Thông Tin Về Bệnh Tiểu Ðường Và Cao Huyết Áp
dược sĩ Lê Văn Nhân


Nguy hiểm của bệnh mạch máu ngoại vi.

Các nhà nghiên cứu đã nhận diện được những yếu tố nguy hiểm khác nhau cho 2 vấn đề ở cẳng chân lan truyền khoảng 8 đến 12 triệu người Mỹ với bệnh động mạch ngoại vi (PAD: Peripheral Artery Disease).
PAD cũng là 1 loại nghẽn động mạch gây nhồi máu cơ tim và các bệnh khác khi xảy ra trong động mạch tim. Một nghiên cứu mới, công bố ngày 05.30.06 trên tập san Circulation tìm thấy có sự khác biệt giữa bệnh động mạch ngoại vi ở động mạch lớn và động mạch nhỏ.
Điều thú vị ở đây là nếu chúng ta nhìn riêng rẻ động mạch nhỏ và động mạch lớn, theo lời một giáo sư y khoa đại học UC San Diego. Nguy cơ động mạch nhỏ hoàn toàn liên quan đến bệnh tiểu đường, trong khi có nhiều điều tác động lên động mạch lớn.
Hai loại bệnh động mạch ngoại vi có triệu chứng khác nhau. Có người khi động mạch lớn ở chân bị tác động thường thấy đau thắt ở xương đùi, bắp đùi hay bắp chân và cảm thấy dễ chịu sau khi nghỉ ngơi vài phút. Bệnh động mạch ngoại vi động mạch nhỏ làm cho bàn chân có cảm giác lạnh khi đụng vào và lành chậm sau khi phẩu thuật. Những trường hợp hết sức trầm trọng có thể chấm dứt với cắt bỏ chân.
Criqui và đồng tác giả bs Victor Aboyans, một chuyên gia tim của đại học Dupuytren Ở Limoges Pháp, là người tham gia nghiên cứu như khách mời tại San Diego, đánh giá 403 người nam nữ bị bệnh động mạch ngoại vi mạch máu lớn và 290 người mạch máu nhỏ. Các nhà nghiên cứu đo khi bắt đầu nghiên cứu và 4.6 năm sau đó.
Họ so sánh huyết áp đọc trên cánh tay với huyết áp ở mắt cá và ngón chân. Huyết áp ở mắt cá < 90% huyết áp cánh tay và ở ngón chân < 70% huyết áp cánh tay là chỉ dấu bệnh động mạch ngoại vi. Sau đó các nhà nghiên cứu kết hợp với những yếu tố nguy hiểm như bệnh tiểu đường, cao huyết áp, hút thuốc và mức cholesterol huyết.
Với bệnh động mạch ngoại vi ở mạch máu nhỏ, chỉ dấu đoán trước duy nhất về suy thoái là bệnh tiểu đường, theo các nhà nghiên cứu. Từ đó gợi ý kiểm soát chặt bệnh tiểu đường có thể ngừa sự tiến triển bệnh động mạch ngoại vi ở mạch máu nhỏ, theo Criqui. Điều này đúng với mạch máu nhỏ ở mắt, và có thể đúng với những nơi khác.
Với bệnh động mạch ngoại vi mạch máu lớn, chỉ dấu hư hại đáng kể nhất là hút thuốc. Người hút thuốc bị hư hại gấp 3.2 lần người không hút thuốc. Chỉ dấu chính khác là cao cholesterol huyết. Uống rượu nhiều ( mỗi tuần hơn 21 ly) và cao huyết áp là những chỉ dấu kề cận suy thoái, theo các nhà nghiên cứu.
Kết quả đáng ngạc nhiên nhất là bệnh tiểu đường không ảnh hưởng lên tiến triển bệnh động mạch ngoại vi mạch máu lớn. Nghiên cứu này nhắc nhở các bác sĩ đo huyết áp ở mắt cá và ngón chân, đặc biệt với người bị bệnh tiểu đường. Kết quả cũng củng cố bảng hướng dẫn điều trị bệnh động mạch ngoại vi, cần thuốc chống tiểu cầu và statin hạ cholesterol. Thuốc chống tiểu cầu như aspirin cũng như statin có ích cho bệnh nhân bệnh động mạch ngoại vi.
Theo Circulation 05.30.06
Insulin có thể tăng huyết áp
Một số người bệnh tiểu đường tip 2 cần tiêm insulin và có thể gia tăng nguy cơ cao huyết áp, theo một nghiên cứu ở Đài-loan. Bệnh tiểu đường tip 2 sinh ra không phải vì tụy tạng không thể tạo insulin, nhưng do cơ thể chống lại tác dụng điều hòa glucose của insulin. Tuy nhiên, một số người bệnh này cần tiêm thêm insulin để kiểm soát đề kháng.
Dùng dữ liệu hồ sơ bảo hiểm sức khỏe quốc gia, bác sĩ Chin-Hsiao Tseng bệnh viện đại học quốc gia Đài-bắc nhận ra 87 850 người lớn bệnh tiểu đường tip 2, kể cả 5 927 người dùng insulin.
So với những người không tiêm insulin, cơ hội sinh huyết áp cao là 14% cao hơn ở người dùng insulin ít hơn 5 năm. Nguy cơ tăng lên 35% ở người dùng insulin 5 đến 9 năm và 46% ³ 10 năm. Lý do có thể do cơ thể tiếp xúc với liều cao insulin cứ lặp đi lặp lại nhiều lần. Insulin dư thừa này gây hiệu quả xấu cho hệ mạch máu, đưa đến cao huyêt áp.
Theo Archives of Internal Medicine, June 12, 2006.
Uống cà-phê có thể giảm nguy cơ bệnh tiểu đường
Trong một nghiên cứu 11 năm, người ta thấy phụ nữ uống nhiều cà-phê giảm nguy cơ sinh bệnh tiểu đường. Nhưng do các chất chống oxýt hóa chứ không phải cafein tạo ra kết quả này. Những người uống cà-phê đã loại bỏ cafein giảm nguy cơ nhiều hơn.
Bác sĩ Mark A. Pereira, trưởng nhóm nghiên cứu, phó giáo sư dịch bệnh học và sức khỏe công đồng đại học Minnesota bảo trong nghiên cứu này, cafein không can dự vào việc giảm nguy cơ tiểu đường.Nhóm của ông thu thập dữ liệu gần 29 ngàn phụ nữ cao tuổi đã trả lời câu hỏi về những yếu tố nguy hại cho bệnh tiểu đường như tuổi tác, chỉ số thể trọng, hoạt động thể lực và hút thuốc. Họ cũng cho biết thức uống nào thường dùng kể cả cà-phê có cafein hay không.
Điều chỉnh các yếu tố nguy cơ trên, các nhà nghiên cứu tìm thấy phụ nữ uống nhiều hơn 6 tách cà-phê mỗi ngày bất kể loại cà-phê nào ít sinh bệnh tiểu đường típ 22% so với người lớn không uống cà-phê. Nhưng nguy cơ bệnh tiểu đường còn tụt xa hơn nữa cho những ai uống 6 tách cà-phê không có cafein.
Bác sĩ Pereira chỉ ra là cà-phê có nhiều hoạt chất, gồm cà hóa chất chống oxyt hóa mạnh tương tự như dâu và quả nho. Khi uống 4 năm tách một ngày hay hơn nữa, bạn có thể có hoạt động chống oxyt hóa rất mạnh, ông bảo. Điều này có thể bảo vệ cho tế bào beta của tụy tạng không bị hư hại vì oxyt hóa tế bào beta sinh insulin. Bệnh tiểu đường tip 2 xảy ra khi cơ thể từ từ mất dần khả năng sinh insulin.
Báo cáo nghiên cứu không có gì ngạc nhiên, theo lời Rob van Dam, một nhà khoa học nghiên cứu tại đại học y tế công cọng Harvard. Ông là thành viên của nhóm nghiên cứu Hòa-lan lần đầu tiên báo cáo tác dụng bảo vệ của cà-phê năm 2002. Nhiều nghiên cứu khác, kể cả nghiên cứu tại đại học y tế công cọng Harvard, đã hổ trợ cho những điều tìm thấy ban đầu. Van Dam bảo nhóm của ông thấy tác dụng của cà-phê không có cafein. Nhiều người nghĩ tác dụng bảo vệ do cafein, nhưng cà-phê là một hợp chất rất phức tạp.
Một thành phần của cà-phê đã gây chú ý của Van Dam là acid chlorogenic có vẻ làm chậm lại tiến trình tế bào hấp thụ đường. Nghiên cứu ở chuột lớn tìm thấy phân tử làm hạ mức đường trong máu.Một lý do khác hy vọng acid chlorogenic có ích, chất này có nhiều trong rượu chát đỏ và chocolat.
Nghiên cứu này được tài trợ bởi viện ung thư quốc gia Hoa-kỳ.
Theo Annals of Internal medicine 06/26/06
Thể dục có lợi cho bệnh nhân trẻ tiểu đường loại I
Những nghiên cứu trước đây đã đưa ra những kết quả đối chọi nhau về hoạt động thể lực ảnh hưởng kiểm soát mức đường như thế nào ở người bệnh đái tháo đường tip 1. Thật ra, một số nhà nghiên cứu chú ý thể dục có thể tăng nguy cơ giảm đường quá mức ở những bệnh nhân này. Ðể quan sát vấn đề kỹ hơn, các nhà nghiên cứu Đức và Áo đánh giá 19 143 bệnh nhân ( tuổi trong khoảng 3-20) đái tháo đường tip 1. Những phương thức kiểm soát chuyển hóa được thu thập ở những lần khám đều đặn, và báo cáo thể dục thường xuyên do bệnh nhân hay phụ huynh.
Sau khi điều chỉnh tuổi tác, phái tính và liều insulin, liên quan nghịch đáng kể thấy được giữa hoạt động thể lực và hemoglobin A1C. Mức HbA1C thấp hơn 30% ở bệnh nhân có tập thể dục mỗi tuần 1 hay 2 lần, so với những người không hoạt động tý nào, và hạ thêm 37% ở những người tập thể dục ít nhất 3 lần mỗi tuần. Tần số tập thể dục không tỷ lệ với tần số đường hạ thấp ( không đánh giá trường hợp đường hạ thấp nhẹ). So với những người không hoạt động, các nam thanh thiếu niên hoạt động (tuổi ³ 19) giảm đáng kể liều insulin cần thiết, và các thiếu nữ hoạt động giảm đáng kể khối lượng cơ thể (body mass index).
Khám phá trên gợi ý tập thể dục đều đặn cải thiện kiểm soát mức đường trong máu ở trẻ em và vị thành niên bệnh đái tháo đường tip 1 mà không tăng cao nguy cơ giảm đường thái quá. Do đó nên khuyên bệnh nhân tập thể dục
Theo Herbst A et al. Effects of regular physical activity on control of glycemiain pediatric patients with type 1 diabetes mellitus. Arch Pediatr Adolesc Med 2006 Jun; 160:573-7.
Huyết áp và tử suất của những người quá già.
Huyết áp có liên quan đến tử suất ở những người quá già hay không vẫn chưa được rõ-ràng. Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu ghi lại huyết áp của gần hầu hết những bệnh nhân quá già trong viện điều dưỡng (85tuổi) tại một thành phố ở Phần-lan và theo dõi trong vòng 9 năm. Huyết áp ban đầu 149/82 mm Hg, huyết áp tâm thu >160 mmHg ở 355 người tham dự
Trong số 521 người tham dự, 87% chết trong khi theo dõi. Trong một phân tích đa biến được điều chỉnh với nhiều đặc tính lâm sàng (gồm bệnh tim mạch, ung thư, đái tháo đường, trước kia đã chẩn đoán cao huyết áp và dùng thuốc trị cao huyết áp, bệnh nhân có huyết áp tâm thu BP<140 mmHg tăng nguy cơ tử vong đáng kể (tỷ số nguy cơ 1.35) so với bệnh nhân (mức chuẩn) có huyết áp tâm thu 140-159 mm Hg. Trái lại, những người có huyết áp tâm thu 160 mm Hg không có nguy cơ tử vong cao hơn (tỷ số nguy cơ 0.97).
Đây là điều ngạc nhiên và nên có nghiên cứu kỹ hơn, vì thông thường ai cũng nghĩ huyết áp thấp sẽ bảo vệ tim mạch tốt hơn, như vậy tại sao tử suất lại cao hơn. Chúng ta cũng không biết những bệnh nhân này đang dùng thuốc gì trong khi theo dõi.
Theo Rastas S et al. Association between blood pressure and survival over 9 years in a general population aged 85 and older. J Am Geriatr Soc 2006 Jun;54:912-8.
Nghiên cứu meta cho thấy statin giảm huyết áp
Statin có liên quan đến lợi ích cho bệnh cao huyết áp vì tác dụng lên chức năng nội mô, tương tác với hệ renin-angiotensin và ảnh hưởng lên hoạt động của động mạch lớn. Trong một phân tích dữ liệu lâm sàng trình bày tại hội nghị bệnh cao huyết áp ở Âu châu, các nhà nghiên cứu âu châu cho thấy điều trị statin có giảm huyết áp không nhiều, nhưng có ý nghĩa thống kê nhất là với huyết áp tâm thu.
Pasquale Strazzullo,đại học y khoa Naples ở ý báo cáo kết quả phân tích meta thực hiện với các đồng nghiệp tại đại học Luân-đôn và đại học Warwick ở vương quốc Anh, về tất cả những nghiên cứu báo cáo dữ liệu huyết áp trong khi điều trị bằng statin. 20 nghiên cứu ngẫu nhiên có kiểm chứng trong phân tích meta đều đã được công bố tại Anh cho đến năm 2005. Mỗi nghiên cứu báo cáo một con số với những biến số đã định trước, gồm trị số huyết áp khi bắt đầu và chấm dứt nghiên cứu, và theo protocol của phân tích meta, bệnh nhân dùng đồng thời thuốc hạ huyết áp phải ở trong một chế độ thuốc cố định trong suốt thời gian nghiên cứu.18 nghiên cứu kiểm chứng bằng giả dược,1 so sánh statin với probucol, 1 so sánh statin + orlistat với một mình orlistat. Statin trong nghiên cứu gồm pravastatin ( 8 nghiên cứu) simvastatin ( 6 nghiên cứu) fluvastatin ( 3 nghiên cứu) atorvastatin ( 2 nghiên cứu) và lovastatin ( 1 nghiên cứu). Trong 18 nghiên cứu, bệnh nhân cao cholesterol và trong 11 nghiên cứu bệnh nhân cao huyết áp. Tổng cọng có 889 người tham dự và thời gian nghiên cứu từ 4 tuần đến 1 năm.
Trong 14 nghiên cứu, huyết áp tâm thu thấp hơn ở bệnh nhân dùng statin so với giả dược hay thuốc kiểm chứng. Nói chung, huyết áp tâm thu thấp trung bình 1.9 mm Hg ( -3.8 đến 1.0), gần đạt đến mức có ý nghĩa thống kê. Huyết áp tâm trương thấp hơn ở nhóm dùng statin so với kiểm chứng trong 14 nghiên cứu. Ở 3 trong 14 nghiên cứu này, khác biệt có ý nghĩa thống kê, nhưng nhìn chung, tác dụng trên huyết áp tâm trương không đáng kể. Huyết áp cao ở mức căn bản có vẻ là chỉ dấu tiên đoán hiệu nghiệm hạ huyết áp bằng điều trị statin (p=0.06 cho huyết áp tâm thu và p=0.02 cho huyết áp tâm trương).
Tác dụng lớn hơn của statin trên huyết áp tâm thu thấy rõ khi phân tích giới hạn nghiên cứu những người huyết áp tâm thu > 130 mm Hg, giảm 4.0 mm Hg tức là đáng kể trên mặt thống kê. Giới hạn nghiên cứu với huyết áp tâm trương trung bình > 80 mm Hg cũng thấy giảm đáng kể 1.2 mm Hg khi dùng statin. Tác dụng của statin có vẻ mạnh hơn trong 4 nghiên cứu bệnh nhân đái tháo đường, giảm trung bình 6 mm Hg huyết áp tâm thu và 3 mm Hg huyết áp tâm trương. Không một liên hệ đáng kể tìm được giữa huyết áp đáp ứng với statin và tuổi tác, tình trạng đái tháo đường, thay đổi cholesterol huyết thanh do điều trị hay dùng đồng thời thuốc trị cao huyết áp. Giáo sư Strazzullo gợi ý một cơ chế tác dụng khi bệnh nhân bị rối loạn nhiều chức năng nội bào thì đáp ứng hạ huyết áp với statin sẽ mạnh hơn.
Nguồn thông tin: Strazzullo P et al.Blood pressure reduction with statin: a meta-analysis of randomized controlled trials. J. Hypertension 2006;24(suppl. 4)
Statin có giảm nguy cơ xuất huyết dạ dày ruột ở bệnh nhân có hội chứng cấp động mạch vành không?(ACS: Acute coronary syndromes)
Statin tăng mức prostaglandin ở tim, đưa lên câu hỏi điều trị bằng statin có tăng prostaglandin toàn thân không, và có bảo vệ màng nhầy dạ dày khỏi bị chảy máu không?
Trong một phân tích hồi cứu từ nghiên cứu TIMI-16, bệnh nhân (tất cả đều uống aspirin hàng ngày) dùng bất cứ dạng thuốc nào hạ lipid, hầu hết là statin, trước khi những người này phải nhập viện vì hội chứng cấp động mạch vành, có tỷ lệ xuất huyết dạ dày ruột thấp hơn đáng kể so với những người không dùng statin (0.2% so với 0.6%). Tỷ lệ thấp xuất huyết dạ dày vẫn duy trì đến tháng thứ 10 ở những bệnh nhân xuất viện đang dùng statin (1% so với 1.8%). Khác biệt tương đối về tỷ số được giới hạn cho bệnh nhân trong thử nghiệm TIMI. Những người dùng orbofiban ( thuốc uống glycoprotein ức chế IIb/III a: 1.4 % so với 2.4%) hay những người dùng giả dược (0.2 % so với 2.4%). Trong nghiên cứu đa biến số, dùng statin khi xuất viện liên quan đến giảm thấp đáng kể xuất huyết ruột.
Kết quả nghiên cứu này gợi ý statin có thể có lợi cho dạ dày ruột cũng như cho tim. Những bệnh nhân có hội chứng cấp động mạch vành thường được điều trị bằng thuốc chống tiểu cầu thuốc chống đông máu hay cả hai. Cần có thêm nghiên cứu lớn hơn để hiểu rõ vấn đề này.
Theo Atar S et al. Statins are associated with lower risk of gastro-intestinal bleeding in patients with unstable coronary syndromes: Analysis of the Orbofiban in Patients with Unstable coronary Syndromes-Thrombolysis In Myocardial Infarction 16 (OPUS-TIMI 16) trial. Am Heart J 2006 May; 151:976.e1-6.
An toàn khi phơi nhiễm với thuốc chống men chuyển trong thời kỳ có bầu quý I:
Thuốc chống men chuyển chống chỉ định trong quý II và III khi có bầu vì làm tăng nguy cơ nhiều dạng thai bị dị tật. Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu dùng dữ liệu chương trình Medicaid ở tiểu bang Tennessee để xem thử thuốc chống men chuyển có an toàn không ở quý I mang thai.
Các nhà nghiên cứu nhận ra khoảng 30 000 sinh đẻ trong số những bà mẹ không bị tiểu đường giữa năm 1985 và 2000. Trong quý I, thuốc chống men chuyển được kê đơn cho 209 bà mẹ, bà thuốc trị cao huyết áp khác dùng cho 202 bà mẹ khác, và 29 o96 bà mẹ không được kê đơn trị cao huyết áp. Dị tật bẩm sinh xảy ra ở 7.1% em bé có tiếp xúc với thuốc chống men chuyển trong quý I, 1.7% em bé có tiếp xúc với thuốc trị cao huyết áp khác, và 2.6% em bé không tiếp xúc với thuốc trị cao huyết áp. Sau khi điều chỉnh những yếu tố gây lẫn lộn, nguy cơ sinh dị tật bẩm sinh chính khi tiếp xúc với thuốc chống men chuyển trong quý I tăng đáng kể so với trường hợp không phơi nhiễm với thuốc ( tỷ số nguy cơ 2.7). Di tật tim mạch chiếm nửa số dị tật.
Những kết quả trên nêu quan ngại khi phụ nữ có bầu dùng thuốc chống men chuyển trong quý I. Bác sĩ có nên tránh dùng thuốc chống men chuyển cho phụ nữ ở tuổi thụ thai, vì nhiều trường hợp mang thai ngoài kế hoạch.
Một ghi chú của ban biên tập nêu một số thuốc trị cao huyết áp như thiazide, nhiều thuốc beta-blocker, nifedipin được xếp vào loại không sinh quái thai. Tuy nhiên, chỉ có methyldopa được xem là an toàn trong thời kỳ mang thai.
Theo Cooper WO et al. Major congenital malformations after first-trimester exposure to ACE inhibitors. N Engl J Med 2006 Jun 8; 354:2443-51. Friedman JM. ACE inhibitors and congenital anomalies. N Engl J Med 2006 Jun8; 354:2498-500.
Quan sát bệnh nhân sau khi đổi kháng sinh từ dạng tiêm sang dạng uống:
Mỗi năm khoảng 500 ngàn người Mỹ nhập viện vì viêm phổi mắc ở cộng đồng, và những bệnh nhân này thường được theo dõi thêm 24 giờ nữa sau khi đổi kháng sinh từ dạng chuyền tĩnh mạch sang dạng uống. Các nhà nghiên cứu xem việc theo dõi này có cần thiết không trong số những bệnh nhân viêm phổi không biến chứng.
Trong một nghiên cứu hồi cứu tại dự án viêm phổi của chương trình medicare bảo hiểm sức khỏe cho người già, các nhà nghiên cứu đánh giá dữ liệu 2536 bệnh nhân xuất viện mà không cần theo dõi thêm và 2712 bệnh nhân được theo dõi thêm 1 ngày nữa sau khi đổi qua thuốc uống. Những ca phức tạp(thí dụ bệnh nhân dùng hơn 1 thuốc kháng sinh tiêm mạch, ở lại bệnh viện hơn 1 ngày sau khi chuyển kháng sinh qua dạng uống, hay nằm bệnh viện hơn 7 ngày) đều bị loại ra khỏi nghiên cứu. Tỷ số trường hợp tái nhập viện sau 14 ngày giống nhau ở 2 nhóm( 7.8% so với 7.2%); tử suất trong vòng 30 ngày cũng tương tự ( 5.1% và 4.4%).
Những kết quả này phù hợp với những nghiên cứu nhỏ đã đặt vấn đề có cần theo dõi thêm 24 giờ nữa không sau khi chuyển qua kháng sinh uống. Nhiều bác sĩ đã cho bệnh nhân xuất viện ngay sau liều cuối kháng sinh nếu bệnh nhân ổn định lâm sàng.
Theo Nathan RV et al. In-hospital observation after antibiotic switch in pneumonia:
A national evaluation. Am J Med 2006 Jun; 119:512-8.


Ds Lê Văn Nhân
 

Copyright, 2007. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Tin Mới Y Học