông qua đời, ông được thăng làm giám
đốc của viện lâm sàng của đại học. Vào năm 1789, năm của cách mạng Pháp,
ông trở nên thầy thuốc chính thức của thành phố Halle, một nhiệm sở mà
ông sẽ giữ trong nhiều năm.
CHIẾN TRANH NAPOLEON
Ở bước ngoặc giữa thế kỷ XVIII và XIX, châu Âu bị rung chuyển bởi những
rối loạn cực kỳ. Napoléon tìm cách áp đặt uy quyền lên nhiều vùng châu
Âu, với những hậu quả thảm hại mà chúng ta đã biết. Khi đó tình hình kinh
tế hỗn loạn hơn bao giờ hết và vào năm 1806, thành phố Halle, vì thiếu
phương tiện tài chánh, buộc phải đóng cửa đại học. Vào lúc đó, Johann
Reil tận tụy hết lòng để săn sóc các chiến sĩ được đón về ở trại cách
ly, được dựng lên bởi thành phố Halle.
Năm 1807, ông cộng tác để xây dựng trường y mới của thành phố Halle, và
tức thời ông được thăng chức khoa trưởng của trường này. Không để mất
thời gian, ông lợi dụng chức vụ mới của mình để làm thăng tiến thành phố
Halle với tư cách là trung tâm liệu pháp ngâm tắm (centre de balnéothérapie).
Sự nổi tiếng của Johann Reil sau đó lan ra rất nhanh lên phần còn lại
của nước Đức và trường Halle thu hút số sinh viên đến học ngày càng đông
đảo. Sự thành công này không thoát khỏi sự chú ý của Wilhelm von Humboldt.
Ông này mời Johann Reil cộng tác để xây dựng trường y của đại học vừa
mới được thành lập ở Berlin. Sau đó, Johann Reil được bổ nhiệm làm giám
đốc bệnh viện đại học. Bệnh viện này sẽ lưu lại hậu thế dưới tên Charité.
PHỤC VỤ CHO
GOETHE
Nếu Johann Reil đã thành công tạo cho mình một tiếng tăm như vậy khắp
mọi miền của nước Đức, ông có được điều này một phần lớn là nhờ một trong
những bệnh nhân nổi tiếng nhất của ông, nhà văn Johann Wolfgang von Goethe.
Goethe đã chọn Reil làm thầy thuốc riêng và thường thăm viếng ông để bàn
về tâm thần học. Năm 1812-1813, một lần nữa tương quan lực lượng lại chênh
lệch. Thất bại trong chiến dịch Nga của Napoléon làm suy yếu rất nhiều
vị thế của Pháp trên bàn cờ châu Âu. Nhưng “viên trung sĩ bé nhỏ” không
hề nao núng và quyết định cầm lại vũ khí mặc dầu bại trận. Khi chiến sự
trở nên sôi động vào năm 1813, B.S Reil tình nguyện đầu quân trong quân
đội Phổ, lúc bấy giờ rất thiếu thầy thuốc. Nhiều chiến sĩ bị bệnh typhus
và Johann Reil ra sức tìm thuốc chữa cho căn bệnh này. Từ 13 đến 16 tháng
10 năm 1813, Leipzig là nơi diễn ra một trận chiến ác liệt, sau đó được
mệnh danh là “Trận Chiến của các Quốc Gia” (Bataille des Nations) và đánh
dấu sự cáo chung của sự chiếm đóng của Pháp ở vùng phía đông sông Rhin.
Thiệt hại thật nặng nề: 40.000 binh lính về phía Pháp và 55.000 binh sĩ
của các lực lượng liên minh (Phổ, Áo, Nga và Thụy Điển) đã bỏ mình ở đó.
Johann Reil chẳng biết làm sao nữa và tham gia vào việc thiết lập những
bệnh viện dã chiến quanh Leipzig và Halle để tiếp nhận các thương binh
và các bệnh nhân ồ ạt đổ tới. Chính ông đã mắc phải bệnh typhus và qua
đời vài tuần sau đó, ngày 22 tháng 11 năm 1813, ở nhà của người chị của
ông ở thành phố Halle.
Y KHOA CỦA TÂM HỒN
Johann Reil đã lưu lại một cống hiến quan trọng cho khoa học. Một trong
những tác phẩm được ấn hành đầu tiên của ông, nhằm cho đại chúng, xuất
hiện năm 1785 dưới tiêu đề Diatischer Hausarzt fur meine Landsleute. Vào
năm 1795, ông thành lập tờ báo định kỳ đầu tiên bằng tiếng Đức chỉ dành
cho sinh lý học: les Archives de physiologie sẽ công bố cho đến năm 1815
những bài về y học, hóa học, mô học, sinh học và cơ thể học so sánh. Một
trong những bản văn đầu tiên được công bố trong tạp chí là một chuyên
luận nhan đề Über die Lebeskraft trong đó Reil gợi ý sức mạnh sinh tử
của cơ thể. Bài báo gây nên một cuộc tranh cãi bởi vì nó tổng hợp ý tưởng,
rất phổ biến vào thời đó, theo đó ý niệm về lực sinh tử (force vitale)
có thể rất có lợi cho lý thuyết và thực hành của y khoa. Trong những bài
viết của mình, Johann Reil bày tỏ niềm tin vào một “nền y học lãng mạn”
(médecine romantique), một trào lưu được căn cứ trên những ý tưởng của
Friedrich von Schelling (1775-1854), người ca ngợi nền triết học của thiên
nhiên. Năm 1803, ông xuất bản Rhapsodies, về sự sử dụng một phương pháp
chữa bệnh bằng tâm thần (cure psychique) trong những rối loạn tinh thần,
tác phẩm nói chung được xem như đánh dấu sự ra đời của môn tâm thần học
khoa học (psychiatrie scientifique). Tuy nhiên, thuật ngữ “tâm thần học”
(psychiatrie) chưa có và còn phải đợi đến năm 1808 mới khám phá ra thuật
ngữ này trong Beytrage zur Beforderung einer Kurmethode, một cuốn sách
được soạn thảo cùng với Hoffbauer (1766-1827). Trong phần đầu của tác
phẩm, Johann Reil nói về “psychiaterie”, sẽ đuợc viết tắt sau đó thành
“psychiatrie”. Được cấu tạo bởi thân từ hy lạp psyche (tâm hồn) và iatros
(người thầy thuốc), thuật ngữ “psychiatrie” để chỉ một cách đơn giản y
khoa của tâm hồn.Theo giai thoại, thân từ psyche (tâm hồn) cũng chỉ cánh
bướm, điều này giải thích sự hiện diện của côn trùng trên biểu hiệu của
Royal College of Psychiatrists. (SEMPER 12/2008)
2/ACIDE URIQUE : XẤU HAY TỐT ?
Hầu hết tất cả các bệnh nhân bị bệnh thống phong (goutte) đều có acide
urique tăng cao trong máu (hyperuricémie). Ngược lại, chỉ có 10% những
người với tăng axit uric-huyết là bị bệnh thống phong mà thôi. Nhưng,
điều đặc biệt là, vài tác giả đã khám phá ra rằng axit uric có thể có
những tác dụng thuận lợi.
NHỮNG KẺ RANH MA
Vào khoảng giữa những năm 50, người ta đã nhận thức rằng axit uric có
một cấu trúc tương tự với caféine, điều này đã làm khích động trí tưởng
tượng. Suốt trong những năm 60 và 70, nhiều bài báo, báo cáo rằng những
người có tăng axit uric-huyết (hyperuricémie) là thông minh hơn và nhìn
toàn bộ có hiệu quả hơn. Nhưng nhiều trong số những công trình nghiên
cứu này được tiến hành trên một số lượng nhỏ người tham dự và có thể có
nhiều thiên lệch, như tình trạng xã hội-kinh tế.Tuy vậy, axit uric đã
được xem như là một chất phần nào có tác dụng kích thích lên não bộ.
CHỐNG OXY HÓA (ANTIOXYDANT)
Axit uric cũng đã gợi sự tò mò do những tính chất chống oxy hóa của nó.
Từ những công trình nghiên cứu dịch tễ học cho thấy rằng, những người
có một nồng độ axit uric thấp, có nguy cơ mắc bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson
và cả bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques) được giảm. Những dữ kiện
mới đây đã chỉ cho thấy rằng hiệu quả này là do axit uric làm chậm sự
vượt qua hàng rào huyết-não (barrière hémato-encéphalique), hơn là do
một tác dụng thật sự chống oxy hóa (action antioxydante). Chưa có một
công trình nghiên cứu nào cho thấy tác dụng thuận lợi này của axit uric
lên não bộ, những hướng nghiên cứu vẫn được tiếp tục theo đuổi.
NHỮNG Ý KIẾN ĐƯỢC CHIA SẺ
Tuy nhiên bệnh cảnh lâm sàng của tăng axit uric-huyết không phải là diễm
tình. Từ giữa những năm 50 đã nổ ra một cuộc tranh cãi về một mối liên
hệ khả dĩ giữa tăng axit uric-huyết với những bệnh tim mạch. Framingham
Heart Stuydy group vào năm 1999 đã kết luận rằng tăng axit uric-huyết
không phải là một yếu tố nguy cơ tim mạch. Một xác nhận phần nào được
xét lại cuối tháng 10 năm 2008, bởi New England Journal Medicine, trong
một bài báo kết luận về sự thiếu sót các dữ kiện để xác lập những khuyến
nghị trong điều trị tăng axit uric -huyết. Và cho rằng có đủ lý lẽ để
tiến hành những nghiên cứu lâm sàng mới về chủ đề này.
MỘT TÌNH HUỐNG PHỨC TẠP
Những công trình nghiên cứu dịch tễ học bị trở nên rắc rối bởi sự kiện
là những người bị tăng axit uric-huyết thường có một loạt những yếu tố
nguy cơ tim mạch được xác định rõ. Ví dụ, nơi các phụ nữ sau thời kỳ mãn
kinh, nồng độ axit uric gia tăng, nhưng có thể đó chỉ là một bằng chứng
của sự giảm những nồng độ œstrogène (những hormone này làm dễ axit uric-niệu).
Đối với nhiều tác giả, mối tương quan giữa tăng axit uric-huyết và các
bệnh tim mạch một phần lớn có thể được gán cho những yếu tố khác như sự
sử dụng các thuộc lợi tiểu, sự nhàn rổi không hoạt động hay uống quá nhiều
rượu.
SỰ GIA TĂNG HUYẾT ÁP
Một giả thuyết có thể chấp nhận được là axit uric cũng can dự trong sự
xuất hiện của cao huyết áp (vậy nó không phải là một yếu tố nguy cơ độc
lập). Những công trình nghiên cứu khác nhau đã cho thấy rằng những người
bị tăng axit uric-huyết có một nguy cơ gia tăng phát triển một cao huyết
áp trong 5 năm. Dầu sao điều này chỉ cho thấy rằng tăng axit uric-huyết
không phải là một hậu quả khả dĩ của cao huyết áp. Ngoài ra, tăng axit
uric-huyết thường xảy ra trong cao huyết áp nguyên phát (hypertension
essentielle) hơn là trong cao huyết áp thứ phát (hypertension secondaire).
Ở loài chuột, người ta đã có thể cho thấy sự xuất hiện của cao huyết áp
sau khi cản uricase, enzyme phá hủy axit uric.
MỘT CUỘC TRANH LUẬN CÒN LÂU MỚI KẾT THÚC.
Sự hiện diện của những thương tổn thận có thể là một yếu tố giải thích
sự xuất hiện cao huyết áp trong trường hợp tăng axit uric-huyết. Cách
nay ít lâu, người ta đã đính chính rằng một tình trạng tăng axit uric-huyết
không triệu chứng (hyperuricémie asymptomatique) có thể gây nên những
thương tổn thận, nhưng một công trình nghiên cứu mô học mới đây đã cho
thấy rằng, ở loài chuột, những thương tổn thận có thể xuất hiện sau khi
cho một chất cản uricase. Vậy những lời khuyến nghị về sự hữu ích của
điều trị tăng axit uric-huyết còn có thể tiến triển nhiều trong tương
lai. (LE GENERALISTE 8/1/2009)
3/ CĂN BỆNH CỦA CÁC NHÀ VUA
Nếu hiện nay có những người ủng hộ sự hiện diện của một mức độ tăng axit
uric-huyết (hyperuricémie) nào đó trong cơ thể, thì trước đây cũng có
những người gán một ý nghĩa dương tính cho bệnh thống phong hay gút (goutte).Thật
vậy, cùng với bệnh ưa chảy máu (hémophilie), bệnh này có một giá trị tượng
trưng, điều này khiến cho bệnh thống phong còn được gọi là bệnh của các
nhà vua (maladie des rois). Ngoài ra, giữa thế kỷ thứ 16 và 18, người
ta đã nghĩ rằng bệnh thống phong cho phép chữa lành, hoặc ít nhất cũng
ngăn ngừa được vài bệnh, điều này ăn khớp với ý nghĩ vào thời đó cho rằng
một vài bệnh tật có thể loại bỏ lẫn nhau. Vào thế kỷ 18, những bệnh nhân
bị bệnh sầu uất (mélancolie) được gởi vào trong những trung tâm điều trị
với hy vọng rằng họ bị mắc bệnh thống phong ở đó và như thế những rối
loạn tâm thần của họ có thể được loại bỏ. Sau cùng, người ta cũng nghĩ
rằng bệnh thống phong có những đặc tính kích dục (vertus aphrodisiaques).
Đã lưu hành những cố gắng giải thích vui nhất về chủ đề này. Montaigne
nghĩ rằng những người đi cà nhắc là vì lượng máu đến cẳng chân ít hơn,
và nếu vậy thì những cơ quan sinh dục có thể được tưới máu tốt hơn nữa.
Những người khác nghĩ rằng, cũng như việc nằm liệt giường cho phép giữ
ấm vùng thắt lưng, thì sự sản xuất tinh dịch cũng được làm dễ bởi điều
đó. Bệnh gút chân (podagre), một thuật ngữ cổ xưa để chỉ cơn thống phong
của ngón cái, tương ứng với tên của một nữ thần, được sinh ra do cuộc
hôn nhân giữa Bacchus và Vénus. Thật vậy trong Rome cổ đại, người ta tin
chắc rằng bệnh thống phong không những chỉ do ăn uống quá độ, mà còn do
một sự ham thích rõ rệt những trò chơi tình ái. Kết cục, vậy thì bệnh
thống phong không chỉ được xem như là thuận lợi cho hoạt động tình dục
: những quá độ dục tình cũng là nguyên nhân của bệnh này.
4/ UNG THƯ VÚ : ĐỂ TRÁNH
NHỮNG TÁI PHÁT.
Sau hội nghị thế giới ở San Antonio (Hoa Kỳ), Giáo Sư Martine Picart (Viện
Jules-Bordet, Bruxelles) giải thích về những tiến bộ điều trị mới nhất
để ngăn ngừa những tái phát của ung thư vú.
Hỏi : Tần số của ung thư vú trên thế giới
là gì ?
G.S Martine Piccart : Tỷ lệ mắc bệnh đang gia tăng. Theo dự kiến, vào
năm 2010, số trường hợp sẽ được chẩn đoán là 1,5 triệu. Trong những nước
công nghiệp hóa, trung bình cứ 10 phụ nữ thì có một người phát triển một
ung thư ác tính của vú trong suốt cuộc đời của cô ta.
Hỏi : Hãy nói về những ung thư vú còn được
khu trú. Để điều trị chúng, hiện chúng ta có những vũ khí nào ?
G.S M. P : Ngoại khoa vẫn là một vũ khí có tầm quan trọng chủ yếu. Đối
với một số lớn các khối u, không cần thiết phải cắt bỏ vú. Tiến bộ khác
: người ta đề nghị kỹ thuật phân tích hạch lính canh (ganglion sentinelle),
hạch đầu tiên của chuỗi hạch vùng nách (chaine axillaire). Nếu hạch này
lành mạch, lấy đi các hạch khác là vô ích. Như thế ta tránh được nguy
cơ có cánh tay lớn (gros bras) do ứ đọng mạch bạch huyết (engorgement
lymphatique). Phóng xạ liệu pháp (radiothérapie) vẫn là một bổ sung cần
thiết cho ngoại khoa. Ở đây, cái mới có liên quan đến những nghiên cứu
nhằm hiệu chính một trị liệu được thực hiện vào cùng ngày phẫu thuật (mà
không phải trong một thời gian 5 hay 6 tuần). Người ta đề nghị với một
đại đa số các phụ nữ sử dụng những thuốc đặc biệt để trừ khử những tế
bào ung thư có thể đã thoát xa khỏi vú. Tùy theo profil của khối u, trị
liệu phòng ngừa này có thể là hóa học liệu pháp, hormone liệu pháp, trastuzumab
hay một liên kết của những liệu pháp này.
Hỏi : Với toàn bộ những vũ khí này, những
kết quả thu được là những kết quả nào ?
G.S M. P : Những tỷ lệ chữa lành biến thiên giữa 60% và 95% tùy theo kích
thước của khối u, độc lực nội tại của nó,...
Hỏi : Để ngăn ngừa những tái phát, năm 2008,
những kết quả đáng phấn khởi nhất là những kết quả nào ?
G.S M.P : 3 phương pháp mới rất hứa hẹn :
1. Trong trường hợp những
khối u phụ thuộc hormone (tumeurs hormonodépendantes), người ta đã xác
nhận tính hiệu quả của tamoxifène (Nolvadex) (trung hòa tác dụng của oestrogène).
Những kết quả thử nghiệm lâm sàng mới đây cho thấy rằng người ta có thể
làm tốt hơn bằng cách thay thế tamoxifène bằng một thuốc kháng hormone
khác, một chất cản aromatase (inhibiteur d’aromatase) (Arimidex) (làm
giảm sự sản xuất oestrogène), hoặc bằng cách sử dụng cả hai thứ thuốc,
thuốc này sau thuốc kia. Những chiến lược điều trị phối hợp này làm giảm
khoảng 15% đến 20% nguy cơ tái phát.
2. Một phương pháp khác
chống tái phát đối với các ung thư vú phụ thuộc hormone của phụ nữ trẻ
(dưới 50) là acide zolédronique, một biphosphonate. Các thầy thuốc ung
thư học đã trình bày những kết quả của một công trình nghiên cứu của Áo
trên 1.800 phụ nữ. Nơi những phụ nữ được tiêm truyền acide zolédronique
mỗi 6 tháng và suốt trong 3 năm, ngoài một điều trị kháng hormone, người
ta đã quan sát nhận thấy nguy cơ tái phát giảm 30%. Đó là nhiều...!
Hỏi : Làm sao giải thích hiệu quả của biphosphonate
này ?
G.S M. P : Từ lâu người ta đã biết tác dụng của biphosphonate lên chứng
loãng xương (ostéoporose). Trong trường hợp ung thư, người ta nghĩ rằng
xương tạo nên một loại bình chứa đối với những tế bào ung thư đã thành
công di tản rời xa vú. Từ đó, các tế bào ung thư này lan tràn trong cơ
thể. Acide zolédronique, khi gắn vào cấu trúc xương, sẽ ức chế quá trình
định cư của những tế bào ác tính và làm ngắn lại thời gian tồn tại của
chúng.
Hỏi : Phương pháp thứ ba là gì ?
G.S M.P : Khoảng 25% các ung thư vú mang các thụ thể (récepteurs) HER2,
làm dễ sự tăng trưởng của các ung thư. Một công trình nghiên cứu thế giới
rất lớn (được điều hợp bởi nhóm nghiên cứu của tôi ở Viện Jules-Bordet)
nhằm cải thiện những kết quả của trastuzumab phong bế những thụ thể có
hại này.Thuốc mới đang được đánh giá, lapatinib, cũng nhằm vào cùng thụ
thể và sẽ tỏ ra còn hiệu quả hơn trong việc chống lại các tái phát (được
cho luân phiên hay phối hợp với trastuzumab). (PARIS
MATCH 8/1-14/1/2009)
5/ RƯỢU VANG, TRÀ VÀ CHOCOLAT
ĐỐI VỚI NÃO BỘ ?
Các ông và các bà lớn tuổi, tiêu thụ rượu vang giàu flavonoide, trà và
chocolat, có những hiệu năng tốt hơn lúc thực hiện những trắc nghiệm về
khả năng nhận thức (tests cognitifs). Đó là điều đã được chứng minh bởi
một nhóm nghiên cứu Anh-Na Uy. Nhóm nghiên cứu này đã khảo sát mối liên
hệ giữa sự tiêu thụ 3 thức ăn thức uống chứa flavonoides (chocolat, rượu
vang và trà) và những hiệu năng nhận thức (performances cognitives). 2.031
người tham dự (70-74 tuổi, 55% là phụ nữ) đã được tuyển mộ và đã chịu
những trắc nghiệm về khả năng nhận thức.
Các kết quả cho thấy rằng, so sánh với những người không ăn chocolat,
không uống rượu vang hay trà, những người tiêu thụ chúng có những điểm
số tốt hơn một cách đáng kể lúc làm những trắc nghiệm nhận thức và có
tỷ lệ hiệu năng nhận thức kém thấp hơn.
Những người tiêu thụ ba loại thức ăn nước uống này có những điểm số tốt
hơn và nguy cơ có những hiệu năng kém lúc làm trắc nghiệm thấp nhất. Những
mối liên kết giữa sự tiêu thụ các thức ăn nước uống này và khả năng nhận
thức (cognition) tùy thuộc vào liều lượng (dose-dépendante), với một hiệu
quả tối đa đối với những tiêu thụ khoảng 10g chocolat mỗi ngày và khoảng
75-100 ml rượu vang mỗi ngày, nhưng theo đường thẳng đối với trà. Phần
lớn những chức năng nhận thức được trắc nghiệm bị ảnh hưởng bởi 3 thức
ăn thức uống này. Hiệu quả rõ rệt hơn đối với rượu vang và hơi thấp hơn
đối với chocolat.
Do đó, trong tuổi già, một chế độ thức ăn thức uống nhiều flavonoides
được liên kết với những hiệu năng tốt hơn đối với vài năng lực nhận thức
và điều này tùy thuộc vào liều lượng. (LE JOURNAL DU
MEDECIN 13/1/2009)
6/ MỘT GIẤC NGỦ DÀI HƠN LÀM
GIẢM NGUY CƠ TIM MẠCH
Theo một công trình nghiên cứu quan sát (étude observationnelle), những
người trưởng thành tuổi trung niên, nếu ngủ nhiều hơn mỗi đêm, sẽ có một
nguy cơ bị vôi hóa các động mạch vành thấp hơn. Sự vôi hóa các động mạch
vành là một yếu tố tiên liệu dưới lâm sàng (un facteur prédictif subclinique)
của những bệnh động mạch vành. Những công trình nghiên cứu mới đây đã
cho thấy rằng độ dài thời gian của giấc ngủ tương quan với những yếu tố
nguy cơ gây vôi hóa được xác lập, gồm có sự điều hòa glucose, huyết áp,
giống tính, tuổi tác, trình độ học vấn và chỉ số khối lượng cơ thể (BMI
: body mass index).
Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, Christopher Ryan King và các cộng sự viên đã
muốn xác định xem những đo lường khách quan và chủ quan độ dài của giấc
ngủ và chất lượng của nó có được liên kết với tỷ lệ bị vôi hóa các động
mạch vành trong một khoảng thời gian 5 năm và những yếu tố nguy cơ vôi
hóa có ảnh hưởng lên sự liên kết này hay không. Nhóm được quan sát gồm
495 người tuổi trung niên và có sức khoẻ tốt.
Những kết quả cho thấy rằng tỷ lệ bị vôi hóa các động mạch vành trong
một thời gian 5 năm là 12% và rằng giấc ngủ càng dài thì càng có ít vôi
hóa : mỗi giờ ngủ bổ sung mỗi đêm làm hạ 33% tỷ lệ vôi hóa, hoặc tương
đương với một sự giảm huyết áp thu tâm 16,5 mmHg.
27% những người tham dự, ngủ dưới 5 giờ mỗi đêm, có những động mạch vành
bị vôi hóa, trong khi chỉ 11% trong nhóm những người ngủ từ 5 đến 7 giờ
mỗi đêm. Sau cùng, nơi những người ngủ nhiều (gros dormeurs) (trên 7 giờ),
chỉ có 6% đã phát triển một vôi hóa như thế.
Dường như đối với phụ nữ giấc ngủ mang lại lợi ích hơn nam giới, nhưng
không có sự khác nhau giữa các chủng tộc.
Đối với các tác giả, công trình nghiên cứu chứng tỏ rằng độ dài thời gian
của giấc ngủ được tỷ lệ nghịch với sự vôi hóa động mạch vành. Dầu thế
nào đi nữa, đối với những ai còn nghi ngờ về những kết quả này, giấc ngủ
dường như đóng một vài trò thiết yếu đối với sức khỏe : trong những năm
qua, nhiều công trình nghiên cứu khác nhau đã chứng minh ảnh hưởng của
giấc ngủ trong bệnh đái đường, sự điều hòa thể trọng, huyết áp, và dĩ
nhiên cả trí nhớ nữa. (LE JOURNAL DU MEDECIN 13/1/2008)
7/ TÁC DỤNG CỦA CÀ PHÊ LÊN GIẤC
NGỦ
Nhiều người cho rằng cà phê ngăn cản giấc ngủ. Những người khác lại nghĩ
ngược lại. Những công trình nghiên cứu có khuynh hướng nói rằng cà phê
tác động lên giấc ngủ. Thứ nước uống này bảo vệ chống lại bệnh Parkinson
và làm chậm lại sự xuất hiện của bệnh Alzheimer.
Chúng ta đã biết rõ tác dụng kích thích của cà phê lên chức năng của não
bộ. Cà phê cũng có một tác dụng dương tính lên các chức năng giác quan
khác nhau : thính giác, thị giác, khướu giác, vị giác và xúc giác. Rất
có vẻ như nhờ caféine, việc xử lý các dữ kiện giác quan được nhận bởi
não bộ của chúng ta được mau chóng hơn. Caféine cho phép phân biệt những
thông tin hữu ích với những thông tin không đáng lưu ý. Uống cà phê với
liều lượng trung bình cải thiện tương quan tín hiệu/tiếng ồn trong sự
tri giác. Những công trình nghiên cứu khác đã cho thấy rằng cà phê dường
như cản trở giấc ngủ.
Sau đây là những trao đổi của BS Arnaud Fumal, thầy thuốc chuyên khoa
thần kinh của BV Citadelle, Liège (Bỉ)
Hỏi : BS Fumal, người ta có thể nói rằng
cà phê giúp tỉnh táo hay không ? Và cần bao nhiêu lâu người ta phải ngừng
uống trước khi đi ngủ ?
BS Fumal : Những rối loạn giấc ngủ được ghi nhận nơi 15% những người trưởng
thành, với một tần số các đêm mất ngủ 2 lần mỗi tuần. Có 5% những người
thường hay ngủ kém. Các phụ nữ thường bị những vấn đề này hơn là đàn ông.
Nhiều bàn cải đã được dành cho mối liên hệ khả dĩ giữa sự tiêu thụ cà
phê và giấc ngủ.
Các tác dụng của caféine đã thường được nghiên cứu trong những trường
hợp đòi hỏi một sự chăm chú duy trì (những hành trình kéo dài bằng xe
hơi, làm việc dây chuyền, các dịch vụ theo dõi...) Những tác dụng này
cũng đã được nghiên cứu nhờ các máy phỏng (simulateur) và nơi các quân
nhân. Một sự cải thiện các công tác được thực hiện hay một sự bù trừ các
hậu quả do sự rút ngắn của thời gian ngủ đã được quan sát. Các tác dụng
có lợi của cà phê càng rõ rệt hơn nếu người thực hiện công tác bị mỏi
mệt. Vậy, điều chắc chắn là cà phê giúp cho người ta thức tỉnh. Điều này
đã được chứng minh bởi một loạt các công trình nghiên cứu, kết luận rằng
caféine là một phương tiện có hiệu quả để duy trì mức độ thực hiện công
tác trong trường hợp thiếu ngủ.
Hỏi : Cà phê có thể làm rối loạn nhịp đêm
ngày (rythme circadien) hay không ?
B.S Fumal : Một công trình nghiên cứu được thực hiện về sự rối loạn của
nhịp ngày đêm đã xác nhận rằng việc uống caféine với liều lượng nhỏ chống
lại một cách có hiệu quả trạng thái ngủ gà (somnolence) và bù trừ sự sa
sút trong thực hiện công tác. Thì ra là chính cà phê làm giảm trạng thái
ngủ gà và bù trừ sự suy sút của các năng suất làm việc ban đêm.Tuy nhiên,
người ta tự hỏi là có đúng đắn khi khuyên uống cà phê một cách có hệ thống
và trong những trường hợp nào? Chắc chắn cà phê có thể giúp người ta trong
trường hợp mệt mỏi nhưng nó cũng được uống trong những trường hợp khác
và không có một công trình nghiên cứu thực tiễn nào đã được thực hiện
về số lượng tối ưu và sơ đồ lý tưởng tiêu thụ trong trường hợp thiếu ngủ.
Mặt khác, nơi vài người, cà phê có thể gây nên sự kéo dài thời gian thiu
ngủ (temps d’endormissement). Tác dụng này thay đổi, nơi mỗi cá nhân,
tùy theo quá trình chuyển hóa, mức độ dung nạp và nhiều yếu tố khác. Vậy
rất khó cho một ý kiến về lúc nào tốt nhất phải ngừng uống cà phê trước
khi đi ngủ, trong mục đích tránh một tác động khả dĩ lên quá trình thiu
ngủ.
Hỏi : Trong chừng mực nào, cà phê có thể
có hại cho giấc ngủ ?
B.S Fumal : Nhiều nghiên cứu được thực hiện trong phòng thí nghiệm đã
báo cáo những tác dụng âm tính lên giấc ngủ. Như chúng ta vừa nói, cà
phê kích thích sự chăm chú theo dõi và hiệu năng trong những tình trạng
thiếu hoặc hạn chế ngủ. Nhưng cũng dường như rằng caféine cho phép phục
hồi một hiệu năng bị thoái biến do một giấc ngủ không được đầy đủ. Những
công trình nghiên cứu gợi ý rằng một tình trạng phụ thuộc caféine có thể
phát triển nơi vài người sau khi hấp thụ cà phê đều đặn mỗi ngày, với
những liều lượng tương đối nhỏ, trong những khoảng thời gian tương đối
ngắn. Nơi các trẻ em và các thiếu niên uống cà phê mỗi ngày, người ta
có thể quan sát những rối loạn của giấc ngủ và chứng ngủ gà ban ngày.
(LE MAGAZINE DES GLEMS 11/2008)
8/ NHỮNG LỢI RĂNG TỐT HƠN CHO XƠ
VỮA ĐỘNG MẠCH ÍT HƠN
Điều trị một viêm khớp răng (hay viêm cận răng : périodontite) thể nhẹ
đến trung bình, cho phép làm giảm một cách đáng kể bề dày của trung-nội
mạc của động mạch cảnh.
Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến một mối liên hệ giữa viêm khớp
răng và những tai biến tim mạch. Để chính xác hơn, viêm lợi răng do Porphyromonas
có thể đóng một vai trò trong sự phát triển của các mảng vữa xơ động mạch
(plaques athéromateuses).
Thế thì đảo lại cũng đúng hay không? Điều trị các bệnh viêm lợi răng có
thể cải thiện chứng vữa xơ động mạch (athérosclérose) hay không? Vài yếu
tố đã chỉ cho thấy một sự giảm nồng độ của nhiều chất chỉ dấu (marqueur)
của phản ứng viêm nhờ sự cải thiện của sức khỏe răng, như các tế bào lympho,
các tế bào mono và CRP. Nhưng đến nay không gì chứng tỏ là có sự giảm
các thương tổn vốn đã có. Mario Clerici và các cộng sự viên (Milan) đã
thực hiện về chủ đề này một công trình nghiên cứu dọc nơi 35 người bị
một bệnh cận răng (parodontopathie) mức độ nhẹ đến trung bình, nhưng có
sức khoẻ tốt. Các tác giả đã thực hiện một écho-Doppler các động mạch
cảnh và đã phân tích các nồng độ của các chất chỉ dấu sinh học của phản
ứng viêm, vào lúc bắt đầu nghiên cứu cũng như vào những lúc khác nhau
sau điều trị viêm cận răng (traitement périodontaire). Điều trị này gồm
việc loại bỏ các mảng răng (plaque dentaire) và những săn sóc cơ bản lợi
răng. Ở đây không có vấn đề điều trị kháng sinh hay giải phẫu.
NHỮNG SĂN SÓC NHỎ, NHỮNG HIỆU QUẢ LỚN.
Những biện pháp đơn giản này, chủ yếu nhằm làm giảm gánh vi khuẩn (charge
bactérienne), đã làm ngạc nhiều nhiều tác giả của công trình nghiên cứu
do sự giảm đáng kể độ dày của nội và trung mạc của động mạch cảnh. Đây
là yếu tố đầu tiên chứng tỏ rằng những thương tổn đã có có thế thoái lui,
chỉ bằng một chiến lược điều trị tối thiểu mà thôi. (LE
GENERALISTE 8/1/2009)
9/ BỆNH VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN
CŨNG LÂY NHIỄM NHƯ CÚM
Mỗi năm ở Bỉ, giữa tháng 10 và tháng 3, khoảng 6.000 em bé bị bệnh viêm
tiểu phế quản (bronchiolite), với một cao điểm vào khoảng giữa tháng 12.
Nhiễm trùng này nói chung là hiền tính, nhưng có thể nghiêm trọng nơi
những trẻ em dễ bị thương tổn nhất. Phải biết rằng nhiễm trùng được gây
nên bởi VRS (virus respiratoire syncytial) này cũng có tính chất lây nhiễm
như bệnh cúm. Do đó phải tránh không để cho các em có nguy cơ bị nhiễm
bệnh và chịu những hậu quả nghiêm trọng trước mắt (nhập viện, thậm chí
tử vong) hay về lâu về dài (hen phế quản).
CÁC KIẾN THỨC THỰC TIỄN MƠ HỒ
Ở Bỉ, khoảng 85% bố mẹ không biết rằng bệnh viêm tiểu phế quản là có tính
chất lây nhiễm, hoặc họ nghĩ rằng bệnh này ít gây nhiễm hơn bệnh cúm.
Hơn 22% bố mẹ có con từ 2 đến 5 tuổi, tuyên bố đã có một trẻ bị bệnh viêm
tiểu phế quản. 73% biết rằng đó là một viêm nhiễm của những tiểu phế quản
nhỏ. “61% bố mẹ nghĩ rằng con cái họ có thể mắc bệnh nhiễm trùng này quanh
năm, trong khi thật ra đó là một bệnh xảy ra theo mùa (maladie saisonnière),
cũng như bệnh cúm vậy”. Vào khoảng 2 tuổi, hầu như tất cả các trẻ em đều
bị nhiễm trùng bởi VRS. Gần 2/3 các trẻ em bị nhiễm bệnh viêm tiểu phế
quản trong năm đầu của đời sống. Hầu hết các trẻ em bị nhiễm bởi VRS phát
triển những triệu chứng tương tự với cảm cúm. Chúng hồi phục sau 8-15
ngày và không có những biến chứng nghiêm trọng. Những nhiễm trùng có thể
nghiêm trọng nơi vài em bé có nguy cơ.
CÁC EM BÉ MẢNH DẺ
“Các bậc phụ huynh, vì không nhận thức virus có tính chất gây nhiễm đến
mức độ nào, nên đã không có những biện pháp phòng ngừa thích đáng. Thường
thường điều đó không có hậu quả nào lên em bé của họ. Tuy nhiên, phương
cách của họ có thể gây ảnh hưởng một cách không cố ý lên những em bé khác
mảnh dẻ hơn, như những em bé sinh non bé nhỏ. Do đó điều quan trọng là
các bậc phụ huynh phải biết rằng có những biện pháp phòng ngừa chung.
Đây là vài ví dụ cụ thể : lau tay trước khi sờ vào em bé hay trước khi
ẩm vào trong tay, dùng khăn lau mũi chỉ sử dụng một lần, lau và khử trùng
đều đặn những đồ chơi trẻ em, đừng để những người bị cúm đến gần trẻ em
”
MỐI LIÊN HỆ VỚI HEN PHẾ QUẢN
Một mặt có những biến chứng tức thời và mặt khác có những hậu quả về lâu
về dài mà chúng ta không thể xem nhẹ. Chúng tôi chứng thực rằng cứ 10
phụ huynh thì có 3 cho rằng bệnh viêm tiểu phế quản có thể tiến triển
thành hen phế quan vào một lứa tuổi lớn hơn, và họ hoàn toàn có lý, giáo
sư Ramet, trưởng khoa Nhi Bệnh viện đại học Anvers đã nói thêm như vậy.
KHÔNG CÓ ĐIỀU TRỊ CHỮA LÀNH, CHỈ CÓ PHÒNG NGỪA
Bệnh viêm tiểu phế quản, vì là hậu quả của một nhiễm trùng bởi virus,
nên không có kháng sinh hay điều trị chữa lành nào có thể được dự kiến.
Nói chung điều trị nhằm bổ sung oxy và hổ trợ hô hấp. (LE
JOURNAL DU MEDECIN 9/1/2009) (LE SOIR 12/12/2008)
Đọc thêm :
http://yduocngaynay.com/3-3NgVThinh_CCNhiK1_Bronchiolitis.htm
10/ DI CĂN NÃO : THỬ NGHIỆM
ĐIỀU TRỊ BẮNG LASER DƯƠNG TÍNH ĐẦU TIÊN
G.S Alexandre Carpentier, thầy thuốc ngoại thần kinh ở bệnh viện La Pitié-Salpêtrière,
trình bày những kết quả tốt sơ khởi của kỹ thuật vi xâm nhập (technique
mini-invasive), được đánh giá, cùng với nhà vật lý Julian Itzcovitz, để
điều trị các di căn não (métastases cérébrales).
Hỏi : Những loại ung thư nào có khả năng
gây nên di căn não bộ ?
G.S Alexandre Carpentier : Những di căn não bộ là những định vị ung thư
ở xa nơi khởi đầu của một ung thư. Các di căn xảy ra nơi 10 đến 20% các
bệnh nhân bị ung thư, nhất là ung thư vú và phổi.
Hỏi : Một khi đã được chẩn đoán, những phương
cách điều trị khác nhau là gì ?
G.S A.C : Khi di căn to lớn, cần phẫu thuật mở sọ (chirurgie à crâne ouvert).
Trong những trường hợp khối u nhỏ hơn, tốt hơn là thực hiện điều trị bằng
ngoại phóng xạ (traitement par radiochirurgie), một phóng xạ trị liệu
tập trung nhiều tia (radiothérapie concentrique multifaisceaux). Hai phép
trị liệu này cho một hiệu quả tại chỗ tốt, trong khoảng 80% các trường
hợp. Một phóng xạ trị liệu quy ước (radiothérapie conventionnelle) của
toàn não bộ cũng được đề nghị, nhất là đối với những bệnh nhân mang nhiều
di căn (métastases multiples), thường được khám phá ở một giai đoạn sớm,
bởi vì các thầy thuốc ung thư học thực hiện các bilan đều đặn. Trong những
trường hợp hiếm hoi, khi một di căn não là triệu chứng phát hiện đầu tiên
của một ung thư nguyên phát (cancer primitif), di căn này thường to lớn
và khi đó cần phẫu thuật ngoại khoa nặng nề dưới gây mê toàn thân.
Hỏi : Nơi những bệnh nhân được mổ này, hậu
phẫu như thế nào ?
G.S A.C : Sau phẫu thuật, các bệnh nhân lưu lại 12 giờ ở phòng tỉnh mê
(salle de réveil). Thời gian nhập viện toàn bộ là khoảng 1 tuần.
Hỏi : Điều trị vi xâm nhập bằng Laser (traitement
mini-invasif au laser) là gi ?
G.S.A.C : Trong ngoại thần kinh, ý tưởng phá hủy các khối u bằng laser
không phải là mới. Nhưng nhiệt lượng rất cao phát ra từ laser đặt vấn
đề phải kiểm soát nó và vấn đề không để có những tác dụng có hại lên các
mô chung quanh. Do đó, mặc đầu có hiệu quả, việc sử dụng này đã bị hủy
bỏ. Chính đây là vấn đề mà chúng tôi đã đề cập tới. Với một nhóm nghiên
cứu của bệnh viện Lariboisière, G.S George, các BS Reizine và Guichard,
và công ty Biotex, chúng tôi đã hiệu chính một kỹ thuật độc đáo sử dụng
một laser ngoại khoa (laser chirurgical) dưới sự kiểm soát thường trực
của IRM. Trong thực tiễn, sau khi đã định mốc một cách chính xác di căn
bằng IRM, thầy thuốc ngoại khoa thực hiện, dưới gây mê tại chỗ, một lỗ
mở sọ (une ouverture du crâne) với đường kính chỉ 3 mm, bằng cách sử dụng
một khung stéréotaxie. Sau đó, thầy thuốc đưa vào một sợi laser 1,6 mm.
Sợi laser này, sau khi được làm lạnh để tránh sự hóa than, được đặt vào
trong lòng của di căn. Sau đó bệnh nhân lại được đặt vào trong IRM để
thực hiện sự điều trị. Laser khi đó được khởi động để đốt nóng rồi làm
hoại tử các tế bào ung thư dưới sự kiểm soát liên tục của những hình ảnh
IRM, nhằm gìn giữ những tế bào lành mạnh ở vùng ngoại biên. Bệnh nhân,
nằm dài, vẫn ý thức và không cảm thấy gì hết. Những điểm mới của kỹ thuật
này : sử dụng một laser diode tạo nên sự khuếch tán nhiệt với cường độ
yếu trong những mô lành mạnh, sự làm lạnh thường trực của sợi laser và
nhất là sự kiểm tra liên tục laser dưới máy vi tính. Do đó, nhờ phương
thức này, người ta có thể thực hiện những điều trị hiệu quả với một độ
an toàn không gì sánh kịp.
Hỏi : Diễn biến sau can thiệp laser ?
G.S A.C : Mặc dầu không được gây mê, bệnh nhân vẫn được theo dõi ở phòng
tỉnh mê. Bệnh nhân có thể rời bệnh viện 12 giờ sau đó.
Hỏi : Tính đến nay, ông đã điều trị bao nhiêu
di căn não với kỹ huật mới này ?
G.S A.C : Trong những trường hợp mà chúng tôi đã chọn lọc, đó là những
di căn tái phát tại chỗ mặc dầu những điều trị của hoá học liệu pháp,
ngoại phóng xạ và phóng xạ liệu pháp nói chung là có hiệu quả. 15 di căn
đã được điều trị nơi 7 bệnh nhân mang nhiều di căn (métastases multiples).
Hy vọng còn sống (espérance de vie) của họ là ngắn ngủi, được ước tính
là 3 đến 6 tháng.
Hỏi : Tại sao đã không bắt đầu can thiệp
vào những khối u nguyên phát tumeurs primitives) của não bộ ?
G.S A.C : Điều đó đã được thử làm ở Đức, nhưng với những kết quả gây thất
vọng bởi vì các khối u nguyên phát được khu trú kém, chỉ có trị liệu một
phần với mục đích giảm triệu chứng (traitement partiel à visée palliative)
là đã có thể thực hiện.
Hỏi : Những kết quả của công trình của ông
là những kết quả nào ?
G.S A.C : Nhờ mức độ chính xác của sự kiểm soát liên tục bằng IRM, sự
hoại tử của các di căn đã không làm tăng phù não cũng như không gây nên
động kinh. Người ta đã quan sát 3 trường hợp rối loạn thần kinh một phần,
đã thoái biến trong 15 ngày. Hôm nay, với thời gian hơn 9 tháng nhìn lại,
5 trong 6 điều trị hoàn chỉnh đã không cho thấy tái phát. Do đó những
kết quả này là đầy hứa hẹn về mức độ an toàn và về tính hiệu quả của kỹ
thuật mới này. Tuy nhiên, phép điều trị này cho phép có một tác dụng độc
nhất tại chỗ và không có tác dụng gì hết lên ung thư khởi phát (cancer
initial).
Hỏi : Phương thức điều trị bằng laser này
bây giờ có được thực hiện một cách thường quy không ?
G.S A.C : Không, không phải ngay lập tức. Tôi muốn nói rõ rằng đó là những
kết quả sơ khởi (thử nghiệm giai đoạn 1 giờ đây đã chấm dứt), cần được
xác nhận trên một số lượng bệnh nhân lớn hơn trong trường hợp một thử
nghiệm lâm sàng nhiều trung tâm, mà nhiều trung tâm mong muốn được tham
dự. (PARIS MATCH 18/9-24/9/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (17/1/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |