 |
Thời
Sự Y Học số 106
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ PARACELSE
Là người báo trước của thuyết y hóa học (iatrochimie),
của kim loại trị liệu pháp (métallothérapie) hay liệu pháp vi lượng đồng
căn (homéopathie)? Có lẽ là như vậy. Là người thầy thuốc vĩ đại của thời
Phục Hưng? Đó là điều chắc chắn! Tên tuổi ông vẫn gắn bó chặt chẽ với
ma thuật (magie), với Kabbale và những thực hành bị lên án khác, và mặc
dầu lý thuyết của ông đầy dẫy những sự lẫn lộn, Paracelse trước hết vẫn
là người báo trước của nền tư duy khoa học hiện đại. Đứng quân bình giữa
thời Trung Cổ và thời Phục Hưng, ông mở ra một kỷ nguyên mới. Là người
di trú liên tục khắp đó đây, lấy nguồn khoa học của mình trên những con
đường đã đi qua, Paracelse đã mang lại một hướng mới cho y học và thuật
giả kim (alchimie). Bất đồng hoàn toàn với đa số những người đương thời,
nhà triết học, nhà giả kim (alchimiste) và người thầy thuốc Thụy Sĩ này
không phải là một người bình thường, cả cuộc đời của ông đã chứng thực
điều đó !
BÊN NGOÀI NHỮNG KHUÔN SÁO LỐI MÒN
Sinh năm 1493 ở Einsiedeln (canton de Schwyz), Philippe Bombast Theophrast
von Hohenheim, mồ côi mẹ, được giáo dục bởi bố vốn là thầy thuốc và nhà
giả kim (alchimiste). Sau những năm tháng học hành chễnh mãng và thường
xuyên lưu trú ở nước ngoài, ông vào học ở đại học Bâle. Nhưng rồi rất
nhanh chóng, ông chán lối giảng dạy truyền thống và bị lôi kéo bởi những
bài giảng của tu viện trưởng Trithème, thầy dòng bénédictin say mê thuật
giả kim (alchimie) và thiên văn học. Vào lúc 22 tuổi, ông từ giả thầy
và lấy tên Philippus Theophrastus Paracelsus hoặc đơn giản hơn là Paracelse.
Sự thay đổi tên này không phải là không có lý do, Paracelse có nghĩa là
“chống lại Celse”. Ta có thể hiểu rằng đó là một lập trường chống lại
người thầy thuốc La Mã nổi tiếng của thế kỷ thứ nhất !
KẺ PHẢN NGHỊCH LƯU ĐỘNG
Trong lúc đi ngao du qua nhiều nước châu Âu, ông thụ đắc được kinh nghiệm
y khoa nhờ quan sát và nêu câu hỏi nơi các thợ cạo- phẫu thuật viên (barbier-chirurgien),
các người nắn xương (rebouteux), các nhà giả kim (alchimiste), các thầy
tu, cũng như quý ông quý bà đủ mọi giới. Ông nói rằng “Các trường Đại
Học không dạy tất cả; chính người thầy thuốc phải tìm các mụ đàn bà, những
người du cư, những bộ lạc nay đây mai đó, những kẻ bất lương và tìm học
nơi tất cả những người này... Chịu nhiều nỗi gian truân và ghi nhớ những
gì có thể hữu ích trên những chặng đường đã đi qua”. Năm 1522, ông nhận
văn bằng tiến sĩ y khoa ở trường y Salerne. 4 năm sau, ông được bổ nhiệm
làm giáo sư đại học Bâle. Nhưng không phải vì vậy mà Paracelse đi vào
“con đường chính đạo”... Mặt khác, ông không sợ phải biểu lộ sự dị ứng
của mình đối với nền giảng dạy truyền thống khi ông trở thành người giáo
sư đầu tiên giảng dạy bằng tiếng Đức, trong khi lẽ thường muốn rằng chúng
phải được giảng dạy bằng tiếng latin. Ông khiêu khích những người đương
thời bằng cách mặc một chiếu áo blouse đơn giản của phòng thí nghiệm và
từ chối chiếc áo choàng tạo nên uy tín của nghề nghiệp. Như thể những
lập trường của ông như thế chưa đủ, vào ngày thánh Jean 1527, ông đã đặt
những bản thảo của Galien và Avicenne trước trường Đại Học và châm lửa
đốt để chứng tỏ sự chống đối của mình với những lý thuyết cổ xưa. Hành
động này khiến ông được mệnh danh là “ Luther của nền y học ” nhưng cũng
khiến ông phải nhận những lời chỉ trích gay gắt và ông bị trục xuất ra
khỏi thành phố.
NHỮNG TƯ TƯỞNG CÁCH MẠNG
Đúng là Paracelse đã gây phiền nhiễu, vì những lý thuyết mới của ông được
căn cứ trên kiến thức của môi trường và các phép trị liệu của ông được
căn cứ trên việc sử dụng các hợp chất khoáng, là quá độc đáo vào thời
đó. Những trường hợp chữa lành bệnh mà Paracelse đạt được nhờ các phương
thức được cho là huyền bí, đã dấy lên nhiều nghi vấn và thế giới y khoa
bày tỏ sự nghi ngờ của mình. Sau đó Paracelse lại tiếp tục những cuộc
hành trình của ông. Ông nói rằng bệnh tật lang thang trên trái đất và
người thầy thuốc cũng phải lang thang để có thể hiểu được chúng. Trong
lúc còn sinh tiền, Paracelse xuất bản “ La Grande Chirurgie ”, mà Ambroise
Paré đã dựa vào phần lớn để săn sóc các thương binh trên chiến trường,
và “ Pronostic ”, được xuất bản năm 1536. Mặc dầu những tác phẩm của ông
không có lợi ích lớn về mặt y khoa, trái lại chúng rất đặc biệt trên quan
điểm cách mạng tư tưởng... Vào buổi bình minh của thời Phục hưng, Paracelse
khác người khi cho rằng sức khỏe của con người là chủ yếu và rằng sức
khỏe hài hòa với thiên nhiên. Nền y học của ông dựa trên 4 cột trụ : triết
học, thiên văn học, thuật giả kim và đức hạnh của người thầy thuốc, và
mặc dầu ông đã không có những khám phá gì đặc biệt, ông vẫn có thể được
xem như là một nhà tiên tri về một vài vấn đề nhất định. Thật vậy, Paracelse
là người đầu tiên khuyên làm thoáng khí các bệnh viện bởi vì ông nghĩ
rằng không khí mà chúng ta thở ở đó chứa một chất độc.
CON NGƯỜI TRƯỚC HẾT
Các bệnh tâm thần, còn không được biết đến vào thời kỳ đó, tuy vậy đã
được Paracelse nêu lên nhiều lần: “Một thương tổn như thế khi đó phát
xuất từ tinh thần (l’esprit), vì lẽ tinh thần hiện hữu trong thể xác (le
corps). Vậy, thể xác đã đau khổ và trở nên bị bệnh, không phải do vật
chất, không phải do thực thể vật chất (l’entité matérielle), mà là do
tinh thần. Vậy trong trường hợp này, y học tinh thần (médecine spirituelle)
là cần thiết.” Cũng khá ngạc nhiên chứng thực rằng, 4 thế kỷ trước Freud,
Paracelse đã nói : “Sự đọc các giấc mơ là một nghệ thuật lớn lao, bởi
vì các giấc mơ này không phải là không có ý nghĩa”, cũng như ông lập luận
rằng “nếu tinh thần đau khổ, thì thể xác cũng khổ đau.” Trên phương diện
sinh lý, Paracelse xem sự chuyển hóa (métabolisme) như là nơi xảy ra những
phản ứng hóa học và ông là người đầu tiên mô tả albumine trong nước tiểu.
Ông cũng nhận xét sự hiện diện của acide và tartre trong dạ dày. Nhưng
chính các chất nha phiến là được ông chú ý đến nhất. Ông tìm kiếm một
cách không mệt mỏi những chất mới, ít có hại và hoạt tính hơn và, theo
những ghi chép của ông, Paracelse đã chế tạo éther bằng pha trộn rượu
với acide sulfurique. Ông đưa thuốc phiện vào sử dụng trong y khoa. Mặc
dầu lộn xộn, phép trị liệu của ông nhằm loại bỏ các trở ngại và loại trừ
những phương cách có hại bằng cách áp dụng nguyên tắc của người thầy thuốc
duy nhất của thời Thượng cổ mà ông đã không chối bỏ: le similia similibus
d’Hippocrate. Lúc nghĩ rằng “những người đồng loại chữa lành bệnh những
người đồng loại”, rằng “cái xấu lúc tiến hóa có khuynh hướng trở thành
tốt”, và rằng “cái chữa lành con người cũng có thể làm thương tổn nó và
cái đã làm thương tổn con người có thể chữa lành nó”, Paracelse quả đã
đi trước cả Pasteur và Hahneman !
PHUƠNG PHÁP HỌC ĐỘC ĐÁO
Cho rằng mỗi bệnh có một phương thuốc đặc hiệu của nó, Paracelse đề nghị
đặt tên các bệnh theo phương thuốc điều trị của chúng. Thí dụ, ông gọi
“arsenical” khi nói đến bệnh dịch tả. Nhưng tính độc đáo của nhân vật
Paracelse không dừng lại ở đó. Ông căn cứ trên thiên văn học để chọn lúc
thuận lợi để thực hiện một điều trị, ông sử dụng khoa huyền bí (occultisme)
và các bức tượng nhỏ làm bùa yểm (figurines d’envoutement) trong mục đích
chữa lành bệnh. Paracelse nghĩ rằng thiên văn học là một yếu tố chủ yếu
trong nghệ thuật điều trị và rằng người thầy thuốc không biết đến môn
này không xứng đáng với tước hiệu của mình
VÀ PARACELSE TẠO RA TRẺ CON
Mặc dầu ông là người ngoan đạo, những thí nghiệm của Paracelse cũng khiến
ông tìm cách tạo ra con người bên ngoài thân thể của người đàn bà. Khi
đó ông đã thảo ra phương cách của Homonculus hay của “ em bé ống nghiệm
đầu tiên ”. Phương pháp của ông đơn giản : phải bảo tồn tinh trùng trong
40 ngày trong một nồi cất (alambic) để cho hạt giống này, lúc thối rửa,
bắt đầu cử động và biến thành dạng người. Sau đó mỗi ngày phải nuôi dưỡng
cái hạt giống máu người mới này trong 40 tuần ở nhiệt độ không thay đổi,
giống như nhiệt độ của bụng của một con ngựa để sinh ra một đứa trẻ đủ
tháng, mạnh khỏe, tương tự những trẻ khác nhưng chỉ có điều là bé nhỏ
hơn !
Dĩ nhiên là không có thể tóm tắt ở đây toàn bộ các công trình của người
đàn ông này ; ngoài ra chúng ta tự hỏi ông đã làm thế nào để vừa làm việc,
vừa du lịch và vừa biên soạn nhiều như thế suốt trong cuộc đời ngắn ngủi
của ông, chấm dứt vào năm 1541 ở tuổi 48. Thế thì, đó là người báo trước,
một thiên tài, hay một hiện tượng? Dầu sao Paracelse cũng xứng đáng để
chúng ta dành 2 trang viết này cho ông! (SEMPER 10/2008)
2/ NOEL VÀ NĂM MỚI LÀ MỘT THỜI
KỲ CAO ĐIỂM CỦA CÁC TAI BIẾN TIM MẠCH
Vào năm 1999, một nhóm các thầy thuốc chuyên khoa tim của vùng phụ cận
Los Angeles đã nghiên cứu tính chất biến thiên theo mùa của tỷ lệ tử vong
tim mạch. Trong một thời kỳ 12 năm, các thầy thuốc khoa tim đã quan sát
thấy một sự gia tăng các trường hợp vào mùa đông, được biết rõ là thường
có hại đối với những người bị bệnh tim. Những nhiệt độ thấp gây nên sự
gia tăng của sức cản mạch máu, của huyết áp, của nguy cơ co thắt động
mạch vành và của tính đông máu. Tuy vậy, các tác giả đã nghi nhận rằng
tiết trời mùa đông tương đối dịu trong vùng Los Angeles. Một phân tích
tinh tế hơn các con số đã tiết lộ rằng đường cong tử vong đã bắt đầu lên
cao vào khoảng Thankgiving, đạt một cao điểm vào Năm Mới, trước khi đi
xuống trở lại, trong khi nhiệt độ tối thiểu vẫn gần như không thay đổi
trong tháng 12 và tháng giêng.
TỐI ĐA VÀO LỄ NOEl
Vào năm 2005, một công trình nghiên cứu thứ hai đã mang lại những giải
thích. Ở đây, tỷ lệ tử vong tim mạch đã được quan sát trong suốt thời
kỳ 1973-2001, bằng cách sử dụng những dữ kiện từ toàn bộ lãnh thổ của
Hoa Kỳ. Các tác giả cũng đã quan sát thấy một sự gia tăng tỷ lệ tử vong
tim mạch trong thời kỳ cuối năm, nhất là vào những năm cuối cùng của thời
kỳ được nghiên cứu. Mặt khác, một đỉnh cao đã được quan sát một cách rất
chính xác trong suốt những ngày lễ Noel và năm mới. Tỷ lệ tử vong cao
nhất vào lúc réveillon de Noel, hơi thấp hơn ngày 25 tháng 12, và thấp
hơn nữa vào ngày đầu năm mới.
CUỘC CHÈ CHÉN VÀ SỰ CĂNG THẲNG CỦA NHỮNG NGÀY LỄ
Những cách giải thích khả dĩ không thiếu gì. Dĩ nhiên người ta nghĩ đến
ăn uống quá độ. Những bữa ăn nhiều mỡ hơn có một tác dụng không thuận
lợi lên chức năng nội mô (fonction endothéliale), trong khi muối làm gia
tăng gánh của hệ mạch máu. Rượu có thể gây nên nhưng rối loạn nhịp tim,
như rung nhĩ (fibrillation auriculaire), điều này có thể đưa đến những
thương tổn cấp tính nơi một cơ tim vốn bị thiếu máu cục bộ (myocarde ischémié).
Mặt khác, người ta cũng quan sát một khuynh hướng ít nhờ đến săn sóc y
tế hơn trong những ngày lễ : nhiều người không muốn làm hỏng bầu không
khí vui nhộn hay chỉ vì di chuyển đổi chỗ nơi khác. Ngoài ra các bác sĩ
điều trị ít túc trực hơn và do đó việc đến phòng cấp cứu được thực hiện
thường hơn.Thế mà, những thầy thuốc của các phòng cấp cứu này ít biết
rõ hơn những bệnh nhân đến thăm khám. Một cơ chế khác cũng có thể góp
phần, là vào những ngày tết, lửa củi được đốt thường hơn trong các lò
sưởi : một công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng những chất làm gây ô
nhiễm không khí bao quanh có thể gây nên sự gia tăng huyết áp và số lần
tai biến tim. Sau cùng, cũng phải xét đến sự kiện là Noel và Năm mới có
thể là những nguồn gốc của căng thẳng tâm thần (stress psychique) : một
vài người phải lo tổ chức lễ lạc, gấp vội và đương đầu với những công
tác bổ sung và trong vài trường hợp buộc phải gặp những người trong gia
đình mà họ muốn lẩn tránh. Tết là như vậy đó … (LE
GENERALISTE 18/12/2008)
3/ MỘT LY, CÒN ĐƯỢC… HƠN HAI LY THÌ …
Một trong những nguyên nhân khả dĩ của tỷ lệ tử vong tim mạch vào dip
cuối năm là bệnh rung nhĩ (fibrillation auriculaire), liên kết với sự
uống rượu gia tăng. Tác dụng có hại của một sự tiêu thụ rượu lâu dài lên
nguy cơ phát sinh rung nhĩ nơi đàn ông đã được công nhận với một sự nhất
trí rộng rãi, nhưng các dữ kiện hiện có về phụ nữ đến nay vẫn tỏ ra mâu
thuẫn.
Tư liệu y học đề cập dưới những góc độ khác nhau tác động của việc uống
rượu lên nguy cơ tim mạch. Uống rượu có chừng mực làm giảm nguy cơ mạch
vành, tai biến mạch máu não và suy tim sung huyết. Trái lại, uống cấp
tính những lượng lớn rượu (binge drinking) được thấy liên kết với một
nguy cơ gia tăng bị nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não và rung nhĩ.
Đó là những dữ kiện đã được xác nhận. Tuy nhiên có một sự nghi ngờ về
ảnh hưởng của việc uống rượu đều đặn lên nguy cơ phát triển bệnh rung
nhĩ, và nhất là ở các phụ nữ : những công trình nghiên cứu khác nhau đã
chỉ chứng tỏ một mối liên kết có ý nghĩa nơi đàn ông. Có thể có hai cách
giải thích cho điều được quan sát này. Hoặc là các phụ nữ ít nhạy cảm
đối với rượu, hoặc số phụ nữ tham gia vào các công trình nghiên cứu quá
thấp nên không thể xác lập được một mối liên hệ.
BẮT ĐẦU TỪ HAI LY.
Một công trình nghiên cứu mới đây mang lại một thông tin bổ sung. Trên
34.000 phụ nữ hơn 45 tuổi và mạnh khỏe vào lúc bắt đầu nghiên cứu, đã
được theo dõi trong một thời gian trung bình 12 năm. Họ đã báo cáo mức
độ uống rượu của họ trong một bảng câu hỏi : không uống ly nào, dưới một
ly mỗi ngày, dưới hai ly mỗi ngày, hay hơn hai ly mỗi ngày. Những kết
quả cho thấy rằng chỉ những phụ nữ đã uống hơn hai ly mỗi ngày mới có
một nguy cơ gia tăng quan trọng bị rung nhĩ lâu dài. Những kết quả này
có khuynh hướng cho thấy rằng trên thực tế phụ nữ nhạy cảm với rượu hơn
là đàn ông. Thật vậy, một điều tra trước đây đã thiết lập ngưỡng 5 ly
mỗi ngày nơi đàn ông.
CẤP TÍNH VÀ MÃN TÍNH.
Chúng ta hãy trở lại với những người ăn Noel và Năm Mới. Công trình nghiên
cứu nói trên không liên hệ với việc uống những lượng rượu cao nơi những
người hầu như không hề uống rượu trong năm.Về vấn đề này, chẳng phải hoài
nghi bao nhiêu : những người này có nguy cơ bị rung nhĩ gia tăng, dầu
cho số lượng rượu uống trong năm là bao nhiêu. Vậy một nồng độ rượu cao
đúng là có hại về lâu về dài đối với điện sinh lý của tim (LE
GENERALISTE 18/12/2008)
4/ RƯỢU VÀ CÁC HUYẾT QUẢN
Nếu một hoặc hai ly rượu vang mỗi ngày có thể có lợi cho tim và các huyết
quản, thì trái lại sự hấp thụ những lượng lớn rượu trong một khoảng thời
gian giới hạn làm gia tăng nguy cơ bị xơ mỡ động mạch (athérosclérose).
Một thí nghiệm được thực hiện in vitro bởi John P.Cullen và các cộng sự
viên (Đại Học Rochester, Hoa Kỳ) đã làm sáng tỏ một cơ chế khả dĩ. Những
liều lượng cao acétaldéhyde, chất chuyển hóa chính của rượu, có thể kích
thích sự dính kết của các bạch cầu mono (monocytes) với hậu quả là làm
gia tốc quá trình xơ mỡ động mạch.
Vậy rượu dường như gây nên những tác dụng đối nhau, tùy theo cách uống
: uống có mức độ (1-2 ly mỗi ngày) có một tác dụng bảo vệ tim. Nhưng hoàn
toàn trái lại nếu ta “ tiết kiệm ” những nồng độ có ích hàng ngày trong
năm, để uống chúng chỉ trong một lần vào dịp đêm Giáng Sinh. (LE
GENERALISTE 18/12/2008)
5/ CÁC PHỤ NỮ ÍT CHUNG THUỶ HƠN Ở TUỔI 30
Chính trong lứa tuổi 30 mà các phụ nữ thường có khuynh hướng không chung
thủy nhất, theo một công trình nghiên cứu được thực hiện ở Đại học Bradley,
Illinois. Theo các tác giả, các phụ nữ này tìm cách gia tăng cơ may có
thai bởi vì, ở lứa tuổi này, khả năng sinh sản của họ bắt đầu giảm xuống.
Và chính vào khoảng 30 tuổi là thời kỳ mà các phụ nữ sẽ trải qua một đỉnh
cao của hoạt động sinh dục. (LE SOIR 12/12/2008)
6/ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO : SỰ KHÔNG HAY
BIẾT CÓ THẾ NGUY HẠI.
Neurologie. Một điều trị cấp cứu làm giảm nguy cơ tàn phế trong trường
hợp tai biến mạch máu não. Một điều tra cho thấy rằng sự không hay biết
các triệu chứng làm chậm trễ sự điều trị. Tai biến mạch máu não mỗi năm
xảy ra nơi 150.000 người ở Pháp. Đó là nguyên nhân chính gây tàn phế nơi
người trưởng thành. Một loại thuốc được tiêm vào trong 3 giờ đầu sau các
triệu chứng đầu tiên, làm giảm 40% nguy cơ bị các di chứng sau một tai
biến mạch máu não. Thế mà, một điều tra của Mỹ được công bố tuấn vừa qua
trong tạp chí Emergency Medicine Journal tiết lộ rằng hơn một nửa các
bệnh nhân bị đột qụy đã không hay biết các triệu chứng, đã không hiểu
điều gì đã xảy ra đối với họ. Và người ta thích chờ đợi cho điều đó qua
đi hơn là gọi cấp cứu.
Chính phủ Anh sẽ phát động một chiến dịch thông tin đại chúng nhằm dạy
cho dân chúng nhận diện các dấu hiệu đầu tiên của một tai biến mạch máu
não. Ở Pháp, các chuyên gia cũng lo sợ về sự chậm trễ trong việc điều
trị. Họ cũng đánh giá rằng những chiến dịch như thế là cần thiết. Trong
80% các trường hợp, tai biến mạch máu não là hậu quả của sự bít tắc của
một động mạch của não bộ bởi một huyết khối (thrombose, một cục máu đông),
trong 20% các trường hợp là hậu quả của sự xuất huyết của một động mạch.
Công cuộc điều tra của Hoa Kỳ dựa trên sự hỏi bệnh 400 người được nhập
viện ở Mayo Clinic, Rochester vì một tai biến mạch máu não. Chỉ 42% các
bệnh nhân, ngay từ những triệu chứng đầu tiên, đã hiểu rằng họ đang bị
một cơn đột qụy và đã gọi cấp cứu khá nhanh. Những bệnh nhân khác, nghĩ
rằng đó là những rối loạn tạm thời, đã chờ đợi, hy vọng rằng triệu chứng
sẽ tự qua đi. Tuy vậy, 50% biết rằng một cơn đột qụy phải được điều trị
cấp cứu, mặc dầu chỉ 20% trong số những bệnh nhân này biết có một loại
thuốc có khả năng làm tan các cục máu đông trong não bộ. “Ở Pháp, không
có những công trình nghiên cứu thuộc loại này, nhưng có rất nhiều vấn
đề trong sự nhận biết bởi chính các bệnh nhân về các tai biến mạch máu
não”, G.S Amarenco (trung tâm nhận và điều trị các cơn đột qụy, bệnh viện
Bichat, Paris) đã phàn nàn như vậy.
Vậy sự dốt nát tạo nên một sự mất cơ may. Chính vì vậy phải biết rằng
cơn đột qụy đôi khi xảy ra một cách đột ngột hay có thể tiến triển trong
vài giờ. Cường độ của những rối loạn ban đầu biến thiên, cũng như biểu
hiện triệu chứng của chúng, tùy theo vùng não bộ bị liên hệ.
“ PHẢI HÀNH ĐỘNG TRONG VÒNG DƯỚI 3 GIỜ ”
Những triệu chứng thường gặp nhất là yếu cơ hay liệt một phần của cơ thể.
Trong trường hợp bán thân bất toại (hémiplégie), mặt, cánh tay và cẳng
chân cùng bên bị bại liệt cùng lúc. Có thể đó là một sự mất cảm giác:
sự tê cóng hay không có cảm giác, một sự khó khăn về ngôn ngữ, khó phát
âm hay á khẩu (aphasie) (nín câm, khó tìm ra chữ). Các bệnh nhân cũng
có thể có những rối loạn thị giác, mù đột ngột một mắt, một nửa của thị
trường. Hay những rối loạn cân bằng hay tri thức, có thể dẫn đến hôn mê.
Triệu chứng đầu tiên có thể là đau đầu, đột ngột, không bình thường, rất
dữ dội. Những triệu chứng ngay cả tạm thời đều cần được điều trị cấp cứu.
Sự thông tin là cơ bản. Nhưng sự thông tin này phải được điều hợp với
một một điều trị cấp cứu ngoài bệnh viện và một tổ chức ngay trong lòng
bệnh viện rất nhanh chóng. “ Trong trường hợp tai biến mạch máu não, phải
hành động trong vòng dưới 3 giờ. Ở Pháp phần lớn các bệnh nhân đều ở xa
giới hạn này. Phải tiến hành một chiến dịch thông tin rộng lớn để dạy
cho các bệnh nhân nhận biết các triệu chứng của họ. Đồng thời phải đưa
y tế cộng đồng vào trong trường học để giảng dạy cho các trẻ em biết nhận
biết các bệnh tật, nhồi máu, đột qụy , v...v, G.S Amarengo đã giải thích
như vậy. (LE FIGARO 11/12/2008)
7/
TESTOSTERONE KÍCH THÍCH DỤC TÍNH CỦA NHỮNG PHỤ NỮ MÃN KINH
Thuốc dán qua da (patch transdermique) phóng thích 300mcg testostérone
mỗi ngày, liên kết với oestrogène liệu pháp, làm cải thiện dục tính của
những phụ nữ mãn kinh. Tuy nhiên vì việc sử dụng oestrogène kéo dài có
thể gây vài nguy cơ, nên việc cho toa các thuốc dán này đã trở nên có
mức độ hơn, từ đó câu hỏi được đặt ra : testostérone dùng đơn độc có thể
có hiệu quả lên sự ham muốn tình dục hay không ? Theo một công trình nghiên
cứu quốc tế “Aphrodite”, câu trả lời là vâng : 814 phụ nữ ở tuổi mãn kinh
với dục tính bị giảm, đã được phân thành những nhóm khác nhau. Những nhóm
này đã nhận trong 24 tuần hoặc 1 placebo, hoặc testostérone. Kết quả :
liều lượng 300 mcg testostérone mỗi ngày đã cải thiện một cách đáng kể
ham muốn tình dục, sự kích thích, trạng thái khoái lạc cực độ, tần số
các giao hợp và tình trạng tâm lý của những người tham dự. Vài tác dụng
phụ đã được quan sát. Trong dưới 8% các trường hợp : một giọng nói hơi
bị rồ hơn, đôi khi rụng tóc ; trong 20% các trường hợp : một sự gia tăng
trung bình hệ lông. Đáng lo ngại hơn là sự xuất hiện 4 ung thư vú trong
nhóm dùng hormone, so sánh với không có trường hợp ung thư nào trong nhóm
placebo. Sự khác nhau này dường như không đáng kể và có thể là do sự tình
cờ. Cần những nghiên cứu bổ sung khác. (PARIS MATCH
18-24/12/2008)
8/ CÁC TRẺ EM KHÔNG RÚT ĐƯỢC KINH
NGHIỆM TỪ CÁC SAI LẦM.
Học được kinh nghiệm từ các sai lầm của mình : tại sao điều đó dường như
khó khăn đến như vậy khi chúng ta chỉ mới 8 hay 9 tuổi ? Nhóm nghiên cứu
Hoà Lan, được điều khiển bởi Eveline Crone đã yêu cầu 55 người tình nguyện
từ 8-9 tuổi, 11-13 tuổi và 18-25 tuổi, thực hiện những bài tập về thị
giác, sau đó những người tình nguyện này nhận một lời bình phẩm dương
tính hoặc âm tính tùy theo họ có đạt hay không đạt. IRM đã phát hiện rằng
những thanh niên 18-25 tuổi hoạt hóa nhiều những vùng kiểm soát nhận thức
khi chúng nhận những lời nhận xét âm tính hơn là những lời nhận xét dương
tính, nhằm điều chỉnh hành vi của chúng. Trái lại, những trẻ 8-9 tuổi
hoạt hóa những vùng nhận thức này hơn sau khi nhận được những lời bình
phẩm dương tính. Như thế, chúng khó có thể tự sửa chữa khi chúng bị sai
lầm. Điều đó được giải thích bởi sự thiếu kinh nghiệm, kết hợp với một
não bộ còn chưa trưởng thành. Sự chuyển tiếp được thực hiện ở lứa tuổi
11-13 tuổi, khi não bộ bắt đầu chấp nhận những lời chỉ trích âm tính và
rút kinh nghiệm từ những sai lầm này. (SCIENCES ET
VIE 12/2008)
9/ CÁC BỆNH TIM MẠCH : HƯỚNG VỀ
MỘT SỰ PHÒNG NGỪA RỘNG LỚN HƠN ?
G.S Michel Desmos, trưởng khoa tim, bệnh viện Georges-Pompidou, Paris,
giải thích những kết quả thu được với rosuvastatine (Crestor) nơi những
người có tố bẩm bị những vấn đề động mạch và tim.
Hỏi : Ông có thể nhắc lại
cho chúng tôi những bệnh tim mạch thường xảy ra nhất là những bệnh nào
?
G.S Michel Desnos : Đó là những bệnh tim mạch liên kết với chứng xơ mỡ
động mạch (athérosclérose), bệnh lý trong đó các mảng xơ mỡ (athérome
: chất mỡ ứ đọng) làm hẹp lỗ của các động mạch và (với sự tạo thành một
cục máu đông) cuối cùng làm nghẽn nó. Các động mạch của tim khi bị bít
gây nên một nhồi máu cơ tim (infarctus du myocarde) hay một cơn đau thắt
ngực (angine de poitrine), các động mạch ở cổ và đầu khi bị bít, gây nên
một tai biến mạch máu não và các động mạch của các chi khi bị bịt gây
nên một viêm động mạch (artérite). Các bệnh tim mạch là nguyên nhân đầu
tiên hay thứ hai gây tử vong trong những nước phát triển.
Hỏi : Những người nào có
bẩm chất bị bệnh tim mạch và các yếu tố nguy cơ là gì ?
G.S M.D : Một vài gia đình đặc biệt có bẩm chất : khi đó người ta nói
là những yếu tố di truyền. Những yếu tố nguy cơ cổ điển khác là cao huyết
áp, tăng cholestérol-máu, bệnh đái đường, chứng nghiện thuốc lá và những
yếu tố không thể biến đổi khác như tuổi tác và giới tính. (Trước 50 tuổi,
đàn ông dễ bị hơn phụ nữ, khi đó được bảo vệ bởi những oestrogènes). Ngoài
những yếu tố thường được xét đến này, để quyết định hay không tính hữu
ích của một biện pháp phòng ngừa, còn có những chỉ dấu nguy cơ tim mạch
khác và đặc biệt là một nồng độ cao trong máu của protéine C-réactive,
CRP, một chỉ dấu sinh học của sự viêm.
Hỏi : Trong trường hợp nào
thì một điều trị phòng ngừa được thực hiện ?
G.S M.D : Sự hiện diện của chỉ một trong những yếu tố nguy cơ này không
nhất thiết dẫn đến một sự phòng ngừa. Những lời khuyến nghị chính thức
hiện nay khuyên tiến hành một liệu pháp phòng ngừa (để hạ nồng độ cholestérol
xấu LDL, chịu trách nhiệm sự tạo thành các mảng xơ mỡ) trong những trường
hợp rất chính xác, liên kết với sự đánh giá nguy cơ toàn bộ (risque global).
Nguy cơ toàn bộ này được tính toán bằng cách cộng lại các yếu tố nguy
cơ cổ điển mà tôi vừa nêu trên. Một điều trị kháng cholestérol (traitement
anticholestérol) chỉ được chỉ định khi nguy cơ toàn bộ này cao. Những
bệnh nhân có nguy cơ thấp không phải nhận một loại thuốc kháng cholestérol
nào cả.
Hỏi : Những điều trị thường
dùng để ngăn ngừa những bệnh tim mạch là những điều trị nào ?
G.S M.D : Có những dược phẩm đã xưa của họ fibrates, nhưng từ một thập
niên nay, người ta sử dụng nhất là một thuốc kháng cholestérol thuộc họ
statines, có hoạt tính hơn. Nhờ những điều trị phòng ngừa có hiệu quả
này, nồng độ cholestérol xấu (LDL) trong máu hạ xuống trung bình 20 đến
30%. Tần số các bệnh tim mạch nghiêm trọng đã giảm đi rất nhiều.
Hỏi : Tại sao người ta tiến
hành một công trình nghiên cứu lên các bệnh nhân mà các tiêu chuẩn của
nguy cơ toàn bộ không biện minh cho một điều trị phòng ngừa ?
G.S M.D : Bởi vì, trong những năm qua, người ta đã nhận thấy rằng một
nửa các bệnh nhân bị một tai biến tim, có một nồng độ cholestérol xấu
(LDL) tương đối thấp. Do đó người ta muốn biết xem những người được xem
là có nguy cơ thấp này có thể được hưởng một điều trị bằng statines hay
không. Một công trình nghiên cứu quốc tế đã được bắt đầu để trắc nghiệm
tính hiệu quả của rosuvastatine (Crestor), nơi những bệnh nhân có một
nồng độ LDL thấp nhưng có một protéine C-réactive cao. Vậy mục đích của
công trình nghiên cứu là kiểm tra xem người ta có thể bảo vệ chống lại
các bệnh tim mạch nơi một bộ phận dân chúng rộng rãi hơn nhiều.
Hỏi : Người ta đã thu được
những kết quả nào ?
G.S M.D : Công trình nghiên cứu quốc tế (trong 26 nước), được thực hiện
trên 18.000 đàn ông và phụ nữ với lứa tuổi tuổi trung bình 66. Các bệnh
nhân được chia thành hai nhóm : một nhóm đã nhận 20mg rosuvastatine (Crestor)
mỗi ngày (bằng đường miệng) và nhóm kia một placebo. Kết quả : điều trị
đã tỏ ra có hiệu quả đến độ công trình nghiên cứu, được dự kiến lúc đầu
là 4 năm đã được dừng lại sau 21 tháng để tất cả những người tham dự có
thể hưởng mà không phải chờ đợi tác dụng phòng ngừa của rosuvastatine.
Trong nhóm được điều trị, nguy cơ bị nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu
não và tử vong do bệnh tim mạch giảm khoảng 47% so với nhóm placebo !
Và người ta đã không thấy những tác dụng phụ trong nhóm được điều trị
bằng statines cao hơn nhóm placebo. Kết luận của công trình nghiên cứu:
nơi những người được xếp loại là có nguy cơ thấp và có một chỉ dấu sinh
học viêm cao (CRP), một điều trị với rosuvastatine ngăn ngừa sự xuất hiện
của một bệnh tim mạch.
Hỏi : Sau những kết quả
này, từ nay người ta có sẽ điều trị kháng cholestérol phòng ngừa (traitement
préventif anticholestérol) nơi những người có nguy cơ thấp nhưng với CRP
cao hay không ?
G.S M.D : Mặc dầu những dữ kiện này là quan trọng, nhưng cũng như mọi
công trình nghiên cứu, nghiên cứu này cũng có những hạn chế của nó. Thí
dụ, công trình này chỉ kéo dài 21 tháng, điều này tương ứng với một thời
gian khá ngắn ngủi. Trước khi thay đổi những khuyến nghị chính thức, sẽ
phải chờ đợi những kết quả của những nghiên cứu khác được tiến hành lâu
hơn trong nhiều loại dân chúng và so sánh giữa chúng, những hiệu quả của
những statines khác nhau. (PARIS MATCH 4/12-10/12/2008)
10/
MỘT VI KHUẨN CÓ THỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH CROHN
Một vi khuẩn của khuẩn chí ruột (flore intestinale) có thể cho phép phát
triển những điều trị mới trong bệnh Crohn, bệnh mãn tính của ống tiêu
hóa, gây bệnh cho 50.000-100.000 người ở Pháp. Nơi các bệnh nhân bị Crohn,
các nhà nghiên cứu của Inserm đã nhận xét sự gần như vắng mặt của Faecalbacterium
prausnitzii, vi khuẩn thường trú của bộ máy tiêu hóa. Sự vắng mặt này
có thể góp phần vào sự rối loạn của hệ miễn dịch, khi đó quay trở ngược
chống lại cơ thể. Các nhà nghiên cứu Pháp đã nghiên cứu vi khuẩn in vitro,
rồi đã đưa vi khuẩn này vào các chú chuột đã được xử lý để chúng phát
triển những triệu chứng giống với những triệu chứng của bệnh Crohn. Khi
đó các triệu chứng nơi những con chuột đã được xử lý này được giảm bớt
sau khi đã tiếp nhận vi khuẩn Faecalbacterium prausnitzii. Sự vắng mặt
trong ruột của các vi khuẩn có những tính chất chống viêm có thể là nguyên
nhân của bệnh Crohn.
Một vi khuẩn sống trong ruột người có thể đóng một vai trò quan trọng
trong bệnh Crohn, một bệnh viêm của ống tiêu hóa, gây bệnh cho 60.000
người ở Pháp. Thật vậy, sự vắng mặt của vi khuẩn này có thể là nguyên
nhân của bệnh Crohn. Khám phá này có thể mở ra những triển vọng điều trị
mới.
Đó là kết quả của một nghiên cứu được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu
của Inserm. Bệnh Crohn, cũng như Recto-colite hémorragique, gây nên những
đợt ỉa chảy, nhưng đôi khi cũng gây nên nghẽn ruột, thủng hay áp-xe, có
thể cần đến những phẫu thuật để lấy đi một phần ruột già hay ruột non
bị bệnh. Bệnh được biểu hiện bằng một ỉa chảy mãn tính, kèm theo đau bụng
thường xuyên và quan trọng. Bệnh nhân gầy ốm, thường có sốt, mệt mỏi.
Các nguyên nhân vẫn còn bí mật, mặc dầu mới đây một danh sách 80 gènes
có liên quan trong sự phát sinh bệnh đã được công bố.
Mãi đến nay, không có một điều trị nào có thể chữa lành được bệnh Crohn.
Một trong những hướng được theo đuổi từ nhiều thập niên bởi nhiều nhóm
nghiên cứu liên quan đến các vi khuẩn được chứa trong ruột của chúng ta.
Rất nhiều vi khuẩn đã được phân lập trong khuẩn chí ruột này và được nghi
ngờ là đãlàm phát khởi và duy trì một sự bộc phát thường trực của hệ miễn
dịch của niêm mạc ruột.
Một họ vi khuẩn được đặc biệt nhắm đến là của nhóm Clostridium leptum,
những vi khuẩn trong ruột của những bệnh nhân bị bệnh Crohn. Harry Sokol
và các cộng sự viên đã khám phá rằng một vi khuẩn đặc biệt được gọi là
Faecalibacterium prausnitzii, bình thường hiện diện nơi những người bình
thường, vắng mặt hoặc hiện diện với lượng rất thấp nơi những người bị
bệnh Crohn. Cũng vậy, nguy cơ tái phát sớm càng quan trọng khi nồng độ
Faecalibacterium trong ruột càng thấp. Đi từ những quan sát này, các nhà
nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết cho rằng sự thuyên giảm bệnh ( không có
tái phát) có thể được liên kết với sự hiện diện của vi khuẩn Faecalibacterium
prausnitzii. Vi khuẩn này có những tác dụng chống viêm và có tác dụng
kích thích, hơn mọi loại vi khuẩn khác, sự sản xuất các phân tử của hệ
miễn dịch (các cytokines), như interleukine 10.
Nhóm nghiên cứu người Pháp do đó hướng về một mô hình chuột bị một bệnh
tương tự với bệnh Crohn. Họ đã quan sát rằng khi cho các vi khuẩn Faecalibacterium
prausnitzii, hay nước canh cấy của những vi khuẩn này, trong nước uống
của các chú chuột, đã làm giảm mức độ nghiêm trọng của các đợt viêm đại
tràng nơi những động vật gặm nhấm.
Đây là lần đầu tiên một vi khuẩn có những tính chất chống viêm như thế
và hiện diện tự nhiên trong cơ thể, đã được nhận diện. Theo Harry Sokol,
tác giả của bài báo mới được công bố : “Có một cân bằng tự nhiên giữa
những vi khuẩn gây viêm và kháng viêm (bactéries pro- et antiinflammatoires).
Trong bệnh Crohn, sự cân bằng này bị phá vỡ.”
Khám phá mấu chốt này đưa đến một liệu pháp thuộc loại hoàn toàn mới nhằm
điều trị những bệnh viêm của ruột, dựa trên sự hấp thụ một “probiotique”,
một nước canh những thức ăn bổ sung, mà các thành phần là những vi sinh
vật sống. (LE FIGARO 8/12/2008) (SCIENCES ET AVENIR
12/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(19/12/2008)
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |