 |
Tăng
Tỉ lệ Phát bệnh của Ung thư Tuyến Giáp tại Hoa Kỳ, 1973-2002
Để khảo sát hướng phát triển của tỉ lệ phát bệnh của ung
thư tuyến giáp, Louise Davies, H. Gilbert Welch nghiên cứu hồi cứu các bệnh
nhân bị ung thư tuyến giáp dựa vào dữ liệu của Viện Ung Thư Quốc gia và
Trung tâm Kiểm Soát và Ngừa Bệnh.
Kết quả cho thấy tỉ lệ phát bệnh của ung thư tuyến giáp tăng từ 3.6 trong
100.000 dân năm 1973 lên 8.7 trong 100.000 dân năm 2002, tức là tăng gấp
2.4 lần. Sự gia tăng chủ yếu là do tăng ung thư dạng papillary từ 2.7 lên
7.7 trong 100.000 dân, tức là tăng 2.9 lần.
Từ 1988 đến 2002, 49% sự gia tăng do phát hiện ung thư nhỏ hơn 1cm đường
kính.
Không có thay đổi đáng kể trong tỉ lệ phát bệnh của những ung thư ít gặp
hơn như ung thư dạng follicular, medullary, và anaplastic.
Tỉ lệ tử vong của ung thư tuyến giáp không thay đổi trong thời gian 1973-2002
ở vào khoảng 0.5 trong 100.000 dân.
Các tác giả kết luận rằng sự gia tăng ung thư tuyến giáp ở Hoa kỳ là do
tăng khả năng phát hiện ung thư nhỏ dạng papillary. Tuy tỉ lệ phát bệnh
tăng nhưng tỉ lệ tử vong không tăng và vì biết rằng vốn có một số lớn ung
thư “dưới lâm sàng” (subclinical) nên các tác giả cho rằng sự gia tăng tỉ
lệ phát bệnh ung thư tuyến giáp là kết quả của sự áp dụng siêu âm rộng rãi
cộng với chọc hút các nhân giáp nhỏ khiến phát hiện được các dạng ung thư
dưới lâm sàng chứ không phải là gia tăng thực sự của ung thư tuyến giáp.
Các tác giả cho rằng có sự gia tăng bề ngoài của ung thư tuyến giáp mà không
có ảnh hưởng đến tử vong cho nên cần nghiên cứu thêm để xem có cần thận
trọng hơn trong việc chẩn đoán ung thư tuyến giáp. Thông thường 75% những
người được chẩn đoán ung thư dạng papillary nhỏ hơn 1 cm được cắt bỏ tuyến
giáp. Cắt bỏ tuyến giáp toàn phần tuy ít tai biến nhưng có hậu quả lâu dài
gồm nhược giáp, tổn thường thần kinh thanh quản, hạ calci huyết, khiến cho
bệnh nhân phải uống thuốc bù suốt đời, phải theo dõi dài hạn đề phòng tái
phát. Theo ý các tác giả, ung thư dạng papillary nhỏ hơn 1 cm đường kính
có thể được coi như một phát hiện bình thuờng và có lẽ chỉ cần theo dõi.
JAMA 2006; 295: 2164-2167. Vol. 295 No 18, May 10, 2006
Bác sĩ Nguyễn văn Đích tóm lược
(YDNN 19)
>>>back>>>
|
 |