 |
TIN Y KHOA TÓM LƯỢC
CRP blocker cho thấy có lợi cho
bệnh nhồi máu cơ tim ở chuột lớn
CRP (C-Reactive protein) là chất đánh dấu viêm và chỉ định tiên lượng
bệnh động mạch vành Vai trò sinh lý của CRP vẫn chưa chắc chắn, nhưng
thí nghiệm ở chuột lớn cho thấy CRP người bám vào mô bị hư hại của cơ
tim chuột lớn , khích hoạt bổ thể và tăng lượng cơ tim hư hại và nguy
cơ tử vong.
Một toán nhiều quốc gia nghiên cứu cấu trúc của CRP và làm 1 phân tử nhỏ
được thiết kế để ngăn chặn khả năng của CRP bám vào mô bị thương tích.
Các nhà nghiên cứu liền tạo ra nhồi máu cơ tim thử nghiệm ở chuột lớn
và truyền CRP người vào chuột có hay không CRP blocker. Ở chuột có nhận
CRP blocker, so với nhóm không dùng blocker, kích thước chỗ nhồi máu và
tần số đoạn ST tăng cao cả hai đều giảm khoảng gần 40%, và phân số bơm
máu tăng 33%. Phân tử chẹn CRP không tỏ vẻ gây phản ứng nghịch. Nghiên
cứu này đưa ra giả thuyết là truyền CRP blocker khi mới chớm nhồi máu
cơ tim có thể giữ được mô cơ tim.
Trên lý thuyết, cách tiếp cận này cũng bảo vệ thần kinh ở bệnh đột qụy.
Nguồn thông tin: Pepys MB và cộng sự. Targeting C-Reactive protein
for the treatment of cardiovascular disease. Nature 2006 Apr 27; 440:
1217-21
Trắc nghiệm đi bộ có thể tiên đoán vấn đề
trong tương lai ở người cao tuổi
Trắc nghiệm đi bộ đã được dùng để tiên đoán bệnh suất và tử suất ngắn
hạn ở bệnh nhân có bệnh tim mạch đang hoạt động và những bệnh mãn tính
khác. Dữ liệu từ một nghiên cứu thăm dò quan sát ở 2324 người già sống
trong cộng đồng ( tuổi từ 70 đến 79) không bị bệnh tim mạch hoạt động
hay bị giới hạn di chuyển đáng kể được dùng để đánh giá trị số tiên đoán
thời gian đi bộ 400 m về nguy cơ ngắn hạn và dài hạn.
Thời gian đi bộ ở mức căn bản trong khoảng từ 3 phút đến 16 phút; 356
người không thể đi bộ đến hết đường. Trong khoảng thời gian trung bình
5 năm theo dõi gồm cả đánh giá bằng phỏng vấn mỗi 6 tháng, 351 người chết,
308 người mới bị bệnh tim mạch và 1625 người mới bắt đầu bị giới hạn di
chuyển hay tàn phế. Phân tích đa biến số (multivariate analysis) cho thấy
cứ thêm 1 phút đi bộ liên hệ đến tăng khoảng 30% tử suất trong vòng 5
năm, 20% trong bệnh tim mạch mới phát sinh và 50% trong giới hạn di chuyển
hay tàn phế. Sắc dân và giới tính không ảnh hưởng đến nghiên cứu.
Chúng ta thấy đây là một trắc nghiệm dễ thực hiện tại phòng mạch có thể
giúp nhận diện được những chức năng khác ở người cao tuổi làm tăng tử
vong hay tàn phế trong ngắn hạn từ đó bác sĩ sẽ chú ý điều trị nhiều hơn
nhóm bệnh nhân này.
Nguồn thông tin: Newman AB và cộng sự. Association of long distance
corridor walk performance with mortality, cardiovascular disease, motility
limitation, and disability. JAMA 2006 May 3;295;2018-26
Giải thích mức độ protein trong nước tiểu
bằng que nhúng (dipstick)
Vì que nhúng nước tiểu thường được dùng rộng rãi để dò tìm mẫu nước tiểu,
chúng ta cần biết đo lường protein trong nước tiểu liên hệ đến mức nào
với tỷ số protein/creatinin trong nước tiểu. Các nhà nghiên cứu phân tích
2098 mẫu nước tiểu được gởi đến phòng xét nghiệm bệnh viện đo đồng thời
bằng que nhúng và tỷ số protein/creatinin trong nước tiểu. Trọng lượng
riêng nước tiểu cũng ghi vào bảng phân tích, vì một trị số protein nước
tiểu ở que nhúng biểu hiệu mức bài tiết protein cao hơn trong nước tiểu
pha loảng hơn là mẫu đậm đặc.
Các nhà nghiên cúu tạo ra 2 cái bàn gồm 8 x 5 ô để 40 kết hợp trị số trọng
lượng riêng nước tiểu từ 1.005 đến 1.040 và trị số protein của que nhúng
(0,10,30,100 và >300 mg/dl). Mỗi ô trên 1 bàn cung cấp tỷ lệ bệnh nhân
có tỷ số protein/creatinin => 500 mg/g, và mỗi ô của bàn bên kia cho
tỷ số protein/creatin >= 3000 mg/g (protein trong nước tiểu người bị
bệnh thận). Thí dụ, một bệnh nhân có mức protein bằng que nhúng 0mg/dl
và trọng lượng riêng 1.020 có 2% xác suất hiển nhiên protein trong nước
tiểu và 0% xác suất protein nước tiểu bệnh thận. Trái lại, một bệnh nhân
có mức protein 300mg/dl bằng que nhúng và trọng lượng riêng 1.020 có 98%
xác suất hiển nhiên protein trong nước tiểu và 62% xác suất protein nước
tiểu bệnh thận. Dùng dữ liệu của nghiên cứu này, tác giả cung cấp cách
tính protein trong nước tiểu. Người ta ghi mức protein bằng que nhúng
và trọng lượng riêng, và máy tính cho xác suất tỷ số protein/creatinin
trong nước tiểu >= 500 mg/dl hay >= 3000 mg/dl.
Những xác suất này giúp bác sĩ quyết định có nên yêu cầu thêm xét nghiệm
chính xác hơn về protein trong nước tiểu không.
Nguồn thông tin: Constantiner và cộng sự. A dipstick protein and specific
gravity algorithm accurately predicts pathological proteinuria. Am J Kidbey
disease 2005 May 45:833-41
Ds Lê-văn-Nhân
YDNN
đọc ngày May 28, 2006
>>>back>>>
|
 |