 |
Truy
Tầm Ung Thư Vú Phụ Nữ Qua Nước Bọt (Nước Miếng)
Trần Mạnh Ngô, M.D.
Hai bác sĩ nha khoa Sebastian Z. Paige và Charles F. Streckfus
vừa tường trình trong báo General Dentistry, tháng March-April, 2007,
phương pháp thử nghiệm nước bọt (nước miếng) để truy tầm ung thư vú phụ
nữ.
Đặc biệt truy tầm bạch đản trong nước bọt liên hệ ung thư vú. Phương pháp
chưa được FDA cho phép nhưng theo các tác giả thì thử nghiệm tương đối
an toàn, không cần dùng kim chích vào u bướu làm sinh thiết.
Nhiều nghiên cứu nước bọt truy tầm ung thư vú phụ nữ đã được đề cập do
nhiều tác giả như SD Green, CF Strecfus, v…v… thuộc Đại Học Houston, Texas.
Đặc biệt dấu ấn sinh học bạch đản c-erbB-2 trong nước bọt. Dấu ấn Her2/neu,
c-erbB-2 thường thấy ngoài mặt tế bào ung thư vú.
Kỹ thuật mới còn có thể phân tích những phân tử khác trong nước bọt như
mRNAs.
Bs Beverly Ạ Sullivan thuộc Đại Học Wyoming cũng đang nghiên cứu và khuyến
cáo dấu ấn sinh học HER-2 trong nước bọt có thể truy tầm ung thư vú phụ
nữ sớm hơn là cách chụp hình mammogram. Tác giả dùng kỹ thuật Surface
Plasmon Resonance Spectroscopy để truy tầm HER-2. Về tính chất nhạy cảm
của kỹ thuật có thể giúp truy tầm liều lượng cực nhỏ HER-2 trong nước
bọt.
Gs David T. Wong thuộc Đại Học Nha Khoa UCLA cũng đã nghiên cứu dấu ấn
sinh học mRNA trong nước bọt tiên đoán tế bào ung thư squamous cell carcinoma
trong mồm miệng và ung thư vú.
Nói chung, kết quả những nghiên cứu kể trên giới thiệu một phương pháp
mơí thử nghiệm truy tầm ung thư vú. Hy vọng trong tương lai, thử nghiệm
này có thể phối hợp với những phương pháp thường dùng như chụp hình quang
tuyến mammogram hay siêu âm vú trong việc định bệnh ung thư vú phụ nữ.
References:
1) Academy of General Dentistry, March-April, 2007.
2) Clinical Cancer Research, 2005.
3) The Susan G. Komen Breast Cancer Foundation, 2006.
4) SD Green. The Houston Chronicle, 2006.
5) CF Streckfus et al., J Oral Pathol Med, 35: 292, 2006
Trần Mạnh Ngô, M.D.
Chủng Ngừa Ung Thư Vú (Một
Nghiên Cứu Liên Hệ HER2)
Bs George Peoples Jr. tại Trung Tâm Walter Reed Army Medical Center thử
nghiệm thuốc chủng cho 14 bệnh nhân bị ung thư vú. Tất cả mọi bệnh nhân
đã từng được điều trị ung thư vú trước đó theo phương pháp thông thường
và đều đã bị ung thư lan sang các hạch bạch huyết. Tất cả bệnh nhân chưa
có triệu chứng gì trong lúc chủng thuốc thử nghiệm. Thuốc chủng dùng ở
Walter Reed tương đối an toàn và không gây công phạt. Trong số 20 bệnh
nhân thử nghiệm thì có 2 bệnh nhân bị tái phát ung thư và thử máu thấy
miễn nhiễm còn yếu. Bốn (4) bệnh nhân khác không chích thuốc chủng cũng
bị ung thư vú tái phát. Ung thư vú tái phát nhanh hơn trong nhóm bệnh
nhân không chích thốc chủng, trong khoảng 5 tháng.
Nhóm chích thuốc chủng tái phát trung bình khoảng 10 tháng
sau. Bệnh nhân chủng thuốc hàng tháng liên tục trong một năm rưỡi.
Mục đích của thuốc chủng là kích thích tăng trưởng bạch
đản (protein) tên là HER2/neu nằm ngoài màng tế bào lành mạnh. Khoảng
30% phụ nữ bị ung thư vú có rất nhiều HER2/neu nằm ngoài màng tế bào.
Bình thường thì tế bào ung thư tiếp tục tăng trưởng vì không nhân ra được
HER2/neu. Thuốc chủng giúp phân tán nhỏ HER2/neu do đó giúp hệ thống miễn
nhiễm của cơ thể chống cự được ung thư.
Bs Mary Disis tại Đại Học Washington cũng đạt được kết
quả tương tự khi dùng thuốc chủng HER2/neu cho bệnh nhân ung thư vú và
cho biết hệ thống miễn nhiễm của bệnh nhân có thể kéo dài tới 5-6 năm.
Kết quả nghiên cứu của nhóm Walter Reed đã được trình bày
trong cuộc hội thảo tại American College of Surgeons ở Chicago, 21 October
2003.
Trần Mạnh Ngô, M.D.
>>>back>>>
|
 |