Thời Sự Y Học số 104
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ ANANDIBAI JOSHI GOPAL (1865-1887), NGƯỜI THẦY THUỐC NỮ ĐẦU TIÊN CỦA ẤN ĐỘ
Ở Ấn Độ, họ của cô, Anandibai có nghĩa là “người phụ nữ hạnh phúc”. Mặc dầu được nuôi dạy trong một cung điện hindou và theo những truyền thống Bà la môn thuần túy nhất, thế mà Anandibai sẽ thoát ra được cung điện để đi Hoa Kỳ học lấy văn bằng y khoa. Tuy là người thầy thuốc nữ đầu tiên của Ấn độ, nhưng cô sẽ không có cơ hội để hành nghề, vì bị ngã bệnh qua đời vào lúc đang còn ở tuổi thanh xuân.
NHỮNG VẺ HUY HOÀNG VÀ NHỮNG NỖI KHỐN KHỔ CỦA MỘT NÀNG CÔNG CHÚA HINDOU
Anandibai sinh năm 1865 ở Punah, Ấn Độ, phía bắc Bombay, trong một gia đình Bà là môn. Ngay từ khi sinh ra đời, số phận của cô đã được vạch sẵn: đó là số phận của một nàng công chúa Ấn Độ, được vây bọc chung quanh bởi một đám người phục dịch sẵn sàng thỏa mãn tất cả những ao ướt của cô, nhưng cô không được quyền đi ra khỏi cái nhà tù vàng son để đi lại tự do cũng như không được quyền xuất hiện trước công chúng.
Vào năm 9 tuổi, bố mẹ Anandibai gả cô cho một người đàn ông góa vợ, lớn hơn cô 20 tuổi, tên là Gopalrao Goshi. Ở lứa tuổi này, chúng ta có thể tưởng tượng dễ dàng rằng Anandibai không có quyền được lựa chọn và việc cưới hỏi này được áp đặt lên cô.
Nhưng cô Anandibai bé nhỏ có được một sự may mắn : chồng cô là một người đàn ông có những tư tưởng tiến bộ. Gopalrao quyết định dạy dỗ người vợ còn rất trẻ tuổi của mình và nhận được sự đồng ý của ông bố vợ để mang lại cho Anandibai một trình độ học vấn. Sau các bức tường của lâu đài, Anandibai đã học tiếng Phạn, như truyền thống mong muốn như vậy. Nhưng chồng cô lại cho rằng học tiếng Anh là quan trọng hơn nên đã khai tâm cô bé cái ngôn ngữ này.
MỘT THIÊN CHỨC KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC Ở ẨN ĐỘ
Năm 1878, Anandibai chỉ mới 12 tuổi, sinh ra đời một đứa con đầu lòng chỉ sống được vài ngày. Cái chết của đứa con đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời của Anandibai. Dầu còn trẻ tuổi, nhưng điều đó không ngăn cản Anandibai hiểu rằng con cô đã chết vì thiếu những săn sóc điều trị thích đáng. Tình hình y tế thật là thảm hại đối với các phụ nữ ở Ẩn Độ thời đó, vẫn còn bị siết chặt trong hệ thống đẳng cấp. Đúng là có vài thầy thuốc, nhưng cũng như các người đàn ông khác, những vị thầy thuốc này không có quyền thăm khám các phụ nữ, huống hồ là các công chúa bị cấm cung , và nếu cần phải thăm khám, thì họ phải đưa bàn tay qua một bức màng treo. Như thế thì làm sao bảo đảm được sự chính xác và tính chất nghiêm túc của một công tác y khoa được thực hiện trong những điều kiện như vậy ...
Khi đó ý tưởng trở thành thầy thuốc đến với Anandibai. Giấc mơ không thể thực hiện được đối với một phụ nữ Bà la môn vào thời kỳ đó. Nhưng Anandibai, như tên cô chỉ rõ, là một phụ nữ có may mắn: cô được tất cả sự ủng hộ và những lời khích lệ của chồng cô. Nhưng dầu cho Gopalrao là một người chồng tiến bộ, có những tư tưởng cải cách chăng nữa, anh ta vẫn không thể thay đổi gì được sự việc là người vợ của anh không thể nào theo học y khoa ở Ấn Độ. Ra khỏi cung điện, mua sách vở, gặp gỡ người ta, đó là những điều không được đánh giá tốt đối với một phụ nữ Ấn độ thuộc đẳng cấp như cô. Các người Bengale chính thống nhất sẽ không ngần ngại đến trách cô về những vi phạm truyền thống mà cô đã phạm phải. Ham muốn đi học là một ý nghĩ tốt đối với một nữ tội phạm nhưng không tốt đối với một người con gái Bà la môn.
Nếu Anandibai muốn trở thành thầy thuốc, thì cô không còn có giải pháp nào khác hơn là phải đi Hoa Kỳ, nơi mà từ ít lâu nay người ta đã thành lập trường y dành cho phụ nữ ở Pensylvania (Female Medical College de Pensylvanie). Mặt khác, những thầy thuốc trường y này đã phát triển những quan hệ với châu Á nhằm cải thiện tình trạng săn sóc y tế ở đó.
NHỜ MỘT NHÀ TRUYỀN GIÁO, MỘT PHỤ NỮ NGƯỜI MỸ, MỘT NHA SĨ VÀ SỰ TÌNH CỜ
Gopal nhờ đến một nhà truyền giáo cơ đốc người Mỹ, Royal Wilder. Ông này sẵn sàng giúp hai vợ chồng nhưng đặt điều kiện là Gopalrao và vợ phải theo đạo cơ đốc. Hai vợ chồng từ chối vì điều này không thể chấp nhận được đối với họ. Nhưng dầu sao Wilder vẫn giúp họ một cách gián tiếp. Thật vậy, ông công bố câu chuyện này trong tập san của hội truyền giáo, Princeton’s Missionary Review. Tập san này rơi vào tay một phụ nữ người Mỹ, bà Theodicia Carpentier. Bà này lật xem tập san trong khi kiên nhẫn ngồi chờ trong phòng đợi của người nha sĩ. Cảm động vì câu chuyện của cô gái Ấn Độ ước muốn trở thành thầy thuốc, Theodicia đã viết cho Anandibai đề nghị giới thiệu cô theo học trường y dành cho phụ nữ ở Pensylvanie
NHỮNG NĂM THÁNG CHĂM CHỈ CHUYÊN CẦN VÀ SỰ LƯU ĐẦY THƯƠNG TÂM
Như thế Anandibai đi Hoa kỳ ngày 7 tháng 4 năm 1883 và sự việc cô đến Hoa Kỳ một mình đúng là một cuộc cách mạng thật sự đối với một cô gái trẻ người Ấn Độ thuộc đẳng cấp như cô. Chồng cô không thể đi theo vì lý do tài chánh. Do hành động của Anandibai và do sự ủng hộ mà anh đã thể hiện đối với vợ mình, Gopalrao bị phế truất ra khỏi đẳng cấp của anh. Như thế cô bắt đầu theo học và các khả năng của cô được phát hiện tương xứng với động cơ học tập mà cô theo đuổi. Không gì ngăn cản cô người Ấn độ trẻ tuổi sống một cuộc sống như những sinh viên khác mà cô đã gặp. Nhưng Aanandibai, mặc dầu đánh mất danh giá trong đất nước mình vì đã vi phạm những quy tắc về hạnh kiểm áp đặt lên các phụ nữ, nhưng sống ở Hoa Kỳ, cô vẫn tôn trọng đạo đức và phong tục Ấn Độ, không thay đổi gì hết phong cách ăn mặc cũng như cách ăn uống. Anandibai càng gắn bó với truyền thống của mình, nhất là khi cô phải sống khổ trong kiếp lưu đày: căn phòng sinh viên của cô chẳng giống gì hết với cái cung điện hindou, còn cuộc sống ở Mỹ thì không được thanh thản và yên tĩnh bằng cuộc sống mà cô đã trải qua ở Ấn Độ và ngoài ra cô phải đau buồn khi phải sống xa chồng. Anandibai mất đi sự thanh thản, cô lo lắng và làm việc càng say mê khi cô càng bị trầm uất bởi sự thay đổi lối sống và sự cô đơn. Cô không chịu nổi sự thay đổi khí hậu, và sự thay đổi giờ giấc thật là quá lớn. Sau cùng cô đã xuất sắc trong kỳ thi ra trường cũng như khi trình luận án và đã nhận văn bằng tốt nghiệp năm 1886.
SỰ CÔNG NHẬN VÀ SỰ QUA ĐỜI Ở TUỔI THANH XUÂN
Anandibai đã nhận được văn bằng tốt nghiệp, nhưng đồng thời tình trạng sức khỏe của cô càng ngày càng trở nên suy kém. Khi Gopal đến tìm kiếm cô ở Hoa Kỳ, thì đó là một người vợ gầy ốm và nhỏ người đi về mặt vật lý cũng như tinh thần, kết quả của sự tàn phá bởi bệnh lao mà cô đã mắc phải. Tình trạng của Anandibai đáng lo ngại đến độ chồng cô khuyên cô ở lại Hoa Kỳ. Nhưng Anandibai muốn hành nghề y khoa ở Ấn Độ. “Tôi biết văn hóa và tập tục ở Ẩn Độ, tôi có thể rất hữu ích cho đất nước tôi”. Vả lại, ông hoàng Kohalpur đã bổ nhiệm cô, ngay cả trước khi cô trở về, để phụ trách khoa dành cho các phụ nữ, được dự kiến thành lập trong bệnh viện rất mới Albert Edward Hospital vừa được khánh thành. Một vinh dự tốt đẹp đối với người thầy thuốc nữ đầu tiên hết gốc Ấn Độ...mặc dầu bị phế truất không còn là tín đồ Bà la môn nữa. Ngoài ra nữ hoàng Victoria đã gởi đến cho cô những lời khen ngợi.
Anandibai trở về Ấn Độ tháng 10 năm 1886 nhưng cô sẽ không bao giờ có cơ hội để đem những khả năng chuyên môn của mình phục vụ nhân dân của đất nước cô. Cô qua đời vài tháng sau đó, vào tháng hai năm 1887, được bao quanh và được tôn vinh ngay bởi những kẻ đã từng chỉ trích, cho rằng những hành động mà cô đã phạm phải là phạm tội.
Tuy qua đời vào năm 22 tuổi, nhưng cô gái tiền phong trẻ tuổi của nền y khoa cho phái nữ này đã mở các cánh cửa cho sự giải phóng dành cho các phụ nữ Ân độ và đồng thời mở các cánh cửa cho sự phát triển nền y tế của đất nước này. Năm 1899, Ấn Độ có 94 bệnh viện, trong đó 34 thầy thuốc nữ từng tốt nghiệp ở châu Âu và châu Mỹ, cùng làm việc với 75 thầy thuốc nữ tốt nghiệp từ các trường y hindou. (LA SEMAINE MEDICALE 2/10/2008)
2/ ĂN KHÔNG THÍCH THÚ LÀM DỄ PHÁT SINH CHỨNG BÉO PHÌ
Để giữ thân hình mảnh khảnh, không gì bằng sự cảm thấy thích thú trong khi ăn! Thật vậy, những người bị gia tăng thể trọng (surpoids) là kết quả của sự thiếu hụt trong việc hoạt hóa những trung tâm não bộ phụ trách về sự thích thú (plaisir) và do đó ăn nhiều hơn để bù trừ sự thiếu hụt này, theo Eric Stice thuộc đại học Texas. Nhờ những kỹ thuật chụp hình ảnh não bộ, ông ta đã theo dõi sự đáp ứng của đường vòng khen thưởng (circuit de récompense) nơi những thiếu nữ đang nhấm nháp milk-shake au chocolat. Vùng này của não bộ tiết dopamine, chất dẫn truyền thần kinh gây nên một cảm giác thích thú, tỷ lệ với lượng thức ăn được ăn vào. Đây là một phương cách của cơ thể cho biết là tình trạng no nê đã đạt được. Nơi vài thiếu nữ, dopamine được tiết không được đầy đủ và các thụ thể của dopamine hiện diện với số lượng thấp hơn. Thế mà chính những thiếu nữ này lại có chỉ số khối lượng cơ thể (indice de masse corporelle) cao nhất sau một năm thí nghiệm. Một hướng để tìm những thuốc mới chống bệnh béo phì. (SCIENCE ET VIE 12/2008)
3/ TUỔI THỌ : MỘT ĐẶC ĐIỂM CÓ TÍNH CÁCH GIA ĐÌNH

Tỷ lệ mắc phải các bệnh liên quan với tuổi tác nơi những hậu duệ của những người bách niên, được xem là có khuynh hướng sống già và khỏe mạnh, là tỷ lệ nào? Emily Adams và các cộng sự viên đã thực hiện một công trình nghiên cứu nơi 440 người con của các vị bách niên (cha mẹ ít nhất đạt đến 97 tuổi) và 192 người chứng, tuổi trung bình của hai nhóm là 72 tuổi khi họ điền bảng câu hỏi lúc bắt đầu công trình nghiên cứu. Thời gian theo dõi thay đổi từ 3,5 đến 3,9 năm.
Công trình nghiên cứu này là công trình đầu tiên chứng nhận về tình trạng sức khỏe của các người con của các bách niên. Những kết quả cho thấy rằng, so với nhóm kiểm chứng, các người con của các vị bách niên có 78% nguy cơ ít hơn bị nhồi máu cơ tim, 83% nguy cơ ít hơn bị tai biến mạch máu não và 86% nguy cơ ít hơn bị bệnh đái đường loại 1. Trái lại không có sự khác nhau đáng kể về sự xuất hiện những bệnh khác liên quan với tuổi tác. Ngoài ra, công trình nghiên cứu này đã nhận thấy rằng tỷ lệ tử vong của những người này trong thời gian theo dõi giảm 81% so với nhóm kiểm tra. Tỷ lệ sinh tồn (taux de survie) chứng tỏ rằng tuổi thọ là một vấn đề gia đình và các kết quả xác nhận rằng những yếu tố sinh lý và di truyền ảnh hưởng lên tuổi thọ gia đình.
Những kết quả này phù hợp với những kết quả trước, gợi ý rằng sự vắng mặt hoặc thời gian xuất hiện của những bệnh tim mạch và những yếu tố nguy cơ tim mạch, trong đó có cao huyết áp và bệnh đái đường, gắn liền với các gia đình của các vị bách niên, và đặc biệt hơn với các người con của các vị bách niên này. (LE JOURNAL DU MEDECIN 28/11/2008)
4/ MỘT MÁY KÍCH THÍCH NÃO BỘ (STIMULATEUR CEREBRAL) CHỐNG LẠI CÁC RỐI LOẠN ÁM ẢNH (TROUBLES OBSESSIONNELS)

Neurochirurgie : Sau bệnh Parkinson, vài rối loạn ám ảnh thúc bách (troubles obsessionnels compulsifs) (TOC) thể nặng và không đáp ứng với điều trị, cũng có thể được điều trị với kỹ thuật này.
Sự kích thích điện (stimulation éléctrique) nơi một vài vùng não bộ cho phép làm giảm bớt những triệu chứng tâm thần đáng sợ: các rối loạn ám ảnh thúc bách (troubles obsessionnels compulsifs hay TOC). Dầu sao, đó là điều được chứng tỏ bởi những kết quả đầy hứa hẹn của một thử nghiệm lâm sàng, được thực hiện ở Pháp trên 16 bệnh nhân bị bệnh nặng và đề kháng với những điều trị thông thường. Công trình nghiên cứu này được công bố hôm nay trên New England Journal of Medicine. Được đặt tên là kích thích sâu não bộ (stimulation cérébrale profonde), phương pháp này nhằm dùng phẫu thuật để cắm những điện cực nhỏ xíu trong những vùng bị bệnh của não bộ, để kích thích chúng với những dòng điện liên tục trong mục đích cải thiện các triệu chứng. Xuất hiện vào cuối những năm 1980, kích thích điện não bộ trước hết được áp dụng thành công nơi những thể nặng nhất của bệnh Parkinson. Ngày nay, 400 bệnh nhân bị bệnh Parkinson được mổ mỗi năm ở Pháp.
CẢI THIỆN LÂM SÀNG
TOC, gây bệnh cho 2% dân số, là những rối loạn tâm thần rất gây phế tật : các bệnh nhân bị ám ảnh bởi tính sạch sẽ, tính ngăn nắp, sự đối xứng hoặc họ bị xâm chiếm bởi những mối nghi ngờ, những niềm sợ hãi phi lý. Để làm giảm sự lo âu, họ thực hiện những nghi thức (rituels) sắp xếp, giặt rửa hoặc kiểm tra trong nhiều giờ mỗi ngày, đối với những trường hợp nặng.
Những hành vi bệnh lý này làm bệnh nhân khốn khổ và chịu phế tật quan trọng, thường kéo dài trong nhiều năm. 1/3 những bệnh nhân TOC đề kháng hoàn toàn với những liệu pháp hành vi (thérapie comportementale) và các thuốc chống trầm cảm thường được kê đơn. Thế mà công trình nghiên cứu của NEJM cho thấy rằng sự kích thích điện não bộ đã mang lại lợi ích một cách đáng kể đối với 7 trên 10 bệnh nhân, với sự biến mất 25% các triệu chứng . Ngoài ra, theo các tác giả, 6 bệnh nhân trên 10 đã đạt được “một chức năng toàn bộ thỏa mãn với một khó chịu chỉ ở mức độ trung bình”. Tất cả bắt đầu năm 2002, khi nhóm nghiên cứu của Luc Mallet ở Bệnh Viện Pitié-Salpêtrière, Paris, đã có một nhận xét lạ kỳ về hai bệnh nhân bị bệnh Parkinson nhưng đồng thời cũng bị chứng TOC trầm trọng đã nhiều năm. Những bệnh nhân này đã được trang bị những điện cực cắm vào trong nhân xám trung ương của vùng dưới đồi (noyau gris central sous-thalamique) để hủy bỏ hoặc làm giảm các triệu chứng run, cứng cơ và những rối loạn vận động gây nên bởi bệnh Parkinson. Thế mà các thầy thuốc đã nhận thấy rằng bệnh TOC nơi những bệnh nhân bị Parkinson này đã được chữa lành một cách “diệu kỳ” bằng sự kích thích điện.
Nơi những bệnh nhân Parkinson, việc đặt một điện cực vào trung tâm của nhân dưới đồi (noyau sous-thalamique) cho phép làm biến mất các rối loạn vận động. Nhưng chỉ cần xê dịch nơi kích thích vài milimet cũng có thể quan sát những biến đổi của trạng thái tâm thần và của hành vi của các bệnh nhân. Chính khái niệm mới này là nguồn gốc của thử nghiệm được công bố hôm nay.
Đối với những bệnh nhân là nạn nhân của TOC, sự cắm các điện cực cho phép tác động một cách rất chính xác và có thể đảo ngược, và không tạo nên những thương tổn não bộ. Đó là một tiến bộ to lớn : cộng đồng ngoại thần kinh cách nay nhiều năm đã đưa ra giả thuyết về một rối loạn chức năng của một đường vòng não bộ (circuit cérébral) liên quan đến những nhân xám trung ương nơi những bệnh nhân bị TOC. Để cắt đường vòng này, những cố gắng nhằm phá hủy các vùng não bộ có liên quan đã được thực hiện ở nhiều nước (ở Pháp bị bỏ từ 15 năm nay). Do việc chọn lựa mục tiêu của não bộ không đúng, nên những can thiệp này đã không cho những kết quả thuyết phục. Tuy nhiên, sự cải thiện lâm sàng đáng kể trên 16 bệnh nhân người Pháp đặt ra những câu hỏi mới : Đâu là mục tiêu để kích thích tốt nhất trong não bộ để chống lại bệnh TOC ? Những kỹ thuật không xâm nhập khác có một vài trò hay không? Làm sao chọn lựa những chỉ định tốt nhất trong số 12.000 bệnh nhân TOC đề kháng ở Pháp? (LE FIGARO 13/11/2008) (LE JOURNAL DU MEDECIN 18/11/200)
5/ GÃY ĐỐT SỐNG DO LOÃNG XƯƠNG VÀ RALOXIFENE (EVISTA)

Giáo Sư Teven Boonen, đại học công giáo Louvain (UCL), Bỉ, giải thích về nguy cơ gãy xương đốt sống do loãng xương (fracture vertébrale ostéoporotique) và tác dụng phòng ngừa của raloxifène (Evista), thuốc cản quá trình tiêu xương.
Hỏi : Đến mức độ nào thì mật độ xương (densité osseuse) là quan trọng ?
G. S Steven Boonen : Một mật độ xương thấp là một trong những yếu tố nguy cơ của gãy xương. Do đó những người có một mật độ xương thấp là những ứng viên tốt để được điều trị chống loãng xương (traitement anti-ostéporotique), và điều này vì lẽ : một mặt, nguy cơ bị gãy xương gia tăng rõ ràng nơi những người có mật độ xương thấp, mặt khác, vài dữ kiện có sức thuyết phục cho thấy rằng một điều trị cản quá trình tiêu xương (traitement inhibiteur de la résorption osseuse) là có lợi nơi những người này. Ngoài những phụ nữ có một mật độ xương dưới một trị số tối thiểu được xác định (T-score < -2,5), vài phụ nữ với một hay nhiều gãy lún đốt sống (tassements vertébraux) cũng có thể được xét đến để điều trị cản quá trình tiêu xương. Những người bị gãy lún đốt sống cần phải được điều trị, dầu cho mật độ xương như thế nào đi nữa. Nói một cách khác : trong trường hợp gãy lún đốt sống, phải tiến hành điều trị cản sự tiêu xương một cách có hệ thống , ngay cả khi T-score trên –2,5.
Hỏi : Trong trường hợp nào đo mật độ xương là cần thiết và trong trường hợp nào là không cần thiết?
G.S SB : Nơi những phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, đã từng có gãy lún đốt sống (tassement vertébral), để chẩn đoán bệnh loãng xương và xác định chỉ định để điều trị, thì việc đo mật độ xương trong trường hợp này là thừa. Trái lại, trong trường hợp bệnh nhân chưa từng có một gãy lún đốt sống nào xuất hiện, việc đo mật độ xương cho phép phát hiện bệnh loãng xương (khi T-score <-2,5) và như vậy xác định có nên tiến hành điều trị cản tiêu xương hay không. Thăm khám để phát hiện loãng xương nhờ đo mật độ xương được chỉ định nơi tất cả các phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, trên 65 tuổi. Trong nhóm phụ nữ này, việc đo mật độ xương được chỉ định không chỉ trên phương diện y khoa, mà còn trên phương diện kinh tế (thật vậy, nơi các phụ nữ trên 65 tuổi, ít nhất một phụ nữ trên ba bị chứng loãng xương). Trước 65 tuổi, sự đo mật độ xương chỉ được khuyên thực hiện khi có vài yếu tố nguy cơ đặc biệt. Những chỉ định để đo mật độ xương trước 65 tuổi là : tiền sử cá nhân và gia đình bị gãy xương, thể trạng mảnh khảnh (IMC< 20), mãn kinh trước 45 tuổi và điều trị với corticoides bằng đường miệng. Mặc dầu việc đo mật độ xương là rất cần thiết để phát hiện những người có nguy cơ cao, nhưng nó không đủ đáng tin cậy để đo lường hậu quả của các thương tổn. Thật vậy, một điều trị không chỉ giới hạn vào việc tăng cường mật độ xương, mà còn phải tác động lên vi cấu trúc của xương nữa.
Hỏi : Làm sao giải thích những kết quả của xét nghiệm đo mật độ xương (densitométrie)?
G.S SB : Nơi những bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế sự tiêu xương, không có một liên hệ nhất quán nào giữa sự bảo vệ chống lại gãy xương và sự tiến triển của mật độ xương. Do đó, việc đo mật độ xương trong lúc điều trị không được thực hiện để đánh giá hiệu quả điều trị, nhưng để cho bệnh nhân một feedback dương tính và, như thế, cải thiện sự tuân thủ điều trị.
Hỏi : Còn về calcium và vitamine D thì sao?
G.S SB : Caicium và vitamine D là những thành phần chủ yếu của mọi điều trị chống loãng xương. Vì lẽ những biến đổi của chế độ ăn uống hiếm khi có thể bình thường hóa được cân bằng calcium, nên một điều trị phối hợp dựa trên những bổ sung calcium và vitamine D là tỏ ra cần thiết. Một điều trị bằng thuốc ức chế quá trình tiêu xương phải được kết hợp một cách hệ thống với calcium và vitamine D. Liều lượng trung bình được đòi hỏi là 1.000 và 1.200mg calcium và ít nhất 800 UI vitamine D mỗi ngày. Một liều vitamine D 400 UI là không đủ.
Hỏi : Tầm quan trọng của những gãy xương đốt sống là gì?
G.S SB : Nơi các phụ nữ sau mãn kinh bị chứng loãng xương, nguy cơ bị gãy lún đốt sống (tassements vertébraux) là quan trọng hơn nguy cơ bị mọi gãy xương khác. Trước tuổi 70, những gãy xương đốt sống hẳn là nổi bật và việc làm giảm các gãy xương đốt sống là mục tiêu của điều trị. Từ 70 đến 75 tuổi, mức độ quan trọng của những gãy xương háng và những gãy xương không phải đốt sống khác gia tăng nhanh chóng. Trước 70 tuổi, ngay cả với sự hiện diện của một mật độ xương bị giảm nơi háng, nguy cơ gãy xương nơi các phụ nữ trước hết là một nguy cơ gãy xương đốt sống. Tầm quan trọng của các gãy lún đốt sống vẫn còn bị đánh giá thấp.Tuy vậy, những gãy xương đốt sống được liên kết với một tỷ lệ bệnh tật đáng kể và với một sự giảm chất lượng cuộc sống, đặc biệt sự hiện diện của chứng đau lưng mãn tính (dorsalgie) và những vấn đề hô hấp do tăng gù lưng (hypercyphose). Ngoài ra, những công trình nghiên cứu mới đây phát hiện một tỷ lệ tử vong liên kết với gãy xương đốt sống. Do đó sự ngăn ngừa các gãy xương đốt sống là ưu tiên trong điều trị bệnh loãng xương sau mãn kinh nơi những phụ nữ từ 50 đến 70 tuổi. Trong trường hợp này, alendronate cũng như raloxiphène (Evista) và risédronate (Actonel) có thể được sử dụng. Với điều trị, nguy cơ bị gãy đốt sống được giảm khoảng 40 đến 50%, và nguy cơ bị gãy nhiều đốt sống được giảm hơn 90%! Tác dụng bảo vệ có được với raloxiphène (Evista) có thể tương đương với tác dụng của các biphosphonates. Mục tiêu chính là tránh “tác dụng domino của gãy xương”.
Hỏi : Mối liên hệ giữa một mật độ xương thấp ở cổ xương đùi và nguy cơ bị gãy xương đốt sống?
G.S GB : Trước tuổi 70, một mật độ xương bị giảm không nhất thiết hàm ý một nguy cơ gia tăng bị gãy xương háng. Thật vậy, trong lứa tuổi này, nguy cơ té ngã còn được giới hạn. Nơi những bệnh nhân này, một T-score nơi xương đùi, chủ yếu có một giá trị tiên đoán đối với những gãy xương đốt sống tương lai. Nơi những phụ nữ có một mật đó xương bị giảm, những thuốc ức chế quá trình tiêu xương (ví dụ raloxiphène, Evista) cho phép làm giảm rõ rệt nguy cơ gãy xương đốt sống. Điều chứng nhận này nhấn mạnh tầm quan trọng của một chẩn đoán sớm bệnh loãng xương (ostéoporose).
Hỏi : Ngoài những lợi ích trên xương, những lợi ích khác liên kết với điều trị với raloxifène là những lợi ích nào ?
G.S SB : Raloxifène (Evista) đảm bảo sự bảo vệ chống lại ung thư vú. Các biphosphonates, ngược lại, chỉ tác động duy nhất trên xương. (PATIENT CARE 10/2008)
6/ ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC LÚC VỀ GIÀ

Dân số thế giới đã gia tăng gấp 6 lần từ năm 1800 đến nay. Từ năm 1996 đến 2025, dân số người trên 65 tuổi sẽ tăng từ hơn 20% lên hơn 30%. Từ năm 1995 đến 2000, hy vọng sống thêm (l’espérance de vie) đã gia tăng 18 năm đối với đàn ông và 20 năm đối với phụ nữ. Sự loạn năng cương (dysfonction érectile) bắt đầu ngay năm 40 tuổi, và vào tuổi 70, cứ 3 người đàn ông thì có hai người bị loạn năng cương ở những mức độ khác nhau.
Nhiều yếu tố ảnh hưởng lên chất lượng sống của người đàn ông lúc về già : những giới hạn về mặt nhận thức và vật lý trầm trọng dần theo năm tháng. Sự hiện diện của một rối loạn cương làm gia tăng nguy cơ tai biến mạch máu não, ở cùng lứa tuổi. Cũng vậy, có một tương quan trực tiếp giữa những rối loạn cương và mức độ nghiêm trọng của những bệnh đường tiểu.
Điều trị rối loạn cương bằng thuốc ức chế phosphodiestérase loại 5 (IPDE5: inhibiteurs de la phosphodiestérase type 5) như Viagra, Cialis, Levitra. Giới tính trị liệu pháp (sexothérapie) có một vai trò ít hơn nơi các người trẻ bởi vì ở đây phần thân thể (somatique) quan trọng hơn phần tâm lý.
Tỷ lệ mắc phải loạn chức năng sinh dục nữ (dysfonction sexuelle féminine) là 25% nơi các phụ nữ dưới 30 tuổi và lên hơn 80% sau tuổi 70.
Tỷ lệ các rối loạn “kích dục” (“arousal”) (chủ yếu là sự bôi trơn âm đạo) vượt quá 30% sau 50 tuổi. Tỷ lệ rối loạn ham muốn là 42% nơi phụ nữ mãn kinh và 46% nơi các phụ nữ mãn kinh xảy ra sau phẫu thuật. Những nguyên nhân của những rối loạn này chủ yếu là hormone, thuốc và tâm lý. Điều trị nhằm cho một thuốc bôi trơn (lubrifiant) hay một điều trị tại chỗ bằng hormone hay một giới tính trị liệu pháp nếu nghi một vấn đề về hành vi.
Huyền thoại theo đó tình dục tắt đi với tuổi tác phải được bác bỏ. Mặc dầu những thoái hành sinh lý xảy ra lúc lớn tuổi, nhưng sự ham muốn và thỏa mãn vẫn hoàn toàn nguyên vẹn. 23% người Bỉ nghĩ rằng những người già không còn thích thú về tình dục. 15% nghĩ rằng các người già không làm giao hợp nữa. Tần số các giao hợp này giảm khi tuổi tác gia tăng, nhưng một nửa những người từ 70 đến 80 tuổi giao hợp từ 1 đến 4 lần mỗi tháng . Những thói quen tình dục không bị biến đối với tuổi tác. Tình yêu của các lão niên ít sinh dục (génital) nhưng gợi dục (érotique) hơn, có ít cảm giác (sensations) nhưng nhiều cảm xúc (émotions) hơn.
(LA REVUE DE LA MEDECINE GENERALE 11/2008)
7/ NHỮNG UNG THƯ GIAI ĐOẠN TIẾN TRIỂN TRỞ THÀNH BỆNH MÃN TÍNH
G.S David Khayat giải thích những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) mới làm ngừng tiến triển của nhiều loại ung thư. Ông cũng là tác giả của “ Mots sur les maux du cancer ”
Hỏi : Ngày nay, tỷ lệ lành bệnh của những ung thư thường xảy ra nhất là những tỷ lệ nào ?
G.S David Khayat : Về ung thư vú, hơn 80% các phụ nữ được điều trị hiện nay sẽ lành bệnh. Chúng ta sẽ có một tỷ lệ lành bệnh khá gần đối với các ung thư tiền liệt tuyến (75%) và đối với các ung thư của trực tràng (70%). Với những trị liệu hiện nay, cũng có một tỷ lệ lành bệnh rất cao nơi những người bị vài ung thư hạch và tinh hoàn. Các ung thư của trẻ em cũng được hưởng rất nhiều những tiến bộ điều trị.
Hỏi : Cách tác dụng của những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) mới nhất là gì ?
G.S David Khayat: Các tiên lượng của vài loại ung thư đã có được một sự cải thiện rõ rệt nhờ các vũ khí mới nhắm đích! Thay vì dội bom toàn bộ các tế bào của cơ thể với các thuốc hóa học trị liệu, người ta tìm cách chỉ tấn công vào những cơ chế phân tử mà các tế bào ung thư sử dụng để trở thành đáng sợ. Với những điều trị mới này, người ta nhắm một cách đặc hiệu những phân tử là nguồn gốc của những cơ chế tai hại này, nhằm phong bế hay giết chết những tế bào ung thư, đồng thời gìn giữ các tế bào lành mạnh.
Hỏi : Những loại ung thư nào đã được hưởng những liệu pháp mới này ?
G.S D.K : Các ung thư vú với hai loại thuốc hoàn toàn đổi mới. Loại thuốc thứ nhất, trastuzamab, nhắm một cách đặc hiệu vào những tế bào ung thư của một nhóm các ung thư vú (12%) mang một chất đặc hiệu, HER2. Với điều trị bằng thuốc này, tỷ lệ khỏi bệnh tăng lên hơn 40% ! Loại thuốc thứ hai, bevacizumab, nhằm vào các huyết quản nuôi dưỡng khối u, như thế tước đi nguồn năng lượng cần thiết cho sự tăng trưởng của nó. Được sử dụng trong các giai đoạn di căn ung thư vú, thuốc này làm gia tăng 40% hiệu quả của các hóa học trị liệu cổ điển. Các ung thư đại tràng di căn cũng được cải thiện với điều trị bởi bevacizumab : kết hợp với một hóa học trị liệu, thuốc làm gia tăng khoảng 30% các tỷ lệ thuyên giảm bệnh. Một loại thuốc mới khác, cetuximab, được cho để điều trị vài loại ung thư đại tràng, thành công phong bế một cách rất đặc hiệu các thụ thể (récepteurs) nằm trên những tế bào ung thư cho phép chúng tăng trưởng và tăng sinh. Trong trường hợp này, sự kết hợp thuốc với hóa học trị liệu làm gia tăng, trong cùng tỷ lệ, những hy vọng thuyên giảm lâu dài.
Hỏi : Người ta cũng có thể điều trị nhắm đích vài loại ung thư phổi chứ ?
G.S D.K : Đối với ung thư phổi không phải loại các tế bào nhỏ (à petites cellules), đã có một tiến bộ rất lớn với sự xuất hiện của một điều trị nhắm đích, erlotinib, được cho không phải bằng đường tĩnh mạch nữa mà bằng đường miệng. Thuốc này nhắm vào một thụ thể đặc hiệu hiện diện trên phần lớn các khối u. Thuốc này có ưu điểm là có hiệu quả khi dùng đơn độc, không phối hợp với hóa học trị liệu. Tất cả những điều trị nhắm đích này không gây nên rụng tóc hay nôn mửa. Nhưng chúng có thể gây nên những tác dụng phụ khác, như nổi mụn, hạ huyết áp...
Hỏi : Những tiến bộ khác là gì ?
G.S D.K : Theo ý kiến của tôi, tiến bộ lớn nhất được quan sát là sự kiện, khi một bệnh nhân bị tái phát với sự xuất hiện một di căn, ngày nay chúng ta có những phương tiện để chữa lành nó trong một số trường hợp không phải là ít ỏi. Điều đó là một cuộc cách mạng thật sự ! Không những là cách mạng y khoa, mà còn là cách mạng trong quan niệm của bệnh này. Những kết quả dương tính không những chỉ do các điều trị nhắm đích, mà còn do những hóa học trị liệu pháp mới, những điều trị kháng hormone mới, một vài biphosphonates, như acide zolédronique. Cũng phải nói về phẫu thuật ngoại khoa, ngày nay cho phép lấy đi một và thậm chí nhiều di căn. Tiến bộ quan trọng khác : vaccin chống papillomavirus, tác nhân nhiễm khuẩn gây ung thư cổ tử cung. (PARIS MATCH 20-26/11/2008)
8/ SỰ THÀNH CÔNG CỦA PHẪU THUẬT GHÉP KHÍ QUẢN ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI
Thérapie cellulaire : Những nhà nghiên cứu đã chế tạo, từ một cơ quan của người cho (un organe de donneur), một khí quản mới, bằng những tế bào của chính người bệnh.
Claudia, một người mẹ gia đình còn trẻ, 30 tuổi, người Columbia, trong 4 năm trời đã trải qua một cơn ác mộng y khoa vì bị bệnh lao khí quản và phế quản. Cô vừa có được một kết cục may mắn và vĩnh viễn (chúng ta hy vọng), nhờ một nhóm nghiên cứu và các nhà phẫu thuật người Anh, Tây Ban Nha và Ý. Thật vậy họ đã thực hiện trên người phụ nữ này phẫu thuật ghép một khí quản của người cho (une trachée de donneur), được cấy bởi những tế bào của chính người bệnh. Đây là phẫu thuật ghép khí quản thành công đầu tiên mà bản báo cáo đã được công bố trong The Lancet. Chiến lược đầy hứa hẹn chế tạo một khí quản trong tương lai có thể mang lại lợi ích cho những bệnh nhân bị ung thư họng hay kể cả những dị tật bẩm sinh. Khí quản, chiếc ống dẫn mảnh dẻ này cần thiết cho sự trao đổi khí và cho sự hô hấp. Khí quản có thể bị xâm lấn bởi các khối u ung thư, bị làm biến dạng bởi những thủ thuật thông nội khí quản lúc hồi sức hay gây mê, hay là nơi xảy ra những rò đáng sợ giữa khí quản và thực quản (fistule trachéo-oesophagienne).
Thiên nhiên đã trang bị cho khí quản các vòng sụn cứng, mà các biểu mô hô hấp che phủ bằng các lông mao có tác dụng bài xuất bụi bặm và niêm dịch. Chính tính cứng (rigidité) tự nhiên này giữ khí quản luôn luôn được mở, khi hít vào và khi thở ra. Và cho mãi đến ngày nay, không có một phẫu thuật thay thế khí quản bằng các ống được cấu tạo bởi những vật liệu khác nhau, hay các stents, đã đạt được sự thành công.
Trường hợp của Claudia đặc biệt khó khăn. Cô thiếu nữ người Columbia này bị một bệnh lao phổi thâm nhiễm khí quản nơi phần cổ và làm tắc nghẽn hoàn toàn cuống phổi bên trái. Sau khi được điều trị và chữa lành bệnh phổi, Claudia vẫn giữ các di chứng mãn tính do các sẹo lao phổi, không thể loại bỏ nếu không can thiệp ngoại khoa. Trong thì đầu tiên của cuộc phẫu thuật, các nhà phẫu thuật đã cắt bỏ một khúc cuống phổi bị trít nghẽn và thay thế nó bằng một ống được cấu tạo bằng silicone. Kết quả rất tồi : Bệnh nhân ho thường trực, bị nhiều viêm phổi nặng. Ống bằng silicone này phải được lấy đi. Người phụ nữ trẻ được tái nhập viện tháng 3 năm 2008, vì suy hô hấp cấp tính. Không thể quyết định cắt bỏ một lá phổi vẫn còn sinh lực của Claudia, G.S Martin Birchall (đại học Bristol) và các đồng nghiệp của ông của bệnh viện Barcelone khi đó đi đến một quyết định dứt điểm : làm lại toàn bộ khí quản, từ một cái cốt khí quản của người cho, nhưng được phủ bởi những tế bào của chính người bệnh. Các nhà phẫu thuật đã lấy một đoạn khí quản với độ dài 7 cm, trên một người cho, 51 tuổi, trong tình trạng chết não. Trước hết, tất cả các mô liên kết đã được lấy bỏ ra khỏi khí quản của người cho và đoạn khí quản này đã được tưới rửa dài lâu sau đó.
” BIOREACTEUR ”
Sau đó người ta trích lấy những tế bào phế quản nơi Claudia. Những tế bào này được chọn lựa, làm tinh khiết và cấy. Sau đó, những chế phẩm gồm những tế bào biểu mô và những tế bào sụn này được gieo mầm trong khí quản của người cho rồi tất cả được thiết đặt trong một “ bioréacteur ”, trong đó mảnh ghép khí quản được xoay tròn trong 96 giờ, trong một môi trường cấy. Các chế phẩm lấy từ người bệnh sẽ lót cái cốt khí quản của người cho để bảo vệ cái “tân khí quản” (néotrachée) chống lại mọi hiện tượng thải bỏ.
Chính cái khí quản được tái tạo này đã được ghép thành công trong ngực của Claudia. Mãi đến ngày nay, phẫu thuật thử nghiệm duy nhất tái tạo một khí quản, đã được thực hiện thành công trên nhiều bệnh nhân, ở bệnh viện Marie-Lannelongue, bởi G.S Philippe Dartevelle và B.S Frédéric Kolb. Để thực hiện cuộc giải phẫu này, các phẫu thuật viên đã cắt trên bệnh nhân một mảnh da có động mạch và tĩnh mạch, và sau đó may vào khí quản bị bệnh, rồi đưa vào trong bề dày của mảnh da ghép này những mẫu sụn sườn. (LE FIGARO 19/11/2008)
9/ HỘI CHỨNG GILLES DE LA TOURETTE
Hội chứng Gilles de la Tourette (SGT) là một rối loạn thần kinh hay sinh hóa thần kinh, được đặc trưng bởi những cử động nhanh, không tự ý, lặp đi lặp lại một cách máy móc, thường được gọi là chứng “máy cơ” (“tic”). Các tic này cũng có thể phát âm: những tiếng động không tự ý, những tiếng kêu, những lời tục tĩu. Các triệu chứng xảy ra từng cơn, với những thời kỳ yên nghỉ.
Bệnh SGT còn tương đối ít được biết đến. Những điều tra được thực hiện trong những người ở lứa tuổi học đường cho thấy rằng bệnh xảy ra nơi con trai 3 đến 4 lần nhiều hơn. Theo giả thuyết thường được đưa ra, bệnh này là do hoạt tính gia tăng của hệ dopaminergique trong vài vùng của paléoencéphale: thalamus, vùng dưới đồi, amygdales, hệ limbique.
Có một tố bẩm đa gène di truyền đối với bệnh SGT. Nếu cha hoặc mẹ bị bệnh này, người ta ước tính rằng đứa bé có 50% khả năng phát triển bệnh. Tuy nhiên, các gènes và cách truyền bệnh chưa được biết và các yếu tố môi trường cũng có thể đóng một vài trò quan trọng trong sự xuất hiện hợp chứng.
CÁC MÁY CƠ (TICS)
Người ta thường phân biệt hai loại máy cơ :
- Máy cơ đơn giản, vận động (nháy mắt, những cử động đột ngột của đầu, của vai, nhăn mặt) hay âm thanh (sủa ăng ẳng, kêu khóc, hít mạnh)
- Máy cơ phức tạp : nhảy nhót, sờ mó, xoay trở (pirouettes). Trên bình diện thanh âm, đó là những lời nói biểu lộ ngoài bối cảnh, chứng lặp lời nói (écholalie) hay những từ tục tiểu (coprolalie).
Những hành vi này có thể xen lẫn vào nhau một cách rất phức tạp, bắt bệnh nhân phải chịu một cách không cưỡng được như một cái hắt hơi. Bệnh nhân đôi khi có thể cố thực hiện một kềm chế tạm thời nào đó lên những biểu hiện này, nhưng sự kềm chế này được theo sau đó bởi một sự bùng nổ hàng loạt các máy cơ. Có khi vài bệnh nhân chạy vội vàng vào nhà cầu để có thể “thả bầu tâm sự”, hầu tránh sự nhòm ngó. Các cơn có thể được gia tăng bởi stress hoặc trái lại được giảm đi khi bệnh nhân thực hiện một công tác thu hút tâm trí.
LÀM SAO NHẬN BIẾT MỘT TIC ?
Các máy cơ (tics) được phân biệt với những cử động bất thường không tự ý trong bệnh múa giật (chorée), chứng giật rung cơ (myoclonus), chứng loạn trương lực (dystonie) ở chỗ là các máy cơ có thể được hủy bỏ trong chốc lát bởi một cố gắng ý chí. Sự kềm chế tạm thời này nói chung thường được tiếp theo sau đó bởi một cơn bù. Các cơn được gia tăng khi đứng trước công chúng cũng như khi dùng chất kích thích, nhưng các cơn hiếm xảy ra khi bệnh nhân đang được thăm khám. (LE GENERALISTE 6/11/2008)
10/ LỊCH SỬ CỦA HỘI CHỨNG GILLES DE LA TOURETTE.
Chính vào năm 1885 mà BS Georges Edouard Brutus Gilles de la Tourette, thầy thuốc của các bệnh viện, chuyên khoa thần kinh thuộc nhóm của J.M. Charcot ở bệnh viện La Salpêtrière, lần đầu tiên đã mô tả đầy đủ căn bệnh mang tên ông (“một cái tên rất đẹp để chỉ một bệnh khủng khiếp đến như thế”, một nữ bệnh nhân đã nói như vậy). Tư liệu thời trung cổ ghi chú trường hợp một linh mục lên cơn nhăn mặt và thét lên mỗi khi ông cầu nguyện Đức Mẹ. Được xem như là bị quỷ ám và đề kháng lại với tất cả những phù phép trừ tà ma, cuối cùng nạn nhân khốn khổ phải bị lên giàn hỏa thiêu. Người ta kể rằng hoàng tử của Condé dùng những vật vớ được trong tầm bàn tay để bịt miệng mình lại và tự ngăn cản không để thốt ra những điều điên rồ khi ông đứng trước vua Louis XIV. Nữ hầu tước Dampierre, nhân vật quan trọng của giới quý tộc trong những năm 1820, đã bị những cơn co cứng và uốn éo, kèm theo những tiếng kêu la và những lời nói không mạch lạc, điều này hẳn có thể nổ ra trong những phòng tiếp thượng lưu thời đó. Vì lý do này, bà bị giam vào trong một tu viện. Hai nhân vật lịch sử này có lẽ bị bệnh SGL. Hoàng đế La Mã Claude, xa hoàng Pierre le Grand, Mozart và Emile Zola có lẽ cũng bị hội chứng này. Gần chúng ta hơn, chúng ta có André Malraux, bộ trưởng văn hóa của tướng De Gaule. Những người có cơ hội thấy ông ta trong những buổi nói chuyện trên truyền hình thời đó, hẳn không thể không nhận xét rằng André Malraux bị những máy cơ nơi miệng, kèm theo những tiếng kêu phát ra trong cổ họng, mà ông ta đã cố gắng che dấu bằng cách hút thuốc một cách bực tức, hết điếu này đến điếu khác và đồng thời đưa một bàn tay lên che miệng, khiến cho những lời phát biểu của ông như một tiếng nói thì thầm đứt khúc và khó mà theo dõi được.


BS NGUYỄN VĂN THỊNH
( 4/12/2008 )


Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com


>>>back>>>

Tin Mới Y Học