Thời Sự Y Học số 107
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ HELEN BROOK TAUSSIG (1898-1986), NGƯỜI PHỤ NỮ ĐÃ MANG LẠI MÀU SẮC CỦA CUỘC SỐNG CHO CÁC “ EM BÉ XANH ”
Helen Taussig là một phụ nữ tiền phong : những công trình nghiên cứu về những dị tật tim (malformations cardiaques) mà bà thực hiện, đã thật sự đưa đến sự thành lập bộ môn ngoại khoa tim nhi đồng (chirurgie cardiologique pédiatrique). Tuy vậy, người đàn bà vĩ đại của nền y học này, người phụ nữ đầu tiên giữ chức chủ tịch của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ này, đã phải trải qua một chặng đường chứa đầy trở ngại ngay từ tuổi ấu thơ ...
Helen chào đời ngày 24 tháng 5 năm 1898 ở Cambridge trong tiểu bang Massachusetts. Bố, Frank Taussig, là một kinh tế gia nổi tiếng, giáo sư ở Đại học Havard. Mẹ, Edith Guild, cũng đã theo đuổi đào tạo đại học ở Radcliffe College. Cặp vợ chồng này có 4 người con, trong đó Helen là con thứ.
MỘT THỜI THƠ ẤU HẠNH PHÚC MẶC DẦU CÓ NHIỀU VẤN ĐỀ ...
Helen là một cô bé mảnh khảnh và thường hay bị bệnh tật. Vào đầu thế kỷ XX, nhiều bệnh nhiễm trùng hoành hành ở trẻ em : Helen cũng không thoát khỏi điều đó.
Những vấn đề về sức khỏe của cô bé là nguyên nhân của những vắng mặt thường xuyên ở trường, mà các sổ tay ghi chép của Helen đã cho thấy điều đó. Ngoài ra, cô bé còn bị mắc phải chứng loạn đọc (dyslexie). Nhưng bố cô, vốn kiên nhẫn và chăm chú, đã giúp Helen ôn lại bài và huấn luyện cô tập đọc một cách đúng đắn. Helen lại còn có được tất cả sự âu yếm và tin tưởng của mẹ, đã không nghi ngờ một giây phút nào, rằng con gái của bà sẽ có một tương lai rạng rỡ. Phải nói rằng chồng của Edith đã không bao giờ thổ lộ với vợ về những vấn đề mà con họ đã gặp phải ở trường : Helen đọc ngược các chữ viết. Frank tìm cách tránh gây mọi sự lo lắng cho người vợ vốn bị bệnh nặng và tự mình chăm lo việc học hành của Helen. Đứa trẻ đã thể hiện rất nhiều can đảm để vượt qua những nỗi khó khăn và đã không làm thất vọng người cha hết lòng chăm lo cho gia đình.
Nhưng bệnh lao đã cướp mất Edith quá sớm nên bà sẽ không có cơ hội để chứng kiến định mệnh của Helen sau này. Helen chỉ mới 12 tuổi thì mẹ đã qua đời. Tấn thảm kịch này đã thúc đẩy cô bé hướng về nghề y : mặc dầu thất vọng khi thấy rằng y khoa đã không có thể cứu sống được mẹ mình, nhưng lòng cô vẫn tràn đầy sự cảm phục đối với những người thầy thuốc đã cố sức làm tất cả gì có thể làm được để cứu sống mẹ. Helen mơ tưởng mình cũng sẽ làm được như thế và với sự khích lệ từ lòng can đảm do mẹ truyền đạt, Helen đã thành công, luôn luôn nhờ sự giúp đỡ của bố, cải thiện những kết quả học tập và trở thành một trong những học sinh đứng đầu lớp. Năm 1917, cô đậu tú tài của trường dành cho con gái của Cambridge.
BỊ TỪ CHỐI VÀO TRƯỜNG HAVARD CHỈ BỞI VÌ LÀ PHỤ NỮ.
Được khuyến khích bởi ông nội là thầy thuốc, Helen quyết định theo học y khoa. Cô ghi tên vào Collège de Radcliffe (mẹ cô đã là một trong những học sinh đầu tiên của trường này) để chuẩn bị vào trường y. Trong hai năm ở Radcliffe, Helen nổi bật như là nữ vô địch tennis. Sau đó cô tiếp tục theo đuổi đào tạo khoa học ở Đại Học Berkeley, Californie, và tốt nghiệp năm 1921. Những năm học ở đại học này xác nhận năng khiếu của cô đối với khoa học và cô quyết định hơn bao giờ hết sẽ trở thành thầy thuốc. Nhưng vào năm 1921, mặc dầu có cha là giáo sư của trường đại học danh tiếng, trường y Havard vẫn còn chưa chấp nhận cho phép các phụ nữ vào học. Các phụ nữ có thể theo học một vài môn nhưng không thể nhận văn bằng tốt nghiệp. Sự phân biệt này sẽ kéo dài cho đến năm 1945. Mặc dầu thế, Helen vẫn ghi tên vào trường y tế công cộng của Havard và theo học môn giải phẫu học (anatomie) ở đại học Boston. Ở đây, dưới sự lãnh đạo của G.S Alexander Begg, cô sẽ say mê môn giải phẫu học tim (anatomie cardiaque). Và với sự gởi gắm của vị giáo sư này, Helen nạp đơn vào học John Hopkins, Baltimore. Ở đây, trường y được tài trợ bởi những phụ nữ giàu có thuộc phong trào bình quyền, nhưng với điều kiện là các phụ nữ phải được chấp nhận cho vào học. Sau cùng, năm 1923, Helen có thể bắt đầu theo học y khoa ở tuổi 25. Cô tỏ ra là một nữ sinh viên ưu tú, không những chỉ tham gia các bài giảng, mà còn theo đuổi các nghiên cứu về giải phẫu học tim. Năm 1927, cô nhận văn bằng tiến sĩ y khoa mà từ lâu cô đã hằng mơ ước.
HELEN TAUSSIG, THẦY THUỐC NỮ CHUYÊN KHOA TIM, NGHE TIM BẰNG CÁC NGÓN TAY
G.S Begg đã khuyến khích Helen theo học chuyên khoa tim (cardiologie). Những kiến thức về tim học mà cô đã thụ đắc ngoài học trình khiến cô được bổ dụng vào bệnh viện tim dành cho trẻ em (clinique cardiologique pour enfants), mới được thành lập ở John Hopkins.
Bệnh viện này chuyên điều trị những trẻ em được sinh ra với những dị tật ở tim (malformations cardiaques). Vì tất cả các trẻ em này không có thể chữa khỏi được và khó thoát khỏi tử vong, nên nhiệm sở công tác này rất ít được người mong muốn. B.S Taussig sẽ khám phá và quan tâm theo dõi sát những em bé được gọi là xanh (enfants bleus) này, do chứng xanh tía (cyanose) gây ra bởi bệnh tim bẩm sinh và sự khó thở mãn tính ngăn cản chúng vui chơi và phản ứng như những trẻ bình thường.
Nhưng suốt trong những năm theo học, Helen đã phát triển một phế tật đặc biệt nặng nề đối với một người thầy thuốc và nhất đó lại là một thầy thuốc chuyên khoa tim : cô đã trở nên bị điếc. Tuy vậy, chứng điếc này đã không làm Helen ngừng quyết tâm hành nghề chuyên khoa tim : cô học đọc trên môi của các bệnh nhân và nghe tim các bệnh nhân bé nhỏ của mình bằng ... các ngón tay. Cô phát triển một sự khéo léo đặc biệt trong việc phân biệt nhịp và tiếng tim của những bệnh nhân nhỏ bé có trái tim dị tật.
Vào năm 1930, Helen được bổ nhiệm làm giám đốc của bệnh viện tim nhi đồng (clinique de cardiologie pédiatrique), được thành lập bởi B.S Edwards A.Parks. Ông này đang xây dựng các bệnh viện chuyên khoa ở John Hopkins. Helen vẫn giữ nhiệm sở này cho đến lúc về hưu năm 1963.
B.S Taussig sử dụng những kỹ thuật chụp điện soi huỳnh quang mới để phát hiện những thương tổn tim và bà đặc biệt quan tâm đến tứ chứng Fallop (tétralogie de Fallop). Trong lúc thực hiện các quan sát lâm sàng, bà ngạc nhiên về sự sống sót kéo dài của vài “ em bé xanh ” so với những em bé khác và cuối cùng bà khám phá ra rằng sự khác nhau này là do việc đóng lại của ống động mạch (canal artériel), không xảy ra cùng lúc nơi tất cả các em bé bị tứ chứng Fallop. Khi đó bà nảy sinh ý nghĩ rằng việc duy trì sự thông thương của ống động mạch và sự tái tạo bằng phẫu thuật của nó sẽ đảm bảo một sự oxy hóa tốt hơn của máu nơi những em nhỏ bị bệnh tim bẩm sinh này. Nhà phẫu thuật tim đầu tiên mà bà gợi ý phẫu thuật này đã cười chế nhạo bà. Nhưng năm 1941, nhà phẫu thuật Alfred Ballock cho rằng đề nghị này là hết sức quan trọng và cùng với kỹ thuật viên Vivien Thomas, ông đã hiệu chính trên động vật phòng thí nghiệm phương thức phẫu thuật Blalock-Taussig. Cuộc giải phẫu đầu tiên nơi trẻ em, được thực hiện vào năm 1944, trên một em bé nhỏ bị bệnh rất nặng. Em bé này sống sót khá lâu, như vậy cho phép chứng tỏ tính hiệu quả của kỹ thuật giải phẫu này. Năm 1945, Helen Taussig và Alfred Ballock công bố các kết quả của họ trong Journal of American Medical Association. Phương thức phẫu thuật Blalock-Taussig đã là đối tượng của nhiều thông báo và trình bày trên thế giới. Nhiều bệnh nhân đến John Hopkins để được mổ và nhiều phẫu thuật viên đến để học kỹ thuật giải phẫu.
Helen tiếp tục các quan sát khoa tim nhi đồng và công bố chúng vào năm 1947 dưới tiêu đề “ các dị tật bẩm sinh của tim ” (congenital malformation of the heart). Năm 1959, bà được bổ nhiệm làm giáo sư nhi khoa ở John Hopkins, nơi đây các giáo sư nữ còn hiếm hoi. Bà ngừng hoạt động năm 1963. Vào năm 1964, tổng thống Lyndon Johnson tặng bà Huy chương tự do. Hiệp hội Tim Hoa Kỳ đề cử bà vào chức chủ tịch năm 1965, và Helen là người phụ nữ đầu tiên mà vinh dự này được giao phó. Ở nước ngoài bà nhận nhiều trọng vọng, được thưởng Bắc Đẩu Bội Tinh ở Pháp.
Chúng ta cũng phải dành cho bà vinh dự là một trong những người thầy thuốc đã báo động FDA về các nguy cơ của thuốc thalidomide. Nhờ thế, Hoa Kỳ đã có thể tránh được những thảm kịch gây nên ở Châu Âu do việc cho toa loại thuốc này nơi các người phụ nữ mang thai.
Năm 1986, Helen Taussig bị tử nạn trong một tai nạn xe hơi ở Pennsylvanie, nơi bà cư ngụ từ năm 1970.
Đại học John Hopkins đã đặt lại tên Clinique de Cardiologie : “ Helen B.Taussig Children’s Pediatric Cardiac Center ” và từ 2005, một trong bốn collège de l’école de médecine John Hopkins mang tên người, mà nhờ bà các “ em bé xanh ” đã tìm lại màu sắc của cuộc sống.
(LA SEMAINE MEDICALE 27/11/2008)
2/ 30 PHÚT ĐỂ CHẤN ĐOÁN BỆNH SIDA
Đây là một đầu tiên ở Pháp. Tại Montpellier, những xét nghiệm phát hiện nhanh bệnh sida từ nay được đưa vào sử dụng. Trong vòng 30 phút và chỉ với một giọt máu lấy nơi đầu của ngón tay và được đặt trên một dải phản ứng (bandelette réactive), những trắc nghiệm này, cũng như những trắc nghiệm được dùng bởi những bệnh nhân đái đường, sẽ cho phép biết được tình trạng huyết thanh của một người, 3 tháng sau một giao hợp có khả năng bị lây nhiễm. Một trường hợp huyết thanh dương tính phải được xác nhận bởi một xét nghiệm máu cổ điển, được thực hiện trong môi trường bệnh viện. Hiện nay, ở Pháp, 36.000 người không hay biết rằng mình có huyết thanh dương tính và do đó không được theo dõi về mặt y tế.
(SCIENCES ET AVENIR 1/2009)
3/ ALZHEIMER : NHỮNG TRIỆU CHỨNG ĐẦU TIÊN XUẤT HIỆN 10 NĂM TRƯỚC KHI BỆNH ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN

Neurologie : Một công trình nghiên cứu của Pháp vừa xác nhận rằng bệnh Alzheimer là một bệnh thoái hóa từ từ của não bộ. Công trình này đã có thể phát hiện những rối loạn đầu tiên, hơn 10 năm trước khi chẩn đoán được thực hiện.
Những dấu hiệu suy thoái của các hiệu năng trí tuệ (performance intellectuelle) đã hiện diện 10-13 năm trước khi chẩn đoán bệnh Alzheimer, hoặc sớm hơn nhiều so với điều mà chúng ta tưởng. Đó là kết quả được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu của Pháp, được công bố tuần qua trong một tạp chí y học có uy tín của Hoa Kỳ, Annals of Neurology. Từ nhiều năm nay, tiến triển của bệnh Alzheimer là rất từ từ, đó là điều không còn nghi ngờ gì nữa. Những công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng một sự biến đổi các chức năng nhận thức (fonction cognitive), đặc biệt là của trí nhớ, đã xảy ra rõ ràng 3-6 năm trước khi bắt đầu chứng sa sút trí tuệ, và rằng sự biến đổi này gia tốc trong hai đến ba năm trước khi bệnh được chẩn đoán.
Nhóm nghiên cứu của G.S Jean-François Dartigues (Inserm, đại học Bordeaux), đặc biệt cùng với B.S Hélène Amleva, đã đi xa hơn bằng cách xem xét trong một khoảng thời gian 14 năm, những hiệu năng trí tuệ của những bệnh nhân đã được chẩn đoán là bệnh Alzheimer, so sánh với những hiệu năng nhận thức của những người không bị bệnh này. Công trình nghiên cứu dịch tễ học chưa từng có này đã có thể được thực hiện nhờ những dữ kiện được tạo nên cuối những năm 1980, để nghiên cứu sự lão hóa não bộ bình thường và bệnh lý. Tổng cộng, có khoảng 3.800 người tuổi trên 65 không bị thoái hóa não bộ vào lúc bắt đầu công trình nghiên cứu, đã tham gia vào chương trình này. Những người tham gia được trắc nghiệm đo tâm thần (test psychométrique) mỗi một đến ba năm, giữa năm 1989 và 2003.
MỘT TIN VUI.
Để thực hiện công trình nghiên cứu này, Jean-François Dartigues và các cộng sự viên đã lưu ý đến 350 người trong nhóm mà chẩn đoán bệnh Alzheimer đã được xác lập trong suốt 14 năm quan sát. Họ được so sánh về sau với tất cả những người khác cùng nhóm nhưng đã không phát triển bệnh, về mặt các hiệu năng đối với những trắc nghiệm tâm thần kinh chuẩn và những triệu chứng khác đã được ghi nhận trong 14 năm theo dõi.
Những kết quả rất là ấn tượng : 4 xét nghiệm tâm thần kinh (test neuropsychologique) (trong đó có mini mental state, đo đơn thuần toàn bộ các chức năng não bộ) bắt đầu suy thoái ngay năm thứ 10 đến 13 trước khi chẩn đoán bệnh Alzheimer. Những triệu chứng liên qua đến trí nhớ và trầm cảm đã được biểu hiện 8-10 năm trước khi chẩn đoán chính thức. Về những khó khăn lúc thực hiện những công tác hơi phức tạp (như gọi điện thoại, sử dụng giao thông, hay tự mình uống thuốc), đã xuất hiện năm năm rưỡi đến sáu năm rưỡi trước khi bắt đầu phát bệnh chính thức. “Đó là lâu hơn nhiều so với điều mà chúng ta tưởng cho đến nay”, các tác giả đã ghi nhận như vậy.
Thoạt đầu, những kết quả như thế làm lo lắng những người ở lứa tuổi 50, đôi khi là nạn nhân của những giây phút âu sầu (trou de blues), những lúc hay quên (trou de mémoire) hay những cảm giác suy thoái khả năng trí tuệ khác…Tuy nhiên, lứa tuổi từ 55-65 không hề bị liên hệ bởi những kết quả của công trình nghiên cứu này, chỉ được thực hiện nơi những người trên 65 tuổi. Trước lứa tuổi này, bệnh Alzheimer hiếm khi xảy ra, chủ yếu là những thể di truyền, chiếm khoảng dưới 1% các trường hợp.
Thế thì lợi ích của những kết quả này là gì, nếu biết rằng hiện nay không có một phép điều trị nào đã chứng tỏ tính hiệu quả để phong bế hay làm chậm lại một cách đáng kể tiến triển của bệnh Alzheimer ? “ Sau cùng chúng ta đã có bằng cớ rằng bệnh Alzheimer tiến triển âm thầm trong thời gian rất lâu, và đó là một tin tốt lành, G.S Orgogozo, một trong những tác giả của công trình nghiên cứu và chuyên gia quốc tế về những điều trị bệnh Alzheimer đã đánh giá như vậy. Nếu chúng ta có thể xác định chẩn đoán sớm hơn nhiều, hơn 10 năm trước khi bắt đầu các triệu chứng đặc thù, thì các thương tổn não bộ sẽ ít tiến triển hơn một cách rõ rệt và các điều trị sẽ càng có cơ may hiệu quả hơn.” Mặt khác, theo chuyên gia này, những thất bại mới đây của một vài thử nghiệm điều trị có thể được giải thích bởi một sự cho thuốc vào một giai đoạn quá chậm của bệnh.
Nhiều công trình nghiên cứu đang được tiến hành để hiệu chính những xét nghiệm phát hiện sớm, nhằm vào các chất chỉ dấu sinh học trong máu và dịch não tủy, đặc biệt là bằng IRM. “Những trắc nghiệm tâm lý thần kinh là thích hợp đối với một công trình nghiên cứu dịch tễ học, nhưng không dễ phát hiện trên mỗi cá nhân”, Jean-Marc-Orgogozo đã nhấn mạnh như thế. Theo ông, một xét nghiệm sinh học đáng tin cậy có thể sẽ được chuẩn nhận từ nay đến 2 hoặc 3 năm nữa và phương pháp chụp hình ảnh não, đã rất có hiệu năng, sẽ phải được phổ biến nhanh chóng. Hiện nay, do không có một điều trị có khả năng làm đảo ngược bệnh sử tự nhiên của bệnh, nên các chuyên gia vẫn không nhất trí về lợi ích của sự phát hiện sớm đối với bệnh Alzheimer. Việc điều tra phát hiện bệnh Alzheimer hiện nay không được khuyến nghị, Haute Autorité de santé đã đánh giá như vậy vào tháng ba vừa qua. (LE FIGARO 23/12/2008)
4/ TIÊN ĐOÁN SỚM MỨC ĐỘ TRẦM TRỌNG CỦA NHỮNG THƯƠNG TỔN TRONG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.
Imagerie. Tiên đoán mức độ nghiêm trọng của một tai biến mạch máu não trong vòng vài phút : đó là điều có thể thực hiện được nhờ một logiciel kết hợp với kỹ thuật chụp hình ảnh bằng IRM (résonance magnétique), được hiệu chính bởi các nhà khoa học của CNRS. Được đặt tên là Neurinfarct, logiciel phát hiện, từ những phim chụp cổ điển, điều mà các thầy thuốc chuyên khoa thần kinh không thể thấy bằng mắt trần và đặt tên cho vùng này của não bộ là vùng “ tranh tối tranh sáng thiếu máu cục bộ ” (zone de “ pénombre ischémique ” ). Đó là vùng bị thiếu máu, nơi nhồi máu não sẽ được tạo thành và lan rộng nhanh chóng trong vài giờ sau đó. Thế mà, trái với điều xảy ra ở nhồi máu cơ tim, vùng này vẫn có khả năng sống. Do đó, việc cứu được vùng tranh tối tranh sáng này là điều có thể thực hiện được, nếu bắt đầu cho càng sớm càng tốt thuốc làm tan huyết khối (thrombolytique), điều trị cấp cứu của tai biến mạch máu não.
Ngày nay, để đánh giá một cách tinh tế mức độ lan rộng của các tổn hại, phải thực hiện IRM kết hợp tiêm thuốc cản quang, một giai đoạn kéo dài, không phải luôn luôn có thể thực hiện được ở phòng cấp cứu. Với Neurinfarct sẽ miễn được giai đoạn này. Phương pháp này đã được trắc nghiệm thành công nơi khoảng 100 bệnh nhân trong bối cảnh nghiên cứu lâm sàng. Phương pháp Neurinfarct cũng có thể được sử dụng để đánh giá những điều trị mới của tai biến mạch máu não. (SCIENCES ET AVENIR 1/2009)
5/ NHỒI MÁU CƠ TIM : MẤT QUÁ NHIỀU THỜI GIAN !
Một phần lớn những bệnh nhân bị một nhồi máu cơ tim cấp tính đến bệnh viện quá trễ, ít nhất là ở Hoa Kỳ. Thật vậy, làm trì hoãn những săn sóc y khoa sau khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên của một nhồi máu cơ tim có thể có những hậu quả có hại lên tỷ lệ bệnh tật và tử vong.
Jane Saczynski (USA) và các đồng nghiệp đã phân tích các dữ kiện có liên quan đến 5.967 bệnh nhân (tuổi trung bình 76 ; 39% phụ nữ) đã được nhập viện vì một nhồi máu cơ tim giữa năm 1986 và 2005. Họ đã có thể xác lập rằng những khoảng thời gian trung bình giữa lúc bắt đầu các triệu chứng và lúc cần một aide médicale đã ít tiến triển trong suốt thời kỳ được quan sát. Thời gian trung bình của thời kỳ trước khi nhập viện lần lượt là 4,7 và 2,2 giờ năm 1995 và 4,6 và 2 giờ năm 2005. Khoảng 45% các bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim đến bệnh viện trong hai giờ sau khởi đầu các triệu chứng và 1/3 trong những người này đến trong 2 đến 6 giờ. Các người già và những người có tiền sử bệnh đái đường và nhồi máu cơ tim được liên kết với một thời gian chờ đợi lâu hơn.
So với những bệnh nhân đến bệnh viện trong vòng hai giờ sau khi bắt đầu triệu chứng, những bệnh nhân đến bệnh viện chậm hơn thường ít được điều trị bằng thuốc làm tan huyết khối (thrombolytique) hơn và một can thiệp động mạch vành qua da (intervention coronaire percutanée) được thực hiện trong vòng 90 phút sau khi nhập viện. Các tác giả kết luận rằng một phần lớn các bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim đến bệnh viện vẫn còn quá trễ. (LE JOURNAL DU MEDECIN 23/12/2008)
6/ BỆNH SẢN GIẬT CÓ HẠI, NGAY CẢ VỀ LÂU VỀ DÀI
Sự xuất hiện cao huyết áp trong thời kỳ thai nghén với sự hiện diện của protéines trong nước tiểu, hay bệnh sản giật, là một trong những biến chứng thường được quan sát nhất (3% đến 5%) nơi phụ nữ có thai. Những cơn cao huyết áp này không phải là không có những nguy cơ sau này, như một phân tich 15 công trình nghiên cứu đã chứng tỏ điều đó. Tổng cộng, hơn 110.000 phụ nữ tuổi trung bình dưới 55 và có tiền sử bị sản giật, đã được so sánh với 2 triệu phụ nữ chứng không có tiền sử bị biến chứng thai nghén này : nguy cơ của họ về sau này bị nhồi máu cơ tim, suy tim sung huyết, tai biến mạch máu não hay thương tổn mạch máu ngoại biên gần như tăng gấp đôi. Mức độ nghiêm trọng của các di chứng này xuất hiện vào khoảng tuổi 50 . Điều này biện minh cho việc theo dõi tốt hơn huyết áp trong thời kỳ thai nghén. (SCIENCES ET AVENIR 1/2008)
7/ BÁNH QUY CHỨA NHỮNG CHẤT CÓ TIỀM NĂNG GÂY UNG THƯ.
Ngoài các axit béo trans, các bánh quy (biscuits) ngọt và mặn chứa những lượng không phải là nhỏ acrylamide, một chất có tiềm năng gây ung thư. Ở Bỉ, chính trong những spéculoo mà người ta tìm thấy nồng độ acrylamide cao nhất !
Acrylamide xuất hiện khi nấu, ở nhiệt độ trên 120 độ C, những thức ăn giàu glucide và asparagine. Các nhà nghiên cứu đã so sánh những nồng độ acrylamide của một nhóm 374 phụ nữ bị ung thư vú với những nồng độ acrylamide của 374 phụ nữ không bị ung thư. Kết quả : mỗi khi nồng độ acrylamide được nhân lên 10, thì nguy cơ bị ung thư vú được nhân lên 2,7. Tuy nhiên, nhà dịch tễ học cho đến nay, đã không tìm thấy mối liên hệ trực tiếp giữa sự tiêu thụ acrylamide và nguy cơ bị ung thư. (SCIENCES ET AVENIR 12/2008)
8/ BỊ THƯỜNG XUYÊN VIÊM DẠ DÀY-RUỘT DO NHIỄM KHUẨN LÀM DỄ SỰ PHÁT TRIỂN BỆNH CROHN.
Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, được thực hiện trên cơ sở những dữ kiện y khoa lấy từ nhân viên quân sự, cho thấy rằng một tần số cao mắc phải bệnh viêm dạ dày-ruột cấp tính do nhiễm khuẩn (gastroentérite aigue infectieuse), ví dụ chứng tiêu chảy của những người du khách (diarrhées des voyageurs), làm gia tăng nguy cơ phát triển một bệnh viêm mãn tính của ruột , đặc biệt là bệnh Crohn.
Sự phân tích các dữ kiện của 3.019 bệnh nhân bị những bệnh ruột viêm mãn tính (maladie intestinale inflammatoire chronique) và của 11.656 bệnh nhân dùng để kiểm chứng, cho thấy rằng những viêm dạ dày-ruột do vi khuẩn (gastroentérite bactérienne) xảy ra thường xuyên làm gia tăng 36% nguy cơ bị viêm trực-đại tràng loét-xuất huyết (recto-colite ulcéro-hémorragique) và 54% nguy cơ bị bệnh Crohn. Giả thuyết được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu để cố giải thích mối liên hệ này là, bằng cách hủy bỏ các cơ chế nội hằng định ruột (homéostasie intestinale) bình thường, các bệnh viêm dạ dày-ruột nhiễm khuẩn làm dễ sự hoạt hóa (không thể hiện trên lâm sàng nhưng thường xảy ra) các quá trình viêm và miễn dịch. Các kết quả này chứng tỏ rằng bệnh viêm dạ dày-ruột nhiễm khuẩn không hẳn là vô hại và nhắc nhở tầm quan trọng của điều trị dự phòng bằng kháng sinh đối với những bệnh nhân với nguy cơ tiếp xúc thuờng xuyên nhất.
Công trình nghiên cứu này cũng làm sáng tỏ những yếu tố nguy cơ khác đối với các bệnh viêm ruột mãn tính. Như là, sự hiện diện của một hội chứng kích thích đại tràng (syndrome du côlon irritable) làm gia tăng gấp 5,5 lần nguy cơ bị viêm trực-đại tràng loét-xuất huyết và gia tăng gấp 7 lần bệnh Crohn. (LE GENERALISTE 13/11/2008)
9/ SỰ THỤT LÙI CỦA CÁC UNG THƯ Ở HOA KỲ.
Tỷ lệ mắc các ung thư đang hạ xuống từ nhiều năm nay : tỷ lệ đã giảm 0,8% mỗi năm từ năm 1999 đến 2005 (năm cuối cùng thống kê được thực hiện) ; ở đàn ông nhiều hơn (1,8% mỗi năm từ 2001) so với phụ nữ (0,6% mỗi năm từ 1998).
Tỷ lệ tử vong lùi lại từ đầu những năm 1990 trong cả hai giới tính: giảm 1,5% mỗi năm từ 1993 đến 2001 và 2% mỗi năm từ 2001 đến 2005 nơi đàn ông; giảm 0,8% mỗi năm từ năm 1994 đến 2002 và giảm 1,6% mỗi năm từ 2002 nơi các phụ nữ.
Những sự thụt lùi song hành của tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong được giải thích phần lớn bởi những thành công trong việc chống lại 3 ung thư thường xảy ra nhất nơi đàn ông (phổi, đại-trực tràng và tuyến tiền liệt) và hai ung thư thông thường nhất nơi phụ nữ (vú và đại-trực tràng), cũng như bởi sự ổn định của tiến triển ung thư vú nơi phụ nữ.
Những tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chứng nghiện thuốc lá là một trong những yếu tố giải thích những con số này. Californie, tiểu bang đầu tiên đã thiết đặt những chương trình chống hút thuốc lá, đã ghi nhận được sự giảm tỷ lệ tử vong gấp đôi so với những vùng Trung tây hay miền Nam Hoa Kỳ.
Ở Pháp, theo một tổng kê 1980-2005, được thực hiện mới đây bởi viện theo dõi y tế, tỷ lệ tử vong đang hạ xuống ( khoảng 25%) nhưng tỷ lệ mắc bệnh tăng cao. Sự trái ngược nhau của hai đường cong này được giải thích bởi sự thụt lùi, trong những năm vừa qua, của những loại ung thư hung hãn nhất, trong khi những ung thư có tiên lượng thuận lợi hơn và những ung thư có thể được chẩn đoán sớm (vú, tiền liệt tuyến) lại gia tăng. (LE JOURNAL DU MEDECIN 5/12/2008)
10/ THOÁT VỊ BẸN VÀ RỐN NƠI CÁC PHỤ NỮ CÓ THAI
Một sự chờ đợi theo dõi dường như là biện pháp được khuyến nghị nơi các phụ nữ có thai mắc phải một thoát vị bẹn hay rốn (hernie inguinale ou ombilicale). Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ, căn cứ trên sự theo dõi 12 phụ nữ, vừa được công bố trong Journal of the American College of Surgeons.
Tác giả của công trình nghiên cứu, Celia M.Divino (thầy thuốc ngoại khoa ở Mount Sinai School of Medicine, New York) đã theo dõi 12 phụ nữ bị một thoát vị bẹn và rốn và điều trị ngoại khoa được hoãn lại 4-52 tuần sau khi sinh (trung bình 22 tuần). Mỗi lần như thế, phẫu thuật đã được thực hiện bởi cùng thầy thuốc ngoại khoa. Trong thời kỳ thai nghén, thoát vị đã được điều trị một cách bảo thủ. Không có phụ nữ nào đã trải qua một cuộc sinh đẻ có biến chứng cả.
Theo các tác giả của công trình nghiên cứu, điều trị ngoại khoa cho những kết quả tương tự với những kết quả thu được nơi những phụ nữ không có thai. Không có biến chứng nào đã xuất hiện, cũng không có tái phát nào sau phẫu thuật. Sau đó 4 phụ nữ đã có những thai nghén liên tiếp diễn ra bình thường.
Công trình nghiên cứu cho thấy rằng những phụ nữ phát triển một thoát vị bẹn hay rốn trong thời kỳ thai nghén, trong phần lớn các trường hợp, có thể hoãn lại một cách rất an toàn một phẫu thuật ngoại khoa vào thời kỳ sau khi sinh. (LE JOURNAL DU MEDECIN 5/12/2008)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(2/1/2009)


Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com


>>>back>>>

Tin Mới Y Học