 |
Thời
Sự Y Học số 103
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ GERTY THERESA RADNITZ
CORI (1896-1957), NGƯỜI PHỤ NỮ MỸ ĐẦU TIÊN ĐƯỢC GIẢI NOBEL Y HỌC
Gerty Cori là người phụ nữ thứ ba trên thế giới và là người phụ nữ đầu
tiên ở Châu Mỹ đã nhận giải Nobel từ khi giải thưởng này ra đời. Bà và
phu quân cũng là cặp vợ chồng đầu tiên ở Hoa Kỳ mà vinh dự này đã được
dành cho họ, chỉ Pierre và Marie Curie là đã nhận giải thưởng Nobel ở
châu Âu trước họ, với tư cách là cặp vợ chồng được giải. Do đó khi nói
về Gerty Cori là cũng nói về chồng bà, Carl Cori : Với tư cách chồng vợ,
họ đã cùng nhau học tập và rồi cùng nhau theo đuổi sự nghiệp và chính
cặp vợ chồng này đã nhận giải Nobel về y học năm 1947.
Gerty Radnitz sinh ở Prague năm 1896 trong một gia đình Do thái gốc Áo
nhưng sống ở Tiệp Khắc từ nhiều thế hệ. Gerty là con trưởng của một gia
đình có ba chị em. Mẹ cô, Martha Neustadt, là một phụ nữ có học vấn và
có văn hóa, bạn gái của Kafka. Cha cô, Otto Radnitz, nhà hóa học, đã hiệu
chính một kỹ thuật lọc đường và là giám đốc của một nhà máy lọc. Gerty
theo học sơ cấp tại nhà trước khi theo học một trường trung cấp tư thục
dành cho con gái, vào năm 1906. Gerty hướng về y khoa nhờ những khuyến
khích của một trong những người chú của cô, là thầy thuốc nhi khoa. Ngay
năm 1912, cô chuẩn bị thi vào đại học và được chấp nhận vào đại học Prague
(của Đức) năm 1914.
NHỮNG NGUỒN GỐC CHUNG CHÂU ÂU
Cô nữ sinh viên Gerty Radnitz gặp người chồng tương lai Carl Cori trên
ghế giảng đường đại học y khoa. Carl Ferdiand Cori cũng sinh ở Prague
năm 1896, trong một gia đình theo đạo cơ đốc giáo. Cũng như bố mẹ Gerty,
bố mẹ Cori gốc Áo nhưng sống ở Tiệp Khắc từ nhiều thế hệ. Về phía nội
cũng như phía ngoại, gia đình của Carl có nhiều giáo sư đại học. Do đó
định mệnh đại học của Carl đã được vạch sẵn bởi truyền thống gia đình.
Khi Carl lên hai tuổi, bố của ông, tốt nghiệp y khoa nhưng làm giáo sư
động vật học (zoologie), được bổ nhiệm làm giám đốc của Trạm sinh học
biển (Station biologique marine) của Trieste (thành phố lúc đó còn thuộc
vào vương quốc Áo-Hung). Carl học trong một trường trung học truyền thống,
nơi đây ông đã tiếp thu được một nền đào tạo hy la vững chắc, và ông bắt
đầu nghiên cứu khoa học, lúc tham gia vào các công trình nghiên cứu của
bố mình.Vào mùa hè, gia đình Cori nghỉ ngơi ở vùng núi Alpes của Tyrol,
nơi đây Carl phát triển một đam mê leo núi sẽ không từ giã ông trong suốt
cả cuộc đời còn lại.
TÌNH YÊU VÀ CHIẾN TRANH
Năm 1914, Carl vào học trường y của đại học Prague của Đức, tại đây ông
gặp Gerty, mà ông mô tả như là : “một phụ nữ trẻ đầy duyên dáng, sinh
lực, trí thông minh, óc hóm hỉnh, và yêu thiên nhiên, những tính chất
đã làm quyến rũ tôi ngay”. Gerty là một phụ nữ xinh đẹp, cô giữ mãi suốt
đời nét thanh lịch kín đáo và dáng vẻ của một cô sinh viên chăm chỉ học
hành. Một thời kỳ êm đẹp trong đó hai tình nhân vừa chung nhau học tập
vừa chia sẻ những cuộc đi chơi vui thú ở vùng thôn chung quanh hay những
cuộc trượt tuyết thám hiểm. Suốt cuộc đời, họ đã dùng những thời giờ rỗi
rảnh vào những loại hoạt động này.
Nhưng từ năm 1914, thế giới trong tình trạng chiến tranh. Năm 1916, Carl
phải gia nhập quân đội Áo. Kinh nghiệm trải qua này đã để lại cho ông
một dấu ấn sâu đậm.
Năm 1918, ông được bổ dụng đến các lán trại được dùng làm bệnh viện dành
cho các bệnh nhiễm trùng, sau những phòng tuyến trên sông Piave ở Ý. Carl
bị choáng váng khi thấy rằng y khoa không giúp ích được gì để dập tắt
tỷ lệ tử vong gây nên bởi cúm Tây ban nha (grippe espagnole), xảy ra nơi
những người lính chiến và thường dân bị suy dinh dưỡng.
VĂN BẰNG, HÔN NHÂN VÀ NHỮNG NĂM THÁNG KHÓ KHĂN
Một khi chiến tranh chấm dứt, Gerty và Carl sau cùng được đoàn tụ. Năm
1920, cả hai đều tốt nghiệp y khoa ở Prague và xuất bản những kết quả
của những công trình đầu tiên của họ. Năm 1920, Gerty kết hôn Carl ở Vienne,
nơi họ tiếp tục theo đuổi đào tạo. Trong khi Carl chia sẻ công việc giữa
khoa Nội và Viện dược liệu học của đại học Vienne, thì Gerty theo chuyên
khoa Nhi ở Karolinen Kinderhospital de Vienne, vừa tiến hành những nghiên
cứu về sự điều hòa nhiệt.
Cuộc sống thật là khó khăn ở châu Âu sau chiến tranh. Trên phương diện
nghề nghiệp, đối với Gerty, là một phụ nữ và lại là người Do thái, nên
những khả năng nhận được một nhiệm sở ở đại học là mong manh thậm chí
là không thể nào thực hiện được. Cô còn bị những vấn đề về sức khỏe do
ăn uống thiếu thốn. Mặt khác, rất bi quan, Gerty hiểu được khá nhanh chóng
rằng Châu Âu có thể lại sẽ trải qua một cuộc chiến tranh nữa, và vì không
muốn biến mình thành người aryen để có thể được cho việc làm, nên năm
1921, Carl nộp đơn xin một nhiệm sở ở Hoa Kỳ. Nhưng vì không nhận được
trả lời, nên ông chấp nhận một việc làm với tư cách phụ tá (assistant)
ở khoa dược của đại học Graz. Gerty vẫn ở Vienne trong bệnh viện nhi đồng
của cô. Cô theo đạo cơ đốc giáo. Chính trong lúc ở Graz mà Carl bắt đầu
quan tâm đến chuyển hóa đường nơi động vật. Cần nhắc lại rằng ông bố của
Gerty điều khiển một nhà máy lọc đường, và đường là một công việc gia
đình ... Trở nên bị bệnh đái đường, Otto Radniz đã nói với con gái : “Con
hãy tìm cho ba một phép điều trị.”
NHỮNG KẺ KHÔNG THỂ PHÂN LY
Năm 1922, viện nghiên cứu ung thư Buffalo (viện Roswel tương lai), trong
tiểu bang Nữu Ước, đề nghị một chức vụ sinh hóa cho BS Carl Cori. Cặp
vợ chồng sau cùng từ giã châu Âu và di cư qua Hoa Kỳ. Gerty tìm được một
việc làm trợ lý cơ thể bệnh học. Ước muốn của Carl và Gerty làm việc bên
nhau gặp phải một sự chống đối quyết liệt : thái độ hai vợ chồng công
tác bên nhau được cho là không phải cung cách làm việc của Hoa Kỳ. Người
ta ngay cả khuyên Carl đừng nên làm hủy hoại sự nghiệp của ông nếu cứ
muốn làm việc chung với vợ mình ! Nhưng cặp vợ chồng vẫn đứng vững và
họ họp thành một nhóm nghiên cứu khác thường và có hiệu quả. Gerty nhận
thấy những tư tưởng của Carl là phi thường và Carl biến đổi những tư tưởng
này thành những vấn đề cụ thể, mà họ tìm cách thực hiện trong phòng thí
nghiệm, Tom, đứa con của họ đã kể lại như vậy.
HỌ LÀM VIỆC HIỆP ĐỒNG VÀ NHỮNG XUẤT BẢN CỦA HỌ
ĐỀU MANG TÊN HAI NGƯỜI
Như thế họ cùng nhau thực hiện những nghiên cứu về chuyển hóa đường và
năm 1929, họ xuất bản lý thuyết mang tên họ. Vào lúc khởi đầu của một
gắng sức co cơ, quá trình đường phân (glycolyse) kỵ khí trong tế bào chất
sử dụng nhanh chóng glucose, và phóng thích pyruvate. Pyruvate được khử
thành lactate hay được biến đổi thành alanine khi cơ (lúc nhịn đói) dị
hóa các acide aminé. Lactate được máu vận chuyển tới gan, ở đây sự chuyển
hóa luôn luôn hoạt động trong điều kiện hiếu khí. Lactate, được hấp thụ
bởi gan, là một chất nền của quá trình tân sinh đường (gluconéogenèse)
của gan. Gan phóng thích trong tuần hoàn máu glucose, và chất này lại
có thể được oxy hóa bởi các sợi cơ. Sự kết hợp của quá trình đường phân
kỵ khí của cơ và sự tân sinh đường của gan tạo thành “chu kỳ Cori” (cycle
des Cori). Trong những công trình sau này của họ, vợ chồng Cori đã khám
phá những enzyme can thiệp trong chu kỳ Cori, khám phá này sẽ mang lại
cho họ giải Nobel.
GIẢI THƯỞNG NOBEL : SỰ CÔNG NHẬN CỦA MỘT CUỘC ĐỜI
LÀM VIỆC LỨA ĐÔI
Sau khi công bố công trình nghiên cứu về hydrate de carbone, chỉ có Carl
là nhận được những đề cử của nhiều trường đại học. Những trường đại học
này đã quên sự đóng góp của Gerty vào công trình nghiên cứu, đã phớt lờ
bà hoặc từ chối tuyển dụng bà. Nhưng Carl không thể chấp nhận những chức
vụ được đề nghị trong những điều kiện như thế.
Năm 1931, Carl nhận được chức giáo sư dược khoa ở trường y, đại học Washington,
Saint Louis. Gerty chỉ được đề nghị một chức nữ phụ tá mà bà đã chiếm
giữ trong 16 năm trời. Bà phải đợi đến năm 1946 khi chồng bà được bổ nhiệm
ghế giáo sư sinh hoá thực thụ, thì sau cùng bà mới được bổ nhiệm làm phó
giáo sư sinh hoá học...nMột năm sau, năm 1947, Gerty và Carl giành được
giải Nobel y học, một sự tán dương dành cho một cuộc đời làm việc bên
nhau, mà chỉ có cái chết của Gerty năm 1957 mới sẽ làm gián đoạn.
“Sự cộng tác của chúng tôi đã bắt đầu khi chúng tôi còn là sinh viên của
Université de Prague và luôn luôn được theo đuổi từ đó. Những cố gắng
của chúng tôi đã luôn luôn bổ sung cho nhau và chúng tôi sẽ không đi được
xa như vậy nếu thiếu một trong hai người”, Carl Cori đã tuyên bố như vậy
trong buổi yến tiệc được tổ chức dành cho giải thưởng Nobel của họ. Nguồn:
(LA SEMAINE MEDICALE 23/10/2008)
2/ VITAMINE B 12 TỐT CHỐNG LẠI SỰ LÃO HÓA
Một công trình nghiên cứu của đại học Oxford, được tiến hành nơi 107 người
từ 61 đến 87 tuổi, đã cho thấy rằng những người có nồng độ vitamine B12
cao nhất, có thương tổn liên quan với sự lão hóa (teo não bộ) 6 lần thấp
hơn. Theo G.S Anna Vogiatzoglou, một chế độ ăn uống giàu cá, thịt, ngũ
cốc và sữa hẳn phải đủ để gia tăng nồng độ vitamine B12 của họ. (PARIS
MATCH 9/10-15/10/2008)
3/ VIÊM BÀNG QUANG : ĐỂ TRÁNH NHỮNG
THẾ TÁI PHÁT
G.S Henry Botto, trưởng khoa niệu học của bệnh viện Foch ở Suresne, bình
luận những lợi ích của canneberge, để ngăn ngừa hay làm giảm các viêm
bàng quang tái phát.
Hỏi : Những đặc điểm của
viêm bàng quang là gì ?
G.S Henry Botto : Đó là một nhiễm trùng của bàng quang, nói chung là do
một vi khuẩn, được biểu hiện bởi cảm giác đau buốt lúc tiểu tiện, bắt
đi tiểu nhiều lần, một tình trạng sốt nhẹ, máu xuất hiện trong nước tiểu
(một trên năm trường hợp) và, lúc xét nghiệm nước tiểu, có sự hiện diện
của một lượng vi khuẩn kèm theo nhiều tế bào viêm. Trong số những vi khuẩn
này, người ta tìm thấy nhiều nhất là colibacille (trong 80% các trường
hợp).
Hỏi : Tần số mắc phải bệnh
nhiễm trùng đường tiểu này ?
G.S H.B : Ở Pháp người ta ước tính số nhiễm trùng đường tiểu là 3 triệu
mỗi năm, đại đa số là viêm bàng quang (cystite). Phụ nữ là đối tượng đặc
biệt bị mắc bệnh này : cứ hai phụ nữ thì có một bị bệnh, trong đó 30%
các trường hợp bị những thể tái phát.
Hỏi : Tại sao các phụ nữ
dễ bị loại nhiễm trùng này hơn và những yếu tố nguy cơ là gì ?
G.S H.B : Đó là một vấn đề cơ thể học : chỗ tận cùng của niệu đạo (urètre)
phụ nữ nằm kế cận với xoang âm đạo (âm đạo lại nằm gần với hậu môn, là
nơi những vi khuẩn ruột đi qua). Có 3 nguy cơ : 1. Nguy cơ tái phát biến
đổi một bệnh lành tính thành một bệnh gây khó chịu trong cuộc sống hàng
ngày. 2. Nguy cơ đề kháng với các kháng sinh, bởi vì phải dùng thường
xuyên thuốc kháng sinh do các nhiễm trùng tái phát. 3. Nguy cơ lan rộng
nhiễm trùng từ bàng quang lên thận, điều này khi đó sẽ nghiêm trọng hơn
nhiều (viêm thận bể thận, pyélonéphrite).
Hỏi : Điều trị như thế nào
và hiệu quả của sự điều trị ?
G.S H.B : Trước hết, người ta dựa vào hai họ kháng sinh : fosfomycine
trométamol với liều duy nhất, hoặc những fluoroquinones dùng trong 3 ngày.
Tỷ lệ hiệu quả tức thời là trên 90%. Nhưng đáng tiếc thay, khoảng 30%
các trường hợp bị tái phát, biến đổi một bệnh thông thường này thành một
bệnh mãn tính !
Hỏi : Mới đây người ta đã
hiệu chính cái gì để phòng ngừa những tái phát này ?
G.S H.B : Từ ít lâu nay, người ta khuyên dùng canneberge trong mục đích
phòng ngừa để tránh sự tái phát. Canneberge là một trái cây gồm hai loại
:. loại châu Âu, không có hiệu quả, và loại châu Mỹ, được gọi là “ cây
ỏng ảnh lớn, màu đỏ của Bắc Mỹ ” (grande airelle rouge nord-américaine),
chỉ hiệu quả trên bình diện phòng ngừa. Canneberge được uống dưới dạng
nước vắt, bột hay thuốc viên.
Hỏi : Trái cây này tác dụng
bằng cơ chế nào ?
G.S H.B : Canneberge chứa một tanin được gọi là proanthocyanidine (Pac),
ngăn cản colibacille bám vào thành bàng quang, giai đoạn cần thiết cho
sự phát khởi của một viêm bàng quang. Cơ quan an toàn y tế của những sản
phẩm y tế của Pháp (Afssaps) mới đây đã công nhận rằng sự hấp thụ “ cây
ỏng ảnh Mỹ ” (airelle américaine) với liều lượng 36 mg Pac mỗi ngày làm
giảm tần số những nhiễm trùng đường tiểu gây nên bởi colibacille.
Hỏi : Những công trình nghiên
cứu nào đã chứng tỏ hiệu quả của canneberge ?
G.S H.B : Hai công trình nghiên cứu lớn đã cho phép quan sát rằng dùng
sản phẩm này với một hay hai liều mỗi ngày, trong ít nhất 6 tháng, cho
phép làm giảm rõ rệt 20% những trường hợp tái phát (và hơn nữa với những
viên thuốc được sản xuất ở Pháp). Afssaps không chuẩn nhận tầm quan trọng
của sự tiêu thụ toàn bộ các thành phần của trái cây canneberge, mà chỉ
công nhận thành phần tanin của nó (Pac). Bằng cách làm giảm những đợt
tái phát, canneberge sẽ cho phép làm giảm sự tiêu thụ các kháng sinh và
sự xuất hiện các đề kháng.
Hỏi : Ông có thể cho những
lời khuyên nào để làm giảm nguy cơ bị viêm bàng quang ?
G.S H.B : 1. Uống nước đầy đủ để đi tiểu đều đặn (5 hoặc 6 lần mỗi ngày);
2. Đi tiểu sau mỗi lần giao hợp; 3. Tránh táo bón bằng một chế độ ăn uống
thích ứng; 4. Nơi những người bị viêm bàng quang tái phát, sử dụng một
trích chất của canneberge (Pac 36mg). (PARIS-MATCH
9/10-15/10/2008)
4/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 2
VÀ SỰ SA SÚT KHẢ NĂNG NHẬN THỨC NƠI NGƯỜI GIÀ
Sự sa sút chức năng nhận thức khi lớn tuổi, quan trọng hơn nơi những người
bị “ bệnh đái đường mỡ ” (diabète gras), so với phần còn lại của dân chúng.
Một điều tra đã xác nhận điều đó sau khi đã theo dõi trong hai đến bốn
năm, nơi hơn 10.000 người tuổi từ 70 đến 75. Những rối loạn trí nhớ, lý
luận hay diễn tả được quan sát nơi đàn ông và phụ nữ, và càng rõ rệt khi
bệnh đái đường càng mãn tính. Sự sa sút khả năng nhận thức này được quy
cho những bất thường của chuyển hóa insuline hơn là do những biến đổi
huyết quản trong não bộ. (SCIENCES ET AVENIR 11/2008)
5/ SỰ
BÉO PHÌ BỤNG BÁO TRƯỚC NGUY CƠ TỬ VONG
Chứng béo phì toàn thân và bụng (adiposité générale et abdominale) được
liên kết chặt chẽ với nguy cơ tử vong. Chính vì vậy, ngoài chỉ số khối
lượng cơ thể (BMA), vòng thân (tour de taille) và tỷ số vòng thân/vòng
háng (rapport taille/hanche) phải được đo lúc thăm khám kiểm tra thường
quy.
Cách nay một năm, những kết quả của công trình nghiên cứu Idea (International
Day for the Evaluation of Abdominal Obesity), được thực hiện trên hơn
165.000 người trên khắp thế giới, đã chứng tỏ rằng vòng thân (tour de
taille) là một chỉ dấu lâm sàng về nguy cơ bị bệnh tim mạch và đái đường
đáng tin cậy hơn chỉ số khối lượng cơ thể (BMI). Hôm nay, một công trình
nghiên cứu đã thăm dò sự liên kết giữa chứng béo phì toàn thể và bụng
với nguy cơ tử vong ở châu Âu. Đó là những công trình được thực hiện trong
khung cảnh của nghiên cứu EPC (European Peospective Investigation into
Cancer and Nutrition). Các nhà nghiên cứu của 9 nước châu Âu đã đo BMI,
vòng thân và tỷ số vòng thân/vòng háng của khoảng 360.000 người (tuổi
trung bình 51,5, trong đó 65,4% là phụ nữ), và được theo dõi trong gần
10 năm. Trong thời kỳ theo dõi này, 4% (14.723 người) bị chết.
Nguy cơ tử vong thấp nhất được quan sát đối với một BMA 25,3 nơi đàn ông
và 24,3 nơi phụ nữ. Các kết quả của công trình nghiên cứu cho thấy rằng
tỷ lệ tử vong càng gia tăng khi vòng thân và tỷ số vòng thân/vòng háng
càng gia tăng : những nguy cơ tử vong hai lần lớn hơn nơi những người
với một vòng thân lớn (>120cm đối với đàn ông , >100 cm đối với
phụ nữ), so với những người đàn ông có một vòng thân <80cm và những
phụ nữ có một vòng thân <65 cm. Nguy cơ này tương tự nếu BMA bình thường
(18,5-25). Mỗi gia tăng 5cm của vòng thân làm gia tăng nguy cơ tử vong
17% nơi đàn ông và 13% nơi các phụ nữ.
Còn về tỷ số vòng thân/ vòng háng, đó cũng là một chỉ đấu quan trọng của
tình trạng sức khỏe. Mỗi gia tăng 0,1 của tỷ số này được liên kết với
một gia tăng 34% nguy cơ tử vong nơi đàn ông và 24% nơi phụ nữ.
VÒNG THÂN/ VÒNG HÁNG
Những kết quả của công trình này chứng tỏ rằng một sự thặng dư mỡ chung
quanh thân tạo một nguy cơ gia tăng đối với sức khỏe và điều này xảy ra
ngay cả đối với những người có trọng lượng bình thường. “Mặc dầu những
nghiên cứu có quy mô giới hạn hơn đã chỉ cho thấy một mối liên hệ giữa
tỷ lệ tử vong và kích thước vòng thân (tour de taille), nhưng chúng tôi
đã ngạc nhiên xác nhận rằng chu vi của thân hình (circonférence de taille)
lại có thể có một tác dụng mạnh lên tình trạng sức khỏe và tỷ lệ tử vong
như thế”, BS Elio Riboli , một trong những tác giả chính của công trình
đã nhấn mạnh như vậy.
“Kết quả quan trọng nhất cho thấy rằng sự phân bố mỡ trong cơ thể đóng
một vai trò quan trọng đối với sức khỏe và tỷ lệ tử vong”, BS Tobias Pischon,
thuộc Viện dinh dưỡng người của Đức đã xác nhận như thế .
“Trong thập niên trước, chúng ta sử dụng vòng thân (tour de taille), chủ
yếu bởi vì dễ đo và dễ giải thích hơn tỷ số vòng thân/ vòng háng”, các
tác giả công trình nghiên cứu kết luận và chủ trương, ngoài BMI ra, cần
sử dụng phối hợp vòng thân (tour de taille) và tỷ số vòng thân/háng (rapport
taille/hanche) trong việc xác định nguy cơ tử vong, đặc biệt hơn là nơi
những người có BMI thấp. (LE JOURNAL DU MEDECIN 18/11/2008)
6/ TẬP THỂ DỤC CÓ HIỆU QUẢ CHỐNG LẠI CHỨNG
HAY QUÊN
Theo nhiều công trình nghiên cứu, những người hoạt động, lúc về già, sẽ
có ít nguy cơ bị mắc bệnh Alzheimer hơn so với những người ít hoặc không
hoạt động.Tuy nhiên không có một nghiên cứu nào đã chứng tỏ rằng tập thể
dục có thể cái thiện chức năng của trí nhớ nơi những người, với tuổi tác
gia tăng nhưng không bị bệnh tật, thường kêu ca hay bị chứng lãng quên.
Nhóm nghiên cứu của BS Nicola Lautenschlager của Melbourne, đã thực hiện
một nghiên cứu nơi 138 người hơn 50 tuổi kêu ca về vấn đề trí nhớ mặc
dầu họ không bị mắc một bệnh nào cả.Trong 24 tuần, những người này được
chia thành 3 nhóm : một nhóm không có hoạt động gì đặc biệt cả ; nhóm
thứ hai theo một chương trình luyện tập trí nhớ, nhóm thứ ba chịu 150
phút hoạt động vật lý với mức độ trung bình mỗi tuần, hoặc chia ra nhiều
lần (3 buổi tập thể dục 50 phút), hoặc 20 phút thể dục mỗi ngày. Kết quả
: một tác dụng có lợi đã xuất hiện trong nhóm “ tập thể dục”, ngay tháng
thứ sáu và được duy trì đến tháng thứ 18 lúc kiểm tra, với một cải thiện
rất rõ so với nhóm chứng. Không có một lợi ích nào đã được quan sát nơi
những người theo một chương trình luyện tập thuần não bộ. (PARIS-MATCH
9/10-15/10/2008)
7/ SÀNH ĂN NHƯNG VẪN GÌN GIỮ TRÁI TIM MÌNH
KHÔNG BỊ BỆNH
Trong hội nghị của Hiệp hội Tim học châu Âu, được tổ chức ở Munich ngày
30/8-3/9/2008, các thuyết trình viên đã muốn chứng tỏ rằng chúng ta có
thể hoàn toàn ăn uống thoải mái nhưng vẫn gìn giữ trái tim mình không
bị bệnh .
RƯỢU VANG
Một sự tiêu thụ hợp lý rượu, và đặc biệt hơn là rượu vang, làm giảm nguy
cơ tim mạch và nguy cơ toàn thể nơi những người lành mạnh và những người
có tiền sử bệnh tim. Khả năng bảo vệ tối đa có được với 1 đến 2 ly mỗi
ngày. Mọi sự tiêu thụ trên mức này làm lệch hệ số lợi-nguy cơ về phía
nguy cơ.
CÀ PHÊ HAY TRÀ
Trái với một thành kiến thâm căn, cà phê về lâu về dài không làm gia tăng
nguy cơ tim mạch, kể cả những người bị bệnh tim, mặc dầu trước mắt cà
phê có thể gây nên một sự gia tăng huyết áp.
Về trà, hai công trình phân tích méta đã chứng tỏ rằng sự tiêu thụ trà
càng cao thì tỷ lệ mắc phải những bệnh tim do xơ mỡ động mạch và những
đột qụy càng thấp. Điều lạ lùng là những tác dụng bảo vệ này dường như
không liên quan với những người dân của Vương Quốc Anh, mặc dầu họ là
những dân nghiện trà thâm căn. Các chất chống oxy hóa thuộc loại flavonoides
và catéchines, được chứa trong trà (đặc biệt là trà xanh) có vẻ là nguồn
gốc của tác dụng bảo vệ tim mạch này.
CHOCOLAT ĐEN
Rất nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh những biến đổi có lợi của
chocolat đen (hạ huyết áp, cải thiện sự giãn các động mạch, cải thiện
chức năng của các tiểu cầu trong máu).
Phải xác định rõ là chocolat đen mới là quan trọng bởi vì chocolat trắng
(vả lại không phải là chocolat) không có một tác dụng tim mạch có lợi
nào và cũng bởi vì chocolat càng đen, thì nồng độ cacao càng cao và chính
thành phần này mới mang những đặc tính của chocolat.
MỘT ĐƠN THUỐC SẼ ĐƯỢC VIẾT NHƯ THỂ NÀY VÀO MỘT
NGÀY NÀO ĐÓ :
- Chocolat vào buổi sáng .
- Cà phê vào cuối buổi ăn trưa.
- Một ly rượu vang vào hai bữa ăn chính.
- Trà xanh (đặc biệt giàu chất chống oxy hóa) dùng trong ngày.
- Một miếng vuông chocolat đen buổi chiều lúc đi ngủ.
(COEUR ET ARTERES 11/2008)
8/
RƯỢU VANG : MỘT NGUỒN BỔ SUNG POLYPHÉNOLS
Ở Pháp, người dân có một cơ may mà những người Mỹ thèm muốn. Mặc dầu có
một chế độ ăn uống giàu nước chấm (sauce), phó mát, đồ thịt lợn thổ địa,
gratins, nhưng người Pháp vẫn giữ một tỷ lệ bị nhồi máu cơ tim tương đối
thấp. Vùng của nước Pháp, nơi tỷ lệ mắc bệnh nhồi máu cơ tim thấp nhất,
thật lạ lùng chính là nơi mà món ragout là chúa tể, đó là miền Tây Nam
nước Pháp. Cái “nghịch lý Pháp” (french paradox) này từ lâu đã được xem
như đặc biệt liên kết với sự tiêu thụ rượu vang đỏ, thông thường ở Pháp
hơn là ở bên kia Đại tây dương, ở đây bia và whisky được ưa thích hơn.
Sự kiện một sản phẩm tổng hợp có tác dụng giống polyphénol, được chứa
trong vỏ của trái nho, có thể làm giảm nguy cơ bị béo phì và bị bệnh đái
đường, có cho phép kết luận rằng chính sự tiêu thụ nho giải thích “cái
nghịch lý Pháp” hay không? “Thật vậy chất polyphénol (resveratrol) được
chứa chủ yếu trong nho đen. Thế mà chất này sau đó lại được thấy nhất
trong rượu vang đỏ. Nhưng có lẽ phải uống hàng trăm lít rượu trong ngày
để có được một liều lượng có hiệu quả chống lại chứng béo phì và bệnh
đái đường”. Thế mà uống trên ba ly rượu vang mỗi ngày đối với đàn ông
và hai đối với phụ nữ, các biến chứng do rượu sẽ bắt đầu xuất hiện. Cái
“nghịch lý Pháp” có lẽ có thể được giải thích một phần bởi rượu vang,
nhưng cũng có những yếu tố khác can dự vào. (LE FIGARO
6/11/2008)
9/ MỘT MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHỨNG THIÊN ĐẦU
THỐNG VÀ UNG THƯ VÚ
Dầu cho các cơn thiên đầu thống (migraine) gây đau đầu khó nhọc thế nào
đi nữa, tuy vậy các các cơn đau này mang lại một lợi ích quan trọng cho
những người phụ nữ bị mắc phải . Theo Christopher Li, các phụ nữ bị các
cơn thiên đầu thống sẽ có ít nguy cơ phát triển một ung thư vú hơn.
Chính oestrogène, điểm chung giữa chứng thiên đầu thống và ung thư vú
đã làm lưu ý nhà dịch tễ học này. Những hormone sinh dục nữ được biết
là có can dự trong những bệnh lý phụ thuộc hormone (pathologies hormono-dépendantes)
như ung thư vú. “Những cơn thiên đầu thống có vẻ cũng có một yếu tố hormone
vì chúng thường xảy ra nơi các phụ nữ hơn là nơi đàn ông và nhiều yếu
tố làm phát khởi được biết có liên hệ với hormone. Thí dụ, các phụ nữ
uống thuốc ngừa thai bằng đường miệng trong 3 tuần, sau đó một tuần với
thuốc không có hoạt tính, có khuynh hướng chịu nhiều cơn thiên đầu thống
hơn trong giai đoạn này, tức là lúc nồng độ hormone trong cơ thể rất thấp”.
Mong muốn đánh giá mối tương quan giữa hai bệnh lý này, B.S Li và nhóm
nghiên cứu đã phân tích các dữ kiện của một nhóm phụ nữ ở thời kỳ mãn
kinh, trong đó một nửa đuợc chẩn đoán ung thư vú. “Như thế chúng tôi đã
khám phá ra rằng nói chung, những phụ nữ đã bị các cơn thiên đầu thống,
có 30% ít hơn nguy cơ phát triển một ung thư vú so với những phụ nữ đã
không có những cơn đau đầu như vậy.” Tuy vậy, không phải là những ung
thư vú liên kết với những thụ thể œstrogène và progestérone là có liên
quan với những kết quả này. “Cơ chế sinh học giải thích mối liên hệ giữa
các cơn thiên đầu thống và ung thư vú chưa được thật sự hiểu rõ. Nhưng
chúng tôi cho rằng có thể có một mối liên hệ với những dao động của những
nồng độ của các hormone trong máu”. (LE SOIR 8/11-9/11/2008)
10/ CÓ ÍT TINH TRÙNG HƠN : NHỮNG MỐI NGHI
NGỜ VỀ CÁC CHẤT HÓA HỌC
Trong 50 năm, số lượng tinh trùng ở Châu Âu đã giảm 40%. Các chất hoá
học được quy cho trách nhiệm.
Những công trình nghiên cứu được thực hiện trong các nước Tây Phuơng cho
những kết quả không chối cãi được : sự sản xuất tinh trùng nơi đàn ông
đã giảm 40% và các trường hợp ung thư tinh hoàn (cancers du testicule)
đã gia tăng khắp nơi ở Châu Âu. Mặt khác, những công trình được thực hiện
bởi các nhà khoa học đã cho phép xếp loại nhiều chất hoá học, như các
chất gây rối loạn nội tiết (perturbateurs endocriniens), nghĩa là những
chất bắt chước tác dụng của các hormone sinh dục nữ. Năm 2007, châu Âu
đã thiết lập một danh sách gồm 320 chất nằm trong khung cảnh này.
Phải chăng có một mối liên hệ giữa việc số lượng các tinh trùng bị hạ
thấp và các chất gây rối loạn nội tiết này? Mặc dầu điều này đã được chứng
tỏ nhiều lần trên động vật, nhưng chỉ có ít những dữ kiện đáng tin cậy
trên người. Chính trong bối cảnh này mà những nhà khoa học ngày nay cố
xác lập mối liên hệ vì biết rằng càng thiếu các bằng cớ chính thức, những
mối nghi ngờ lại càng tích lũy.
“ VÔ ÍCH CHỜ ĐỢI CÁC BẰNG CỚ ”
Paraben ( trong các mỹ phẩm), các hợp chất hữu cơ bay hơi (trong hồ keo,
sơn...), các chất hãm ngọn lửa (quần áo, đồ gỗ..), các phtalates ( trong
đó plastiques), bisphénol A... Đó là vài chất được điểm mặt bởi những
nhà khoa học. “Hãy lấy hai chất cuối. Bisphénol tác dụng như một oestrogène
với liều lượng thấp, các phtalates tác dụng như các chất kháng testostérone.
Do đó những cơ chế tác dụng rất khác nhau nhưng các hậu quả lên thai nhi
đều giống nhau: đó là sự nữ hóa (féminisation)”, Bernard Jegou, chủ tịch
của hội đồng khoa học của Inserm đã giải thích như vậy. Một vài phtalate
đã bị cấm sử dụng trong các đồ chơi, “nhưng có mặt khắp mọi nơi”, nhà
khoa học nói tiếp. Đối với bisphénol mà chúng ta đặc biệt tìm thấy trong
thành phần của bình sữa, cuộc chiến đang diễn ra : bị cấm ở Canada, nhưng
sự sử dụng luôn luôn được cho phép ở Hoa Kỳ và châu Âu.
“Vô ích chờ đợi các chứng cớ rồi mới phản ứng. Chúng ta đã thấy điều đó
trong quá khứ với thuốc lá và amiante. Ngày nay, với phtalates và những
chất khác, chúng ta có khá đủ lý lẽ để kêu gọi ít nhất là sự nâng cao
cảnh giác”, Annie Sasco, nhà dịch tễ học ung thư của Viện y tế công cộng
Bordeaux đã phát biểu như vậy. (LE FIGARO 19/11/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(27/11/2008)
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |