 |
Thời
Sự Y Học số 105
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ ALFRED BLALOCK VA HELEN
BROOKE TAUSSIG
Phẫu thuật Blalock là một can thiệp nhằm làm gia tăng lượng máu trong
thân của động mạch phổi (le tronc de l’artère pulmonaire). Phẫu thuật
này nhằm cắt đứt động mạch mạch dưới đòn (artère subclavière) trái hay
phải và nối vào động mạch phổi (artère pulmonaire) tương ứng. Shunt modifié
de Blalock-Taussig khác với phẫu thuật đầu tiên này ở chỗ shunt thực hiện
sự nối (anastomose) giữa động mạch dưới đòn và nhánh phổi nhờ một prothèse,
thí dụ một ống bằng Gore Tex. Phương pháp này cho phép tái lập và duy
trì sự thông thương giữa động mạch dưới đòn và động mạch nách (artère
axillaire).
Alfred Blalock chắc chắn thuộc vào loại những đứa trẻ thần đồng. Sinh
ngày 5 tháng 4 năm 1899 ở Culloden (Géorgie, Hoa Kỳ), lúc 14 tuổi, ông
ghi tên vào viện hàn lâm quân sự Géorgie, một trường để chuẩn bị vào Đại
Học Quốc Gia. Năm 1918, lúc chỉ mới 19 tuổi, ông tốt nghiệm trường đại
học này với một văn bằng vị thứ ưu hạng và một lần nữa vào trường y John
Hopkins. Ở đây ông kết thân với một Tinsley Harrison nào đó, tác giả của
cuốn “Principles of Internal Medicine” mà ngày nay được biết
trên khắp thế giới.
Alfred Blalock sẽ ở lại Baltimore 7 năm trước khi đến bệnh viện Peter
Bent, Boston, ở đây ông được giao chức vụ phẫu thuật viên.Vừa mới đến
bệnh viện này, ông lại lên đường đến đại học Vanderbilt, Nashville (Tennessee),
ở đây một lần nữa ông lại gặp người bạn Harrison của ông. Tại đại học
này, ông giảng dạy cho các sinh viên năm thứ 3 và 4 và điều khiển phòng
nghiên cứu ngoại khoa. Ông chủ yếu chuyên tâm vào nghiên cứu và điều trị
các sốc xuất huyết và chấn thương. Những thí nghiệm mà ông tiến hành trên
chó khiến ông khám phá ra rằng chính sự mất máu là nguồn gốc của sốc ngoại
khoa (choc chirurgical). Sự khám phá này cho phép ông đề nghị với các
đồng nghiệp rằng để điều trị biến chứng giải phẫu sốc ngoại khoa phải
cần đến huyết thanh hay những sản phẩm máu. Một lời khuyên trong số những
lời khuyên đúng đắn nhất đã cứu mạng nhiều binh lính trong Đệ Nhị Thế
Chiến. Cũng chính ở đại học Vanderbilt mà lần đầu tiên ông đã thử nối
động mạch dưới đòn trái với động mạch phổi trái. Những thí nghiệm đầu
tiên tuy thất bại, nhưng Blalock biết tỏ ra kiên trì. Năm 1941, ông được
bổ nhiệm làm phẫu thuật viên trưởng của bệnh viện John Hopkins và mang
đến đây người phụ tá người Mỹ gốc châu Phi, Vivien Thomas. Suốt trong
nhiều năm, họ cùng nhau làm việc để hoàn thiện kỹ thuật nối tắt giữa động
mạch chủ và động mạch phổi (shunt aorto-pulmonaire), được hỗ trợ bởi Helen
Taussig.
HELEN BROOKE TAUSSIG
Con gái của một giáo sư kinh tế học ưu tú của đại học Havard, Helen Brooke
Taussig sinh ngày 24 tháng năm 1898 ở Cambridge (Massachusetts). Mặc dầu
trong thời thơ ấu bà bị một thể nặng của chứng loạn đọc (dyslexie), bà
vẫn theo đuổi một chặng đường xuất sắc nhất, sẽ đưa bà từ trường dành
cho nữ sinh của Cambridge đến đại học John Hopkins, qua đại học Berkeley
(Californie), rồi trường y Harvard và cả đại học Boston. Là nữ tiền phong
của tim học nhi đồng (cardiologie pédiatrique), Helen Taussig cũng phải
vượt qua trở ngại của chứng điếc của mình. Để nói chuyện với bố mẹ, bà
học đọc trên môi và bằng các ngón tay của mình “nghe” các nhịp đập của
trái tim. Bà dành phần lớn sự nghiệp của mình vào nghiên cứu hội chứng
em bé được gọi là xanh tía (syndome du bébé bleu) và cộng tác vào các
công trình nghiên cứu của Alfred Blalock và của Vivien Thomas về kỹ thuật
nối tắt (shunt). Cuộc giải phẫu này được tiến hành lần đầu tiên ngày 29
tháng 11 năm 1944, trên một em bé 11 tháng và đã thành công. (SEMPER
10/2008)
2/ MỘT VACCIN ĐẦY HỨA HẸN CHỐNG BỆNH SỐT
RÉT
Parasitologie : Nhiều thử nghiệm tỏ ra dương tính nơi các nhũ nhi và các
em bé châu Phi. Một công trình nghiên cứu được công bố trên New England
Journal of Medicine tiết lộ những kết quả tốt đẹp của một vaccin ứng viên,
được trắc nghiệm qua 2 nghiên cứu lâm sàng ở Tanzanie và Kenya. “Trên
khoảng 250 triệu trường hợp sốt rét được ghi nhận năm 2006, trong đó 1
triệu trường hợp tử vong, phần lớn xảy ra nơi các trẻ em dưới 5 tuổi của
vùng châu Phi”, báo cáo năm 2008 của OMS đã chỉ rõ như vậy. Những con
số báo động này chẳng bao lâu nữa có thể được hạ xuống nhờ những cố gắng
đuợc thực hiện nhằm chế tạo một vaccin chống lại bệnh sốt rét.
Lần này có lẽ là tin tốt lành : sau 70 năm nghiên cứu, bế tắc, thất bại
và thất vọng trước ký sinh trùng gây bệnh sốt rét, đáng sợ và không hiểu
thấu, những kết quả thử nghiệm cuối cùng của một vaccin ứng viên nơi các
nhũ nhi và các trẻ em khiến có thể nghĩ rằng có lẽ chúng ta đang trên
đường thẳng cuối cùng. Vaccin này, nhằm chống lại một cách đặc hiệu 4
ký sinh trùng gây bệnh nơi người (Plasmodium falciparum), là một phân
tử tổng hợp. Được tiêm vào trong cơ thể, vaccin làm phát khởi sự sản xuất
các kháng thể chống lại một protéine bề mặt của ký sinh trùng trẻ trước
khi ký sinh trùng này xâm chiếm lá gan.
Hai thử nghiệm độc lập mới của cùng vaccin đã được công bố đồng thời hôm
qua trên site Internet của New England Journal of Medicine : những thử
nghiệm này cũng báo cáo một sự bảo vệ đáng kể chống lại bệnh sốt rét nơi
những người được tiêm chủng.
Từ năm 2004, vaccin ứng viên này, kết quả của một sự cộng tác giữa GlaxoSmithKline
và cơ quan Path của Hoa Kỳ, đã có nhiều thành công. Vào tháng 10 năm 2004,
một dạng đầu tiên của vaccin (được đặt tên là RTS, S/AS) đã là đối tượng,
trong The Lancet, của một thử nghiệm lâm sàng trẻ em ở Mozambique trên
2000 trẻ em từ 1 đến 4 tuổi. Vaccin RTS, S/AS này đã được phát minh, phát
triển và chế tạo bởi các phòng thí nghiệm GSK Biologicals ở Bỉ (Rixensart)
vào cuối những năm 1980.
GIẢM 53% CÁC CƠN
Nơi gần 30% các người được tiêm chủng, sự xuất hiện của một cơn sốt rét
đầu tiên được làm chậm hay ngừng lại, và sự hiện diện của ký sinh trùng
trong máu là 37% thấp hơn so với nhóm đã nhận một placebo. Một năm sau,
một nghiên cứu theo dõi, cũng được công bố trên The Lancet, cho thấy rằng,
sau 21 tháng, đa số trong 2000 trẻ em được tiêm chủng đã có những nồng
độ quan trọng trong máu của những kháng thể được sinh ra bởi vaccin và
một hiệu quả tiêm chủng đạt 28%.
Hai công trình nghiên cứu mà New England công bố hôm qua, một được thực
hiện trên 340 nhũ nhi ở Tanzanie, và một trên 894 em bé từ 5-17 tháng
ở Kenya và Tanzanie. Như William Collins (CDC d’Atlanta) đã nhắc lại trong
một bài xã luận của New England, rằng làm những thử nghiệm về tính hiệu
quả và độ an toàn của một vaccin trên các em bé là công việc rất khẩn
cấp, bởi vì đại đa số trong số từ 1 đến 3 triệu tử vong mỗi năm vì sốt
rét đều xảy ra trước 5 tuổi. Trong thử nghiệm trên các trẻ sơ sinh, được
thực hiện bởi BS Salim Abdulla (Ilfakara Health Institute Tanznia), vaccin
RTS, S/AS đã được chích nơi các nhũ nhi, 3 liều vào 8, 12 và 16 tuần,
cùng với những vaccin khác của chương trình tiêm chủng mở rộng. Vaccin
ứng viên chống sốt rét đã không cho thấy tác dụng chồng chéo với những
vaccin khác được cho đồng thời. Thật vậy, những đáp ứng miễn dịch bảo
vệ được sinh ra bởi các kháng nguyên của bệnh bạch hầu, bệnh uốn ván,
bệnh ho gà và hemophilus influenza B cũng vẫn có hiệu quả khi những kháng
nguyên này được chích với RTS, S/AS. Vaccin RTS, S/AS không những an toàn
mà còn làm giảm 65% nguy cơ bị một cơn sốt rét đầu tiên trong nhóm được
tiêm chủng.
Mục đích của nghiên cứu lâm sàng được thực hiện trên 894 em bé ở Tanzania
và Kenya là để đánh giá độ an toàn và tính hiệu quả của một dạng hơi bị
biến đổi của vaccin : RTS, S/AS 01. Dạng vaccin này được phối hợp với
một hệ những chất hỗ trợ khác, những chất được thêm vào vaccin để làm
tăng cường tác dụng của nó. Các kết quả của những trắc nghiệm này đã cho
thấy rằng RTS/AS01 đã làm giảm 53% số các cơn sốt rét trong một thời kỳ
theo dõi 8 tháng. Những kết quả của một thử nghiệm một dạng vaccin khác
năm 2007 đã không vượt quá tỷ lệ 37% giảm nguy cơ.
Do những kết quả tốt thu được trong những công trình nghiên cứu giai đoạn
2 này, một nghiên cứu giai đoạn 3 trên một số lượng người tình nguyện
lớn hơn theo dự kiến sẽ được bắt đầu trong một tương lai gần. (LE
FIGARO 9/12/2008) (LE SOIR 9/12/2008)
3/ BỆNH SỐT RÉT GÂY TỬ VONG TỪ 1 ĐẾN 3 TRIỆU
NGƯỜI MỖI NĂM
Cuộc đấu tranh chống lại bệnh sốt rét hiện qua giai đoạn phát triển các
mùng được tẩm bởi các chất diệt côn trùng và sự phân phát các loại thuốc
trong khi chờ đợi một vaccin.
Sự loan báo những kết quả đáng chú ý thu được với một vaccin ứng viên
chống bệnh sốt rét là một tin rất tốt lành. Nhưng, hiện nay, căn bệnh
này vẫn còn gây tử vong cho từ 1 đến 3 triệu người mỗi năm, đặc biệt là
nơi những trẻ em dưới 5 tuổi, mà hệ miễn dịch chưa được chín mùi và cần
phải được bảo vệ ưu tiên. Hơn 300 triệu người trên thế giới mỗi năm có
những cơn sốt rét, chủ yếu là ở Châu Phi dưới Sahara (chiếm 85% các trường
hợp tử vong), và ở một mức độ ít hơn, ở Nam Mỹ và Châu Á. Mỗi năm ở Pháp,
hơn 5.000 người bị bệnh, sau khi trở về từ một vùng có bệnh sốt rét lưu
hành.
Sốt rét (từ chữ latin Paludis, có nghĩa là đầm lầy) được gây nên bởi một
ký sinh trùng được truyền khi bệnh nhân bị chích bởi một con muỗi cái
anophèle. Ký sinh trùng (có 4 dạng chính, trong đó nguy hiểm nhất là Plasmodium
falciparum), được chích vào người sau khi bị đốt bởi một con muỗi bị nhiễm.
Trước hết, ký sinh sinh trùng lưu thông trong máu trước khi đến gan, ở
đây nó chịu một sự biến hóa và tăng sinh một cách mạnh mẽ : mỗi tế bào
gan bị nhiễm có thể chứa đến 100.000 mérozoites, một trong các thế của
ký sinh trùng.
NHẤN MẠNH VÀO SỰ PHÒNG NGỪA
Các mérozoite này xâm chiếm tuần hoàn máu và gây nên sự phá vỡ các hồng
cầu, nguyên nhân của các cơn sốt … Nếu một con muỗi anophèle chích một
người bệnh, nó hút vào các ký sinh trùng được chứa trong máu, một chu
kỳ mới bắt đầu nơi muỗi, rồi các ký sinh trùng đi vào trong nước miếng
của muỗi để làm nhiễm trùng một người khác.
Các triệu chứng cổ điển nhất của bệnh sốt rét là sốt, liên kết với run,
đau khớp, nôn và mửa. Những rối loạn này xuất hiện trung bình 6-14 ngày
sau khi bị nhiễm. Những thể nặng, thường thấy ở trẻ em Châu Phi, với các
thương tổn huyết học và thần kinh, là nguyên nhân của phần lớn của những
trường hợp tử vong. Ngoài thuốc men, các cơ quan quốc tế như Unicef đã
nhấn mạnh về sự phòng ngừa chống lại muỗi chích. Các mùng được tẩm trước
bởi các chất diệt côn trùng, có hiệu quả ngay cả sau khi giặt rữa 20 lần,
đã được hiệu chính và cho phép tránh cho các trẻ em bị nhiễm trong khi
ngủ. Chiến lược này, được phát triển ở Châu Phi, đã cho phép Việt nam
chia 100 số các trường hợp sốt rét từ năm 1992 đến 2006. “Sự truyền bệnh
sốt rét trong các vùng dịch chỉ được kềm hãm nếu ít nhất 80% dân số ngủ
trong những mùng được tẩm thuốc”, giáo sư Michel Kazatchkine và Awa Marie
Coll-Seck (Fond mondial de lutte contre le sida) mới đây đã giải thích
như vậy.
Mặt khác, sự điều trị các người bệnh vẫn cần thiết, mặc dầu bị lãng quên
vì lý do tổn phí, nhất là ở Châu Phi. Việc loan báo hôm qua về tính hiệu
quả của một loại thuốc, artémisine, dùng bằng đường hậu môn, là một tin
tốt lành.Tuy nhiên các dân bị nhiễm bệnh phải có khả năng hưởng loại thuốc
này. (LE FIGARO 9/12/2008)
4/ TRÀ TRÁNH XÓI MÒN RĂNG
Uống gì đây? Soda, nước trái cây vắt hay trà? Theo một công trình nghiên
cứu Hoa kỳ, nếu mục tiêu là để tránh xói mòn ở ngà răng, thì tốt hơn nên
uống trà đen hay xanh. Đây là điều được giải thích bởi Mohamed A.Bassiouny
và các cộng sự viên trong General Dentistry, tờ báo của Viện Hàn lâm Nha
Khoa Tổng Quát của Hoa Kỳ. Đó là một đặc tính được thêm vào những đặc
tính khác để được chứng minh của trà, như những tính chất chống oxy-hóa,
hay khả năng làm hạ tỷ lệ mắc bệnh ung thư, các bệnh tim mạch và bệnh
đái đường.
Như thế các tác giả đã so sánh tác dụng xói mòn, trước mắt và lâu dài,
của trà đen và xanh, của soda và nước trái cây vắt lên các chiếc răng.
Họ đã nhận thấy rằng trà có một tác dụng tương tự với nước, nghĩa là không
ăn mòn, trái với các chất uống có khí (boissons gazeuses) và các nước
trái cây vắt chứa quá nhiều đường được thêm vào và quá dồi dào acide citrique.
Tuy nhiên họ khuyên những người uống trà tránh thêm sữa, chanh hay đường
bởi vì chúng làm giảm tác dụng của các flavonoides. Cũng tương tự đối
với các trà đá (iced tea) chứa acide citrique và những lượng lớn chất
đường.
Nếu không thì trà uống nóng hay uống lạnh đều không quan trọng, miễn rằng
trà được pha chế trong gia đình, không thêm các chất phụ trợ. Tuy nhiên,
đối với những kẻ không thể không uống nước uống acide, các tác giả khuyên
uống với một ống rơm, nhai chewgum không đường để làm gia tăng sự sản
xuất nước miếng hay để súc miệng với nước nhằm trung hòa các acide và
chờ một giờ trước khi đánh răng. (LE JOURNAL DU MEDECIN
9/12/2008)
5/ MỘT CHẤT CHỐNG BÉO PHÌ ĐẦY HỨA
HẸN XUẤT PHÁT TỪ RƯỢU VANG
Pháp đã khám phá một chất tổng hợp có tác dụng giống với vài thành phần
của rượu vang và cho phép chuột giữ một trong lượng không thay đổi mặc
dầu co một chế độ ăn uống tăng calo (un régime hypercalorique).
Những nhà nghiên cứu người Pháp đã nhận diện một chất được mệnh danh hiện
nay là SRT 1720, cho phép các chú chuột tiếp tục một chế độ ăn uống giàu
mỡ, nhưng không béo phì, không trở nên bị bệnh đái đường, đồng thời cải
thiện hiệu năng cơ. Các kết quả của những công trình này, được công bố
hôm qua trong tạp chí Hoa Kỳ Cell Metabolism, hết sức làm lưu ý công nghiệp
dược phẩm, bởi vì có ít nhất ba hãng dược phẩm đang phát triển một thứ
thuốc phát xuất từ những nghiên cứu này.
Tất cả bắt đầu cách nay vài năm, khi các thầy thuốc người Pháp khám phá
ra rằng một trong những polyphénols được chứa trong vỏ của trái chanh
đen, resvératrol, bảo vệ chuột chống lại bệnh đái đường và chứng béo phì.
Các nhà nghiên cứu khi đó cho thấy rằng phân tử resvératrol tác dụng lên
cả hai bệnh lý này bằng cách làm hoạt hóa một protéine của cơ thể được
gọi là Sirt 1. Sirtris, một hãng Hoa Kỳ có cơ sở ở Boston, quyết định
đầu tư vào khái niệm này và hiện nay đang trắc nghiệm một thứ thuốc có
chất cơ bản là resvératrol để chống lại bệnh đái đường mỡ (diabète gras),
cũng được gọi là bệnh đái đường loại 2. Các nhà nghiên cứu người Pháp
của Viện di truyền và sinh học phân tử và tế bào, nguồn gốc của những
khám phá đầu tiên này, sau đó bắt đầu tìm kiếm những phân tử tổng hợp
cho phép hoạt hóa chất protéine Sirt 1, chất có ảnh hưởng một cách quan
trọng lên thể trọng và nguy cơ bị bệnh đái đường. Sau cùng, họ nhận diện
một hợp chất tổng hợp tương tự với resvératrol trên bình diện hóa học,
SRT 1720 và quyết định trắc nghiệm chất này trên hàng chục con chuột được
cho những chế độ ăn uống khác nhau.
MỘT HIỆU QUẢ KÉO DÀI.
Những kết quả của công trình nghiên cứu được công bố trong Cell Metabolism
thật đặc biệt đáng quan tâm. Những chú chuột được điều trị với SRT 1720
và chịu một chế độ ăn uống rất giàu mỡ đã không lên một gam trọng lượng
nào và không phát triển khối lượng mỡ (masse grasse), trái với những con
chuột được nuôi cùng cách thức nhưng không được điều trị với loại thuốc
này. Ngoài ra không có chú chuột nào được điều trị với SRT 1720 bị bệnh
đái đường cả, trong khi những con chuột khác có một sự đề kháng với insuline
sau chế độ ăn uống quá nhiều mỡ. Rõ ràng là thuốc SRT 1720 bảo vệ chống
lại chứng béo phì và bệnh đái đường loại 2. Thời gian tác dụng lên chuyển
hóa kéo dài : tác dụng xuất hiện ngay tuần lễ thứ tư và tiếp tục trong
suốt thời gian quan sát các chú chuột hoặc 15 tuần
“Những con chuột được điều trị bởi thuốc SRT 1720 đã giữ một trọng lượng
không thay đổi mặc dầu chế độ ăn uống nhiều mỡ, trong khi những chú chuột
khác đã tăng 2/3 trọng lượng của chúng. Thuốc này kích thích sự sử dụng
mỡ, một cách tương tự như điều mà chúng ta quan sát trong trường hợp hạn
chế calo, mặc dầu thức ăn giàu mỡ mang lại sự thặng dư năng lượn” , BS
Jérome Feige (Viên di truyền và sinh học phân tử Illkirch) đã giải thích
như vậy.
Nhiều hãng dược phẩm đã khởi đầu những thứ nghiệm để trắc nghiệm SRT 1720
chống lại chứng béo phì, bệnh đái đường. Một vài hãng cho là hợp lý đánh
giá tác động của nó lên những bệnh khác liên quan với tuổi tác, và nhất
là trong bệnh Alzheimer. Công việc vẫn gay go. Đến mãi ngày nay, các thuốc
chống béo phì đã không có cơ may, vì lẽ chúng hầu như bị rút ra khỏi thị
trường sau vài năm, do những tác dụng phụ của chúng. (LE
FIGARO 6/11/2008)
6/ THỊ TRƯỜNG MÁU CUỐNG RỐN
THERAPIE CELLULAIRE : Các ngân hàng tư nhân máu cuống rốn(banques privées
de sang de cordon ombilical) phát triển gia tăng ở châu Âu. Các bố mẹ
hy vọng có thể dùng để điều trị con họ trong trường hợp bị bệnh nặng.
Ở Pháp, chính quyền mong muốn phát triển những ngân hàng công. Có nên
bảo quản máu cuống rốn (sang de cordon ombilical) hay không? Càng ngày
càng có nhiều phụ nữ nghe nói đến khả năng này, nhất là qua những thí
dụ của những nhân vật danh tiếng đã đặt máu cuống rốn của con mình vào
ngân hàng. Trên site Internert, hãng Cryogenesis của Anh không do dự quảng
cáo rằng trong số các khách hàng của hãng có ca sĩ Rod Stewart, cầu thủ
bóng đá Thierry Henry và ngay cả những thành viên của “ các hoàng gia
châu Âu ”
Trên thế giới hàng chục ngân hàng tư đề nghị đảm bảo lấy máu cuống rốn
khi sinh và bảo quản máu này trong 20-25 năm, để dùng có tính cách cá
nhân hay trong gia đình. Phí tổn dịch vụ từ 1000 đến 3500 Euro. Thoạt
đầu, những lý lẽ của họ rất thuyết phục. “Quý vị muốn điều tốt lành nhất
cho con của quý vị sau này? Vậy thì hãy tồn trữ ngay từ bây giờ máu cuống
rốn của chính nó. Như thế, trong tương lai, nó sẽ có sẵn để sử dụng những
tế bào gốc của chính mình. Những tế bào gốc của máu cuống rốn này có lẽ
sẽ cho phép chữa lành một bệnh nghiêm trọng.” Những tế bào của máu cuống
rốn có tính chất đa năng (pluripotent) : chúng có khả năng biến hóa thành
những tế bào khác nhau của cơ thể và là một nguồn tiềm tàng dùng cho liệu
pháp tế bào (therapie cellulaire). Được bảo quản đông lạnh, các tế bào
gốc của máu cuống rốn vẫn sẽ bảo tồn tất cả những tính năng của chúng.
Ở Anh, theo Cryogenesis, hơn 30.000 bố mẹ bị quyến rũ bởi những quảng
cáo này. Để so sánh, ngân hàng quốc gia Anh tích trữ 11.000 đơn vị. Các
hãng tư Hoa Kỳ có hơn 2,5 triệu khách hàng. Ở Pháp, nước duy nhất đã không
cho phép mở các ngân hàng tư, nên khó mà có được các con số. Tuy vậy,
một vài hãng ngoại quốc quảng cáo ở Pháp, nhất là nơi những vùng biên
giới. Những người Pháp sống ở biên giới Bỉ hay Thụy Sĩ, sau khi sinh,
yêu cầu các ngân hàng tư đến tại chỗ trong các nhà hộ sinh để thu lấy
máu cuống rốn của em bé vừa mới chào đời
MỘT THÁCH THỨC VỀ TƯƠNG LAI
Vấn đề là những lời hứa đẹp dầu sao hiện nay là không thực tế. “Bảo quản
máu của cuống rốn với tính cách tư nhân, cho con hay gia đình mình, là
một thách thức về tương lai, nhưng không được xác nhận bởi các kiến thức
hiện nay về y học”. Ghép máu cuống rốn đã trở nên một giải pháp quy giá
để thay thế (và càng ngày càng thường xảy ra) ghép tủy xương trong một
số bệnh càng ngày càng gia tăng. Nhưng việc ghép này được thực hiện trong
khung cảnh allogreffe (bệnh nhân được ghép bằng những tế bào của máu cuống
rốn từ một cơ thể khác), chứ không phải là autogreffe. Do đó, ngày nay,
sự bảo quản các tế bào gốc của bệnh nhân chỉ có ý nghĩa trong một hệ thống
liên kết, chứ không phải với tính cách tư nhân.
Con đường điều trị đã được mở ra cách nay 20 năm bởi G.S Eliane Gluckman
(bệnh viện Saint-Louis, Paris). Bà là người đầu tiên đã điều trị thành
công một em bé bị một bệnh huyết học hiếm có, bệnh thiếu máu Fanconi,
bằng cách tiêm vào trong tĩnh mạch của em bé bị bệnh, máu cuống rốn của
chị nó. Thật vậy, cũng như tủy xương, cuống rốn giàu các tế bào gốc sinh
huyết, những tiền thân của các tế bào máu.
CÓ SẴN ĐỂ DÙNG NGAY
Từ đó, trên thế giới, 20.000 bệnh nhân đã được ghép với máu cuống rốn,
và các chỉ định càng ngày càng gia tăng : các ung thư máu (bệnh bạch cầu,
u bạch huyết), các bệnh di truyền của hồng cầu như thalassémie và drépanocytose,
maladies orphelines... “Vào năm 2004, có 40 bệnh có thể điều trị bằng
truyền máu cuống rốn, bây giờ con số lên đến 85. Ngoài ra, những ghép
bằng máu cuống rốn, từ lâu dành cho trẻ em , từ nay có thể thực hiện nơi
những người lớn”. “Máu cuống rốn có những lợi điểm đáng kể. Trước hết,
một sự dung hợp miễn dịch hoàn toàn (une compatibilité immunologique complète)
không cần thiết cho sự thành công của một cuộc ghép. Một sự phù hợp 4-5
tiêu chuẩn trên 6 là đủ, trong khi phải 9 hay 10 trên 10 trong trường
hợp ghép tủy xương. Ngoài ra, mẫu ghép có sẵn để dùng ngay vì đã được
tích trữ.” Một sự có sẵn tức thời, trái với quá trình nặng nề khi tiến
hành phẫu thuật ghép tủy xương (phải gọi người cho và nhập viên người
này để lấy mẫu ghép, dưới gây mê tổng quát. “Các tế bào gốc của máu cuống
rốn, của nhau hay của chính cuống rốn cũng đầy hứa hẹn trong y khoa tái
tạo (médecine régénérative), đối với ghép da, nhưng cũng trong khung cảnh
của bệnh đái đường, những bệnh thần kinh thoái hóa như bệnh Alzheimer,
những bệnh lý của gan, của tim. Hiện giờ, đó là những công trình sơ khởi.
Chưa có gì đã được công bố nơi người cả.” (LE FIGARO
25/11/2008)
7/ ĐIỀU TRỊ MỚI ĐỂ
LÀM CHẬM TIẾN TRIỂN CỦA BỆNH PARKINSON
G.S Philippe Damier, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh của CHU, Nantes,
giải thích hai lợi ích của rasagiline (Azilect) : làm chậm tiến triển
của bệnh Parkinson và cải thiện các triệu chứng.
Hỏi : Ông có thể nhắc lại
cho chúng tôi về tần số xảy ra bệnh Parkinson và những đặc điểm của nó
?
G.S Philippe Damier : Ở Pháp, có 120.000 người bị bệnh Parkinson, với
tuổi trung bình lúc khởi đầu bệnh từ 55 đến 65 tuổi, nhưng 10% những người
bị bệnh này đã bắt đầu bệnh trước tuổi 40. Người ta biết nguồn gốc của
bệnh : một sự thiếu hụt dopamine trong não bộ (chất kiểm soát chức năng
vận động). Triệu chứng được biết nhất là run bàn tay lúc nghỉ ngơi. Thật
ra những triệu chứng khác thường xảy ra hơn, như những động tác vận động
bị chậm lại, sự cứng đờ các chi và cơ... Có những thể nghiêm trọng ít
hay nhiều, một vài thể vẫn nhẹ suốt cả đời.
Hỏi : Những điều trị cổ
điển là những điều trị nào ?
G.S Ph.D : Mục đích của điều trị là phục hồi sự thiếu hụt dopamine bằng
một thuốc cho bằng đường miệng, L-Dopa (Prolopa). Chất này được biến đổi
thành dopamine trong não bộ. Người ta cũng cho một loại sản phẩm tổng
hợp khác, các agonistes dopaminergiques (ví dụ Parlodel). Các chất chủ
vận này gắn vào các thụ thể của dopamine và bắt chước tác dụng của của
nó. Còn có những điều trị phụ trợ nhằm tăng cường các hiệu quả của những
thứ thuốc này, như entacapone (Comtan), kéo dài những tác dụng lợi ích
của L-Dopa.
Hỏi : Những kết quả thu
được với những thuốc điều trị cổ điển này ?
G.S Ph.D : Đó là những điều trị rất có hiệu quả (24 giờ trên 24 giờ),
và trung bình có hiệu quả trong 8 năm đầu. Vả lại người ta gọi thời kỳ
này là “tuần trăng mật”. Sau đó, đáp ứng đối với thuốc tỏ ra ít hằng định
trong ngày. Những thuốc này có thời gian tác dụng ngắn hơn. Những triệu
chứng tái xuất hiện chẳng bao lâu sau khi uống thuốc. Người ta cũng quan
sát một loại biến chứng khác : một vài bệnh nhân trở nên quá nhạy cảm
với các điều trị và phản ứng bằng những cử động bất bình thường, đột ngột
và không tự ý, những biểu hiện rất là gây khó chịu ! Người ta cũng ghi
nhận vài biến chứng tâm thần nơi 20 đến 30% các bệnh nhân.
Hỏi : Khi những phản ứng
này trở nên hỗn loạn, người ta sẽ đề nghị gì ?
G.S Ph.D : Khoảng 5% các bệnh nhân Parkinson, bị một thể đặc biệt của
bệnh, có thể được hưởng một can thiệp ngoại khoa bằng kỹ thuật stéréotaxie,
nhằm cắm các điện cực vào trong não bộ. Được nối với một máy tạo nhịp
(pacemaker) nhỏ được đặt dưới xương đòn, các điện cực sẽ kích thích não
bộ rất chính xác và cải thiện rất rõ rệt các triệu chứng (động tác kỹ
thuật hoàn toàn không đau). Về những rối loạn tâm thần, người ta thành
công làm giảm được chúng, vừa thu giảm các liều điều trị.
Hỏi : Vậy, với những phương
thức điều trị khác nhau này, người ta điều chỉnh các triệu chứng nhưng
không chữa lành được bệnh. Liệu pháp mới nhất với rasagiline (Azilect)
là gì ?
G. S Ph.D : Phép trị liệu nhắm đích (traitement ciblé) này, cho bằng đường
miệng với một liều mỗi ngày, cần một enzyme đặc hiệu chịu trách nhiệm
sự thoái biến của dopamine trong não bộ. Đó là một chất ức chế monoamine
oxydase. Vào một giai đoạn sớm của bệnh, phép điều trị này cho phép bảo
tồn nồng độ dopamine, được tiết ra một cách tự nhiên bởi những tế bào
não bộ và, ở một giai đoạn tiến triển hơn, tăng cường tác dụng của L-Dopa.
Thật ra liệu pháp này không chỉ điều trị triệu chứng, mà còn làm chậm
tiến triển của bệnh Parkinson.
Hỏi : Những công trình nghiên
cứu nào đã chứng tỏ những kết quả này ?
G.S Ph.D : Tôi sẽ đặc biệt nêu ra công trình quốc tế mới đây, được gọi
là “Adagio”, được tiến hành trên 1.000 bệnh nhân được phân bố ở châu Âu
và Hoa Kỳ. Tất cả đều bị bệnh Parkinson ở một giai đoạn sớm. Trong một
năm rưỡi, một nửa trong số những người tham gia công trình nghiên cứu,
đã được điều tri hàng ngày với rasagiline. Nửa kia đã nhận một placebo
trong 9 tháng đầu, rồi rasagiline trong 9 tháng cuối. Kết quả : nơi những
người đã được điều trị bởi rasagiline ngay từ đầu thử nghiệm, bệnh Parkinson
đã tiến triển chậm hơn so với những bệnh nhân khác. Do đó, những triệu
chứng của họ trầm trọng ít hơn nhiều. Sự dung nạp thuốc tỏ ra tốt, hầu
như không có những tác dụng phụ. Đây là lần đầu tiên chúng ta có được
một tác dụng có hiệu quả lên tiến triển của bệnh.
Hỏi : Ở Pháp, khi nào chúng
ta sẽ có thể hưởng được phép điều trị mới này ?
G.S Ph.D : Theo dự kiến thuốc sẽ có để sử dụng trong sáu tháng đầu năm
2009. Rasagiline (Azilect) đã được thương mãi hóa trong nhiều nước châu
Âu và ở Hoa Kỳ .
Hỏi : Ông nuôi hy vọng nào
với liệu pháp mới nhất này ?
G.S Ph.D : Tôi đã nói với ông trước đây rằng hiệu quả của L-Dopa (Prolopa)
sẽ giảm sau 8 năm. Với rasagiline (Azilect), chúng ta có thể hy vọng kéo
dài trên 8 năm những lợi ích của những điều trị quy ước ( nhất là khi
điều trị được thực hiện sớm), điều này sẽ làm biến đổi đời sống của của
các bệnh nhân.
Hỏi : Về mặt nghiên cứu,
giai đoạn kế tiếp là gì ?
G.S Ph.D : Nhiều công trình nghiên cứu dang được tiến hành để khám phá
nguyên nhân chính xác của sự thoái hóa não bộ này nhằm có thể điều trị
nó. (PARIS MATCH 27/11-3/12/2008)
8/
TIỀN SẢN GIẬT VÀ NGUY CƠ BỊ BỆNH ĐỘNG KINH NƠI TRẺ EM
Các nhà nghiên cứu Đan mạch đã xác lập mối liên hệ giữa tiền sản giật
(peééclampsie) nơi người mẹ và một nguy cơ bị động kinh lớn hơn nơi trẻ
được sinh ra sau 37 tuần thai nghén.
Những nghiên cứu trước đã phát hiện mối liên hệ giữa sự xảy ra một cơn
sản giật nơi người mẹ và một nguy cơ cao bị bệnh động kinh nơi đứa trẻ.
Nhưng một tiền sản giật (pré-éclampsie) nơi một người mẹ có thai có liên
kết với cùng loại nguy cơ này hay không ?
Đó là điều mà Chun Sen Wu và các đồng nghiệp thuộc đại học Aarhus (Đan
Mạch) đã muốn biết. Nhóm nghiên cứu đã khảo sát các dữ kiện từ Danish
National Register, liên quan đến 1,5 triệu trẻ em được sinh từ 1978 đến
2003. Trong nhóm này, họ đã có thể nhận diện 45.288 trẻ em (2,9%) đã chịu
bệnh tiền sản giật của người mẹ trong thời kỳ tiền sinh và 654 em (0,04%)
mà mẹ đã bị một đợt sản kinh trong thời kỳ thai nghén. Mặt khác họ đã
nhận diện trong nhóm được khảo sát này 20.620 người đã có những cơn động
kinh suốt trong một thời kỳ theo dõi kéo dài 27 năm.
Sự phân tich các dữ kiện cho thấy rằng sự tiếp xúc với một đợt tiền sản
giật được liên kết với một nguy cơ bị động kinh gia tăng nơi các trẻ em
mà tuổi thai nghén lúc sinh là ít nhất 37 tuần. Khi tiền sản giật ở mức
độ trung bình, nguy cơ là 1,16 lần cao hơn nơi những trẻ sinh đủ tháng
và 1,68 cao hơn nơi những trẻ sinh quá tháng ; trong trường hợp tiền sản
giật nặng, nguy cơ lần lượt là 1,41 và 2,57 lần cao hơn. Không có sự liên
kết nào được tìm thấy giữa tiền sản giật và động kinh nơi trẻ em sinh
không đủ tháng. Còn về sản giật, bệnh lý này được liên kết với một nguy
cơ bị động kính cao hơn. (LE JOURNAL DU MEDECIN 21/11/2008)
9/ HEN PHẾ QUẢN GIA TĂNG SỰ TÁC
HẠI VỀ ĐÊM.
Cứ mười người bị hen phế quản thì hơn 9 người bị đánh thức vào ban đêm
bởi một cơn ho hay một sự khó thở, ít nhất một lần mỗi tháng, và 3 người
trên 4 bị ít nhất như vậy một lần mỗi tuần. Đó là những kết luận của hai
công trình điều tra rộng rãi, được tiến hành trên 35.000 người trưởng
thành. Sau khi tính đến những yếu tố khác làm dễ những rối loạn giấc ngủ
như tuổi tác và chỉ số khối lượng cơ thể (IMC), người ta chứng thực rằng
các phụ nữ bị nguy cơ mất ngủ vì các cơn ho, hai lần nhiều hơn đàn ông,
sự khác nhau này có lẽ liên quan đến những yếu tố hormone.
Mặt khác, hơn một nửa những trường hợp tử vong liên kết trực tiếp với
hen phế quản xảy ra vào ban đêm, giờ nguy kịch là giờ mà những chức năng
hô hấp bị ảnh hưởng nhất, thường là khoảng 4 giờ. Một điều trị thích ứng
với nhịp sinh học (chronothérapie) phải được khuyến khích để kiểm soát
tốt hơn bệnh hen phế quản. (SCIENCES ET AVENIR 12/2008)
10/ MỐI LIÊN HỆ GIỮA H. PYLORI VÀ UNG THƯ
DẠ DÀY SAU CÙNG ĐƯỢC PHÁT HIỆN
Trong khi Helicobacter pylori hiện diện nơi hầu hết các cá thể, nhưng
tại sao chỉ có một số nhỏ phát triển bệnh loét mà thôi ? Để trả lời câu
hỏi này, những nhà nghiên cứu người Anh gợi ý rằng, nơi những người không
có triệu chứng, vi khuẩn gây nên một đáp ứng thích đáng của những tế bào
miễn dịch hủy diệt loại T (cellules immunitaires de type T suppressives)
; đáp ứng này góp phần mang lại sự chung sống hòa bình của ký chủ và vi
khuẩn. Luôn luôn theo giả thuyết này, bệnh loét (maladie ulcéreuse), trái
lại, là kết quả của sự bất túc hay sự vắng mặt của cơ chế miễn dịch bình
định (mécanisme immunitaire pacificateur) này.
Cách nay hơn 25 năm, Warren và Marshall, hai nhà nghiên cứu người Úc được
giải Nobel năm 2005, đã khám phá trong niêm mạc dạ dày sự hiện diện của
một vi khuẩn kháng acide, H.pylori, và đã phát hiện vai trò trung tâm
của nó trong sự phát sinh và duy trì những thương tổn loét của dạ dày.
Nhờ những nghiên cứu cơ bản này, những điều trị kháng sinh và các inhibiteurs
de la pompe à protons đã cho phép chữa lành bệnh loét dạ dày. Tuy nhiên
vẫn còn một câu hỏi chưa được giải đáp : tại sao phần lớn những người
bị nhiễm trùng bởi Helicobacter pylori vẫn không có triệu chứng ? Câu
trả lời dường như là loại và chất lượng của đáp ứng miễn dịch giữa ký
chủ và vi trùng.
PHÂN TÍCH ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH
Vì nhu cầu của công trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã tiến hành
một nội soi dạ dày với lấy mẫu sinh thiết nơi niêm mạc vùng hang (antrum)
dạ dày của 82 bệnh nhân, trong số đó 32 dương tính đối với H.pylori và
44 không mang vi khuẩn. Sau đó, họ kích thích các tế bào của những bệnh
nhân không mang vi khuẩn với những kháng nguyên vi khuẩn, rồi phân tích
và định lượng đáp ứng miễn dịch bảo vệ. Họ đã so sánh đáp ứng này với
đáp ứng được tìm thấy nơi những người bị nhiễm khuẩn và bị loét. Phân
tích này phát hiện sự hiện diện, nơi những người dương tính đối với H.pylori
và có các vết loét, một số lượng cao hơn một cách đáng kể các tế bào phụ
trợ (T auxillaires hay T helper) Th1 và Th2 và một số lượng ít hơn nhiều
các tế bào hủy bỏ (cellules suppressives), so sánh với những bệnh nhân
không có triệu chứng.
VAI TRÒ THIẾU HỤT CỦA CÁC TẾ BÀO MIỄN DỊCH BÌNH
ĐỊNH
Trên cơ sở những điều chứng thực này, các nhà nghiên cứu sau đó đã thiết
lập một sơ đồ lý thuyết về những cơ chế cho phép giải thích tại sao một
vài bệnh nhân bị loét trong khi những bệnh nhân khác thì không có triệu
chứng. Nơi những người bị loét dạ dày, số lượng những tế bào phụ trợ Th1
và Th2 cao hơn gây nên một phản ứng viêm mạnh mẽ hơn nhiều, mặc dầu cho
phép chống lại tốt hơn tác nhân vi khuẩn nhưng, bù lại, cũng gây nên những
thương tổn mô quan trọng hơn. Tuy nhiên, yếu tố sẽ làm các loét dạ dày
phát triển là ở sự việc rằng các tế bào miễn dịch huỷ diệt loại T (cellules
suppressives), mà vai trò là dập tắt đám cháy, có số lượng và hiệu quả
ít hơn nhiều nơi những bệnh nhân bị loét so với những bệnh nhân không
có triệu chứng.
NHỮNG KẾT QUẢ CỦA NHỮNG KHÁM PHÁ NÀY
Như vậy, những triển vọng điều trị mới được mở ra, với hy vọng ngăn chặn
tốt hơn bệnh loét dạ dày tá tràng. Thí dụ, người ta hy vọng một ngày nào
đó có thể đánh giá mức độ hoạt tính của các tế bào hủy bỏ (cellules suppressives)
để xác định xem những người nào bị nhiễm trùng bởi H.pylori là có nguy
cơ nhất phát triển các loét dạ dày. Điều này cho phép gia tăng hiệu năng
của công tác điều tra phát hiện và tránh được những điều trị kháng sinh
vô ích. Ngoài ra, nếu người ta hiểu được những cơ chế gây nên sự gia tăng
các tế bào hủy bỏ sau nhiễm trùng bởi H.pylori, người ta sẽ có thể hiệu
chính các vaccin mà mục đích sẽ là làm gia tăng trong niêm mạc dạ dày,
số lượng những tế bào bình định (cellules pacificatrices).
(LE GENERALISTE 13/11/2008).
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
( 11/12/2008 )
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |