Thời Sự Y Học số 99
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ MARIA MONTESSORI (1870-1952), NGƯỜI THẦY THUỐC NỮ ĐẦU TIÊN CỦA Ý
Tên Montessori trước hết gợi ý một phương pháp sư phạm, mặc dầu bị tranh cãi và chỉ trích, nhưng đến nay vẫn còn được sử dựng trên thế giới. Người đàn bà hiện nay được biết như là một chuyên gia về sư phạm nhi đồng, thế mà trong thời trẻ đã từ chối trở thành nhà giáo, chống lại ý kiến của cha mình và đã là người phụ nữ Ý đầu tiên có được mảnh bằng bác sĩ
MỘT THIẾU NỮ GIA ĐÌNH DANH GIÁ ĐƯỢC GIÁO DỤC THEO TRUYỀN THỐNG
Maria Montessori sinh ở Chiaravalle, tỉnh Ancone ngày 31 tháng 8 năm 1870, trong một nước Ý đang trong giai đoạn cuối của quá trình thống nhất với nhiều vấn đề chính trị và xã hội được đặt ra : sự phân chia giữa Nhà Thờ và Nhà nước, yêu sách cải thiện điều kiện làm việc của giới lao động, nạn mù chữ, sự biến đổi vai trò của những người phụ nữ và những điều kiện sống của các gia đình theo sau sự công nghiệp hóa và việc tuyển dụng các phụ nữ vào làm trong các nhà máy. Một cuộc cải cách sâu rộng các cấu trúc của xã hội đang diễn biến.
Maria được dạy dỗ một cách nghiêm khắc và kiên quyết như mọi thiếu nữ của giai cấp tư sản trung lưu ở Ý. Cha của Maria, cựu quân nhân đã từng chiến đấu trong những chiến trận đầu tiên ở Risorgimento, là một người đàn ông lạnh lùng và xa cách và mặc dầu chủ xướng những tư tưởng tự do phóng khoáng, như phần lớn những người đàn ông cùng thời, nhưng ông vẫn cho rằng thiên chức của người phụ nữ là làm vợ và làm mẹ. Ông chấp nhận rằng các phụ nữ có thể được học hành nhưng trong một lãnh vực mà họ có thể thể hiện những khuynh hướng làm mẹ của mình, có nghĩa là trong ngành giảng dạy. Mẹ cô, Renilde, có thể được định nghĩa như là một người đàn bà trong thời kỳ quá độ (une femme de transition) : mặc dầu chính bà sống một cách truyền thống, hết lòng phục vụ gia đình và các con, nhưng bà không do dự khuyến khích và hổ trợ con gái mình trên bước đường đoạn tuyệt với các truyền thống. Renilde là một phụ nữ có học thức, cháu gái của một nhà sinh học nổi tiếng, Tu viện trưởng Stopano, và chủ xướng những tư tưởng tự do. Bà luôn luôn ủng hộ con gái mình, có lẽ bà muốn chiếu rọi lên con bà những khát vọng âm thầm mà bà đã không bao giờ có thể thực hiện được.
LÀM NỮ SINH VIÊN Y KHOA VÀO THẾ KỶ THỨ XIX SAO MÀ KHÓ QUÁ !
Marie biểu lộ những thiên khiếu về toán học và chọn học môn toán lý khi theo học trung học. Quyết định này không làm bố hài lòng nhưng Maria năn nỉ và nhờ sự ủng hộ của mẹ nên cuối cùng được chấp thuận. Mặc dầu thi đậu xuất sắc trong các nghành đã được lựa chọn, nhưng sau đó cô lại quyết định muốn trở thành thầy thuốc. Động cơ của cô là gì ? Động cơ này xuất phát từ cuộc gặp gỡ với một người ăn xin, mang một đứa bé bệnh hoạn trong tay, điều này làm cho Maria ý thức về sự cần thiết phải học những nghành khoa học có thể giải quyết những vấn đề của con người.
Quyết định này không được sự tán đồng của bố và gieo mối bất hòa trong gia đình. Sự chống đối việc dạy dỗ các phụ nữ có nguồn gốc trong những dè dặt xuất phát từ đạo đức hơn là trong những cấm đoán của luật pháp. Luật pháp hiện hành không thật sự cấm đoán phụ nữ theo học cao đẳng và đại học, không phải do tinh thần rộng mở, nhưng bởi vì dầu sao, các gia đình cũng thận trọng và không ghi tên các con gái mình trong một ngôi trường có con trai theo học. Những tư tưởng đổi mới giải phóng các phụ nữ qua việc học vấn, chống lại những tư tưởng bảo thủ và truyền thống, theo đó phụ nữ , “ thiên thần của hộ gia đình ” , thấp kém về trí tuệ, yếu ớt về thể lực, cần được bảo vệ … cũng có sự lo ngại về các nguy cơ chung đụng với con trai. Trong bối cảnh này, mặc dầu việc các phụ nữ vào học Y Khoa đã được cho phép một cách hợp pháp từ năm 1875, nhưng đơn ghi danh của Maria vẫn bị từ chối. Chỉ vào năm 1893, sau khi đã theo học và lấy được chứng chỉ cử nhân khoa học tự nhiên, Maria sau cùng mới có thể bắt đầu theo học y khoa trong một bối cảnh thù địch từ phía các sinh viên nam, không ngừng gièm pha và diễu cợt cô. Ông khoa trưởng đã cho Maria một bài học đích đáng : cô chỉ được phép vào trong các giảng đường sau tất cả mọi người, cùng lúc với các giáo sư và phải giữ một thái độ dè dặt ! Mặt khác cô phải một mình trơ trọi trong phòng phẫu tích, bởi vì sự việc một thiếu nữ học cơ thể con người cùng lúc với các thanh niên là điều không đúng đắn.
TU Y KHOA ĐẾN SƯ PHẠM
Maria nhận được văn bằng tốt nghiệp năm 1896 và như vậy trở thành người thầy thuốc nữ đầu tiên của nước Ý sau khi thống nhất. Sau đó bà được bổ nhiệm làm trợ lý cho bệnh viện tâm thần của đại học. Trong những bệnh viện này có những người lớn và trẻ em. Maria phục vụ chủ yếu các trẻ em bị những vấn đề về tâm thần và đi đến kết luận rằng điều trị những vấn đề tâm thần của các trẻ em bằng những phương pháp giáo dục là tốt hơn và có hiệu quả hơn là những điều trị bằng thuốc men. Ngoài những nghiên cứu về vấn đề này và để thực hiện chúng, bà đã đi du lịch tham quan ở Pháp và Anh, và bà cũng lấy được văn bằng triết học.
Con đường sự nghiệp của bà sau đó đặc biệt rất thỏa mãn. Bà xuất bản rất nhiều và phổ biến những tư tưởng sư phạm trên toàn thế giới. Bố của bà, mặc dầu không chia sẻ những tư tưởng của con gái mình, tuy vậy ông đã theo dõi một cách thán phục con đường sự nghiệp của con mình. Năm 1900, ông tặng Maria một tuyển tập tất cả các bài báo ở Ý cũng như ở nước ngoài có liên quan đến các hoạt động của bà.
Năm 1907, bà sáng lập Casa dei Bambini đầu tiên và bắt đầu một hoạt động giáo dục cho các trẻ em thuộc các gia đình thợ thuyền ở Rome. Năm 1929, bà sáng lập Associazione Montessori internazionale. Trong những năm 30, bà gặp phải sự không thấu hiểu và những khó khăn với chế độ phát xít bởi vì bà chống lại sự việc công trình và các phương pháp của bà bị biến thành công cụ phục vụ cho những mục đích chính trị. Những tác phẩm và hình ảnh của bà cũng bị đốt bởi các đảng viên quốc xã ở Berlin và Áo. Năm 1934, bà từ giã nuớc Ý. Trong đệ nhị thế chiến bà sống ở Ấn Độ rồi trở lại châu Âu năm 1946. Năm 1947, ở Ý, bà thành lập lại Opera Nazionale Montessori, vốn đã bị cấm đoán bởi nhà cầm quyền phát xít. Công trình này có mục đích phổ biến và cập nhật hóa phương pháp của bà. Bà mất năm 1952 ở Noordwijk, Hoà Lan. Về đời sống tư, Maria Montessori đã không cưới chồng nhưng đã có và đã nuôi nấng dạy dỗ một đứa con trai ngoài giá thú ; như vậy bà đã không do dự đặt mình bên lề của xã hội tư sản theo truyền thống lúc bấy giờ. Con trai bà và các cháu bà vẫn luôn luôn theo đuổi sự nghiệp của bà.
Gương mặt của Maria Montessori đã xuất hiện trên các tờ giấy bạc Ý 1000 lires trong những năm 90 trước khi đồng Euro xuất hiện, người thầy thuốc nữ đầu tiên của Ý cũng là người đầu tiên và duy nhất mà danh dự này đã dành cho. Là người phụ nữ xuất chúng, bà đã chống lại một cách tự nhiên, thông minh và với nhiều tinh thần phê phán, tất cả hệ thống áp bức con người : đấu tranh để giải phóng phụ nữ, đấu tranh để hội nhập trở lại những đứa bé “ có vấn đề ” và cũng đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít. Maria Montessori là một người phụ nữ vĩ đại, hoàn toàn xứng đáng với vinh dự đã dành cho bà.
2/ NHỒI MÁU CƠ TIM VÀ NHỮNG THAY ĐỔI NHIỆT ĐỘ
Những công trình nghiên cứu dịch tễ học của châu Âu từ lâu đã báo cáo rằng những tử vong do nhồi máu cơ tim là nhiều hơn vào mùa đông và rằng có một mối liên hệ giữa nhiệt độ bên ngoài và tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim.
Như là khi mức nhiệt kế giữa 26 và 28 độ C, thì tỷ lệ tử vong thấp. Chứng thực khác của công trình nghiên cứu : khi nhiệt độ hạ 1 độ, tỷ lệ tử vong do nhồi máu gia tăng hầu như 3% và lên đến 13% khi nhiệt độ hạ 10 độ ! Tại sao ? Đó là câu hỏi mà BS Alexandra Schneider, thuộc viện dịch tễ học của Munich đã khảo sát. Nhóm nghiên cứu của ông đã theo dõi hơn 1000 bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim, nhưng ổn định về lâm sàng, giữa tháng năm 2003 và tháng bảy 2004, trong 6 thành phố : Athènes, Augsbourg, Barcelone, Helsinski, Rome cà Stockholm. Kết quả : những chỉ dấu máu (marquers sanguins) của tình trạng viêm được gọi là “ đáp ứng với lạnh một cách sinh lý ”, càng gia tăng khi nhiệt độ càng hạ, điều này có thể đủ , nơi những bệnh nhân có nguy cơ, làm bất ổn định các mảng xơ mỡ (plaques d’athérome) trên các động mạch vành, đưa đến một loạt các biến cố, có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim. Như vậy, trên bình diện ngăn ngừa, sống trong những nước được chiếu đầy bởi ánh sáng mặt trời, sẽ có một ý nghĩa. (PARIS MATCH 18/9-24/9/2008)
3/ Ở CHÂU ÂU CỨ MỖI 30 GIÂY CÓ MỘT GÃY XƯƠNG HÁNG
Journée Mondiale de l’ Ostéoporose : Bệnh loãng xương (ostéoporose) ngày nay ảnh hưởng đến hàng triệu người trên thế giới và được công nhận là có một tầm tác động đáng kể lên tỷ lệ bệnh tật và tử vong. Tỷ lệ mắc bệnh và các phí tổn nảy sinh tiếp tục gia tăng là do sự lão hóa của dân số. Tình hình của bệnh loãng xương trong các nước Liên Hiệp châu Âu như thế nào?
Bệnh loãng xương là một bệnh không gây triệu chứng và thường không được phát hiện cho đến lúc các gãy xương xảy ra, điển hình là nơi cổ xương đùi (fracture du col fémoral). Khoảng 30% tất các các phụ nữ sau thời kỹ mãn kinh ở châu Âu bị chứng loãng xương và hơn 40% trong số những người này bị những gãy do loãng xương (fractures ostéoporotiques) trong suốt cuộc đời của họ. Căn bệnh này không chỉ ảnh hưởng lên các phụ nữ : từ 15% đến 30% đàn ông cũng bị một gãy do loãng xương. Ngay năm 2000, người ta đã tính được một tổng số 3,8 triệu gãy do loãng xương, trong đó 0,89 triệu là các gãy xương háng. Tỷ lệ gãy do loãng xương hàng năm được ước tính là 7,91/10.000 dân ở Pháp, 8,26 ở Tây Ban Nha, 12,93 ở Ý, 14,43 ở Anh và 18,17 ở Đức.
Về các gãy xương đốt sống (fractures vertébrales), chúng xảy ra nơi 10% đến 24% những đàn ông và phụ nữ trên 50 tuổi và tỷ lệ gia tăng rõ rệt với tuổi tác. Trong khi tỷ lệ gãy được ước tính từ 5 đến 10% trong lứa tuổi 50-54 tuổi, tỷ lệ này tăng lên 25% từ 75 tuổi trở đi .Và những con số này có lẽ bị đánh giá thấp vì các gãy xương đốt sống không được chẩn đoán trong 1/3 các trường hợp.
MỘT ẢNH HƯỞNG Ở MỌI MỨC ĐỘ
Những gãy do loãng xương làm giới hạn cử động của các bệnh nhân và khả năng thực hiện những công việc hàng ngày của họ. Sự đau đớn, mất khả năng làm việc, mất tính độc lập cũng ảnh hưởng lên tinh thần của những nạn nhân và làm giảm chất lượng sống của họ. Người ta thường ghi nhận những triệu chứng lo âu hay trầm cảm ; khoảng 40% những phụ nữ bị loãng xương bị mắc chứng trầm cảm, 58% có một cảm giác khó ở và 41% có một chất lượng sống bị thu giảm. Sự đau đớn hiện diện nơi 50% các phụ nữ ; 26% phát biểu chịu đau đớn hơn 10 giờ mỗi ngày.
Trên bình diện tỷ lệ tử vong, ở Châu Âu, 24% các phụ nữ và 33% đàn ông chết trong năm sau khi bị gãy xương háng. Trong số những người sống sót, khoảng 40% không có khả năng di chuyển một mình và 60% còn cần đến một sự giúp đỡ nào đó, hơn 1 năm sau khi bị gãy xương. Nguy cơ tử vong trong năm sau một gãy xương là 12,9 nơi phụ nữ 60 tuổi và 13,4 nơi đàn ông cùng lứa tuổi.
Một yếu tố khác góp phần làm gia tăng tỷ lệ tử vong là tần số xảy ra những biến cố tim mạch (các bệnh động mạch vành và tai biến mạch máu não) 4 lần cao hơn được quan sát trong nhóm các phụ nữ bị loãng xương so với nhóm placebo. Điều này khiến người ta nghĩ rằng chứng loãng xương được liên kết với một nguy cơ gia tăng mắc phải các bệnh tim mạch, tỷ lệ với độ nghiêm trọng và số các gãy xương và độc lập với tuổi tác và những yếu tố nguy cơ tim mạch khác.
Sau cùng trên bình diện kinh tế, những phí tổn trực tiếp liên quan với chứng loãng xương được ước tính ở châu Âu là 31,7 tỷ Euro, với một dự kiến 77 tỉ vào năm 2050, do sự lão hoá dân số. Chính những gãy xương háng là gây nên những phí tổn cao nhất do thời gian nhập viện kéo dài. Phí tổn nhập viện đã được ước tính là 20.000 euro ở Đức, 18.500 ở Anh, 6.500 ở Ý và 5.000 ở Tây Ban Nha. Ở châu Âu, phí tổn của điều trị trong năm đầu tiên sau một gãy xương háng được ước tính là 14,7 tỷ Euro. (LE JOURNAL DU MEDECIN 24/10/2008)
4/ CHỨNG TRẦM CẢM VÀ NGUY CƠ BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Chứng trầm cảm, nhất là khi bệnh này nghiêm trọng, làm gia tăng nguy cơ bị những rồi loạn tim mạch, là một sự kiện càng ngày càng được xác nhận.
Một nhóm các nhà nghiên cứu người Anh đã thực hiện một cuộc duyệt xét kỹ những dữ kiện liên quan đến hơn 20.000 bệnh nhân tham gia một công cuộc điều tra dịch tễ học rộng rãi. Lúc đọc các kết quả, người ta nhận xét rằng sự hiện diện của những tiền sử về bệnh trầm cảm hay một trầm cảm đang trong thời kỳ hoạt động nhưng ở mức độ trung bình, không ảnh hưởng đến nguy cơ mắc phải tai biến mạch máu não. Trái lại chứng trầm cảm càng trở nặng, thì nguy cơ bị tai biến mạch máu não càng bị gia tăng đáng kể. Do đó, điều quan trọng nơi những người bị trầm cảm nặng là cần theo dõi sát và điều trị tích cực mọi yếu tố nguy cơ tim mạch, cũng như phát hiện và điều trị một cách dự phòng và chủ động mọi nguy cơ trầm cảm hay lo âu. (LE GENERALISTE 16/10/2008)
5/ CHỨNG LOÃNG XƯƠNG : QUÁ NHIỀU XƯƠNG GÃY !
Giáo Sư Christian Roux, chủ tịch của nhóm nghiên cứu GRIO, báo động về sự khẩn thiết phải điều trị những phụ nữ mãn kinh đã bị một lần gãy xương đầu tiên.
Hỏi: Những con số nào cho thấy một vấn đề y tế thật sự được đặt ra bởi chứng loãng xương (ostéoporose).
G.S Christian Roux : Ở Pháp, nơi những phụ nữ mãn kinh, người ta ước tính 50.000 gãy cổ xương đùi (fracture du col fémoral) mỗi năm ; 50.000 gãy cổ tay (fracture du poignet) ; 80.000 đến 100.000 gãy đốt sống (fracture vertébrale). Những điều chứng thực này càng có tính chất báo động khi người ta dự kiến trong những năm sắp đến, có một sự gia tăng số những trường hợp gãy xương này vì lý do sự lão hóa của dân số.
Hỏi : Ông có thể giải thích những lý do của chứng loãng xương này ?
G.S C.R : Phải biết rằng lưới xương (trame osseuse) gồm có 3 loại tế bào : các tạo cốt bào (ostéoblaste) “ xây dựng ” xương, hủy cốt bào (osteoclaste) phá hủy xương, và các tế bào xương (ostéocytes) có tác dụng kiểm soát để duy trì sự cân bằng giữa các hiện tượng xây dựng và phá hủy xương này. Vào thời kỳ mãn kinh, với sự ngừng tiết các oestrogène bởi các buồng trứng, một sự bất quân bình xuất hiện (quan trọng ít hay nhiều tùy theo các phụ nữ) và những tế bào hủy hoại (cellules destructrices) thắng thế những tế bào khác, làm cho hệ xương dễ vỡ.
Hỏi : Tại sao, sau một gãy xương đầu tiên, 80% các phụ nữ này đã không đi thăm khám để được phát hiện chứng loãng xương ?
G.S C.R : Rất thông thường, các phụ nữ này đã không xác lập một mối liên hệ giữa gãy xương của họ với một bệnh loãng xương tiềm tàng. Mặc dầu chấn thương là không đáng kể đi nữa, các phụ nữ quy ngay việc gãy xương là do va chạm. Bởi vi chỗ gãy xương này sau đó cứng lại rất tốt, nên họ không cảm thấy một chút lo âu nào và nghĩ rằng họ đã lành bệnh trong khi đó chỉ là một dấu hiệu báo động về tính dễ vỡ của xương (fragilité osseuse) mà họ hiện đang có.
Hỏi : Làm sao chẩn đoán chứng loãng xương và điều trị như thế nào ?
G.S C.R : Cùng một mật độ xương (densité osseuse) và lứa tuổi như nhau, nhưng các phụ nữ mãn kinh, đã là nạn nhân của một lần gãy xương đầu tiên, có một nguy cơ bị những gãy xương khác lớn hơn nhiều so với những phụ nữ cho đến lúc đó chưa từng bị gãy xương. Sau một gãy xương đầu tiên nơi một phụ nữ ở tuổi mãn kinh, cần phải tìm kiếm những nguyên nhân (ngoài sự việc bị té ngã) bằng một loạt các thăm khám lâm sàng, sinh học, và một densitométrie (đo mật độ xương). Trong trường hợp bị loãng xương, một điều trị thích ứng cho phép làm giảm những nguy cơ tái phát. Hiện nay đang có sẵn để sử dụng, nhiều liệu pháp với những cách tác dụng khác nhau, mà mục đích là cải thiện độ cứng của hệ xương. Những điều trị này (trong nhiều năm) cần một sự theo dõi.
Hỏi : Những phụ nữ nào là có khuynh hướng phát triển chứng loãng xương nhất ?
G.S C.R : Những phụ nữ đã là nạn nhân của một lần gãy xương. Những phụ nữ mà cha mẹ họ đã bị những gãy do loãng xương (fractures ostéoporotiques). Những phụ nữ quá gầy. Những phụ nữ đã được điều trị hay đang được điều trị bởi cortisone một cách dài lâu. Những phụ nữ đã có một thời kỳ mãn kinh xảy ra sớm (ménopause précoce).
Hỏi : Đối với những phụ nữ có nguy cơ này, ông có khuyên một vệ sinh cuộc sống nào đó hay không ?
G.S C.R : Đảm bảo rằng những phụ nữ này có một nồng độ vitamine D tối ưu (được cung cấp chủ yếu bởi ánh sáng mặt trời nhưng đồng thời tôn trọng một vài điều thận trọng), đó là điều thiết yếu. Người ta cũng thường khuyên dùng những thức ăn giàu vitamine D cũng như cho dưới dạng bổ sung. Đồng thời, sự luyện tập thể dục, ví dụ đi dạo bộ mỗi ngày, cũng rất hữu ích để tăng cường hệ cơ.
Hỏi : Đối với những phụ nữ mãn kinh không có nguy cơ đặc biệt, ông có lời khuyên nào không ?
G.S C.R : Hãy bảo thầy thuốc gia đình của họ tìm những yếu tố nguy cơ gây gãy xương và, nếu một trong những yếu tố này hiện diện, thì họ cần phải được đo mật độ xương (densitométrie). (PARIS-MATCH 16/10- 22/10/2008)
6/ CHỨNG BÉO PHÌ BỤNG LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ BỊ SA SÚT TRÍ TUỆ
Quá dư thừa mỡ bụng, hoặc bụng có profil dạng quả táo (profil en forme de pomme), hơn là dạng quả lê (en forme de poire), sẽ thường được liên kết với chứng sa sút trí tuệ (démence) lúc cao tuổi, theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ. Mối liên hệ giữa chứng béo phì bụng (obésité abdominale) và một nguy cơ gia tăng bị chứng sa sút trí tuệ (démence) dường như độc lập với thể trọng toàn thể hay sự hiện diện của một bệnh đái đường hay một bệnh tim mạch. Thật vậy, những công trình nghiên cứu trước đây đã xác lập một mối liên hệ giữa sự thặng dư mỡ bụng và bệnh đái đường loại 2, các bệnh tim mạch và tai biến mạch máu não
Công trình nghiên cứu này, được thực hiện bởi Rachel Whitmer (Hoa Kỳ), chú ý đến trọng lượng cơ thể, vòng thân (tour de taille) và những yếu tố khác hiện diện nơi 6.583 người đàn ông và phụ nữ vốn đã tham gia vào công trình Kaiser Permanent Ledical Care Program ở Caroline du Nord. Sự tham gia này được bắt đầu từ 1964 đến 1973.
Sau 36 năm theo dõi, 1.040 người tham gia đã phát triển một chứng sa sút trí tuệ. Chứng bệnh này thường xảy ra hơn trong nhóm có chứng béo phì bụng rõ rệt nhất, ngay cả sau khi đã điều chỉnh về lứa tuổi, chủng tộc, trình độ học vấn, hộ tịch, sự kiện bị bệnh đái đường, nồng độ lipide cao trong máu, huyết áp cao và các bệnh lý tim mạch. Những người có chỉ số khối lượng cơ thể bình thường (BMA : body mass index) và có một thặng dư mỡ bụng có một nguy cơ 1,89 lần cao hơn những người có một BMA bình thường và một lượng mỡ bụng bình thường. Nguy cơ này cao nhất nơi những người bị béo phì với thặng dư mỡ bụng ( 3,6 lần cao hơn). (LE JOURNAL DU MEDECIN 17/10/2008)
7/ TÁI TẠO MỘT CHIẾC RĂNG BẰNG NHỮNG TẾ BÀO GỐC
Xét vì những kết quả dương tính trên chuột, các nhà nghiên cứu dự kiến sử dụng các tế bào gốc để sửa chữa ngà răng (dentine) và tủy răng bị hỏng hoặc chế tạo một “chiếc răng sinh học”. Tuy nhiên hy vọng này vẫn còn là một thách thức do tính chất phức tạp của cơ quan này. Trong hội nghị về “những tế bào gốc tủy răng” (les cellules souches pulpaires), vừa mới tổ chức mới đây ở Paris bởi Viện nghiên cứu răng của Pháp, người ta phát biểu rằng trong tương lai, chúng ta sẽ có khả năng chế tạo qua trung gian của những tế bào gốc, một chiếc răng hoàn toàn, còn sống, được phân bố mạch máu, và được nối bởi một dây thần kinh với hệ thần kinh trung ương. Khi đó, sự ra đời của chiếc răng sinh học (dent biologique) hẳn sẽ đưa vào viện bảo tàng các implant, bridges và những bộ răng khác đang được dùng hiện nay.
MỘT NƠI DỰ TRỮ LÝ TƯỞNG
Ngay năm 2003, một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ và Úc Đại Lợi đã khám phá trong tủy răng sữa bị đánh mất bởi các trẻ em từ 7 đến 8 tháng, sự hiện diện của những tế bào gốc, có khả năng biệt hóa, và cho ngoài những tế bào tủy, những tế bào thần kinh, xương hay mỡ. “Những chiếc răng sữa có thể tạo nên một kho dự trữ lý tưởng của những tế bào gốc để sửa chữa cấu trúc răng bị tổn hại hay để kích thích sự tái tạo xương, và có thể để điều trị một thương tổn nơ ron hay những bệnh thoái hóa”, những nhà nghiên vào thời kỳ đó đã viết như vậy. Theo họ những tế bào gốc phát xuất từ các chiếc răng sữa có một yếu tố tăng sinh ưu việt hơn những tế bào gốc được chứa trong những chiếc răng trưởng thành.
Với 20 răng sữa cho mỗi trẻ em, và từ 12 đến 20 tế bào gốc đối với mỗi răng sữa, khám phá này tạo nên một dự trữ quan trọng và để khai thác sử dụng.Tin chắc rằng mỗi một chúng ta mang trong hàm một kit comphet để tái sinh mô, mà sự sử dụng hoàn toàn miễn phí, giáo sư Minoru Ueda và nhóm nghiên cứu của đại học Nagoya đã thành lập năm ngoái một ngân hàng các tế bào gốc phát xuất từ các chiếc răng sữa.
KHÔNG NHỮNG RĂNG SỮA MÀ CẢ RĂNG CẤM
Các răng cấm cũng đầy hứa hẹn. Cũng như các răng sữa, các răng cấm là những cơ quan tăng trưởng, do đó không trưởng thành.Vì lẽ này, tủy răng của chúng chứa những tế bào gốc có khả năng tăng sinh cao, có thể được biệt hóa thành những tế bào gan, xương và ngay cả thần kinh, vừa làm cho các hormone khác nhau tác dụng lên chúng. Vào năm 2007, một nhóm những nhà nghiên cứu của Đại Học Osaka đã thành công biệt hóa những tế bào gốc, được lấy trên những chiếc rằng cấm của người, thành những tế bào gan. Những tế bào này sau đó được tiêm vào một chú chuột bị thiếu hụt, mà gan không có khả năng sản xuất albumine. Sự điều trị đã cho phép phục hồi chức năng sản xuất albumine trong 3 tuần.
Vào năm 2006, một nhóm nghiên cứu của Inserm đã cho thấy rằng các tế bào gốc của tủy xương, giống rất nhiều với những tế bào gốc của răng, có khả năng, sau khi biệt hóa, cho những tế bào có can dự trong sự cấu tạo men răng và ngà răng. (LE JOURNAL DU MEDECIN 3/10/2008)
8/ KHÁM PHÁ MỘT GENE LÀ NGUỒN GỐC CỦA BỆNH HÓI ĐẦU
Hai công trình nghiên cứu quốc tế độc lập đã tiết lộ rằng rụng tóc dần dần sau 45 tuổi được liên kết với một vùng nằm trên nhiễm sắc thể 20.
Trắc nghiệm di truyền (test génétique) để biết xem có bị nguy cơ trở thành hói đầu hay không dường như sẽ có thể thực hiện trong không còn bao xa nữa. Thật vậy, hai nghiên cứu di truyền, được công bố trong Nature Genetics tiết lộ rằng một gène nằm trên nhiễm sắc thể 20 rất có thể liên quan đến sự xuất hiện của chứng hói đầu (calvitie). Các nhà nghiên cứu quan tâm đến dạng hói đầu xảy ra từ từ và rất phổ biến mà người ta gọi là alopécie androgénique. Sự rụng tóc được thực hiện theo một “hình vẽ” luôn luôn như nhau, mở rộng vùng thái dương rồi tiến dần lên đỉnh sọ, hướng về phía sau.
Công trình nghiên cứu đầu tiên đã được thực hiện bởi một nhóm nghiên cứu của đại học McGill của Montréal, của King’s College của Luân Đôn, kết hợp với những nhà nghiên cứu của hãng dược phẩm GlaxoSmithKline. Các nhà khoa học của Thụy Sĩ, Island và Hoà Lan cũng tham gia vào công trình nghiên cứu. Họ đã xem xét cac gène của 1.125 người châu Âu bị chứng hói đầu và đã nhận thấy rằng sự rụng tóc này được liên kết với 2 vùng của nhiễm sắc thể 20. Điều này xác nhận mối liên hệ giữa một dạng nào đó của gène của nhiễm sắc thể 20 và sự rụng tóc dần dần. (LE FIGARO 13/10/2008)
9/ U XƠ TỬ CUNG (FIBROMYOMES)
Ở phụ nữ, các khối u hiền tính thường xảy ra nhất ở hố chậu là các u xơ tử cung (fibromyomes hay fibromes). Gần một nửa các thai nghén bắt đầu trong một tử cung u cơ (myomateux) và cuối cùng bị sẩy, và 50% các phụ nữ trên 50 tuổi và không ở tuổi mãn kinh có những u xơ tử cung.
Chữ u xơ (fibrome) phát xuất từ nguồn gốc sợi (fibreuse) của khối u khi nhìn bằng mắt trần, còn u cơ (myome) chỉ nguồn gốc cơ của khối u này. Nhưng sự chính xác mô học ưa thích thuật ngữ léiomyome (u của mô cơ trơn) hay fibromyome ( u cơ và sợi) hơn. Ở Hoa Kỳ, vô địch thế giới về cắt bỏ tử cung, cứ 3 phụ nữ có 1 phải chịu phẫu thuật này trước năm 60 tuổi và vì ly do bị u cơ trong gần 2/3 trường hợp. Trái lại, ở Châu Âu, cuộc đấu tranh để gìn giữ tử cung được phát động từ 20 năm nay. Ngoài phẫu thuật cổ điển cắt bỏ tử cung bằng đường bụng và bằng đường âm đạo đối với những tử cung bé nhỏ hơn, các kỹ thuật bảo tồn gia tăng để gìn giữ sự vẹn toàn vật lý của các phụ nữ, khả năng sinh đẻ của họ, cũng như để tránh tình trạng són đái sau mổ (cắt bỏ tử cung làm gia tăng nguy cơ bị són đái 5 đến 10%).
Các u cơ dưới thanh mạc (myomes sous-séreux), to lớn nhưng ít gây xuất huyết, hiếm khi làm khó chịu bệnh nhân. Những bệnh nhân này lo ngại hơn trong trường hợp u cơ dưới niêm mạc (myomes sous-muqueux), chịu trách nhiệm rong kinh dồi dào. Không có điều trị thuốc men nào làm biến mất được các u cơ tử cung. Điều trị có tính chất triệu chứng trong lúc chờ đợi tuổi mãn kinh vì vào thời kỳ này, nếu không điều trị bằng hormone thay thế (THS), thì các u cơ này sẽ thu nhỏ lại. Các progestatif làm giảm sự phì đại của nội mạc tử cung, các anti-fibrinolytique cải thiện sự xuất hiện các cục máu đông, và một liều cao oestrogène có thể làm ngưng một đợt xuất huyết cấp tính. Các thuốc điều trị triệu chứng này nhường chỗ cho phẫu thuật dưới mọi dạng thức.
NGOẠI KHOA CÀNG NGÀY CÀNG BẢO THỦ
Chúng ta có sự lựa chọn giữa phẫu thuật cắt bỏ tử cung hay chỉ cắt bỏ các u cơ, hoặc làm tan rã chúng bằng cách hủy bỏ phân bố mạch của chúng hoặc bằng một tác nhân vật lý làm hủy hoại. Sự lấy đi các u cơ trơn tử cung (myomectomie) được thực hiện bằng mở bụng (laparotomie), nội soi (coelioscopie) hay nội soi tử cung (hysteroscopy), bằng dao điện hay bằng siêu âm và, mới đây hơn, bằng tia laser. Sự làm tiêu cơ (myolyse) có thể được thực hiện bằng cách làm nghẽn mạch (embolisation), dưới sự kiểm soát của rọi quang tuyến, những động mạch tử cung bởi những vi phần tử (microparticules) (polyvinylalcool hay microsphènes). Kỹ thuật này dường như hay hơn cắt bỏ u cơ tử cung (myomectomie) bởi vì với phẫu thuật sau đó cứ hai trường hợp có một trường hợp tái phát. Sự làm nghẽn mạch (embolisation) có thể được thực hiện dưới gây mê tại chỗ, nhưng cần điều trị chống đau sau giải phẫu. Một dạng thức làm tiêu cơ (myolyse) khác : làm tiêu lạnh bằng nội soi (cryolyse sous coelioscopie), cho phép làm đông giá và gây chết mô ở nhiệt độ âm 50 độ C. Một kỹ thuật tốn kém nhưng ít đau đớn sau thủ thuật. (LE GENERALISTE 16/10/2008)
10/ SỬ DỤNG QUÁ MỨC MÁY NHẠC CẦM TAY LÀM ĐIẾC TAI VĨNH VIỄN.
10 triệu các thanh thiếu niên châu Âu có nguy cơ bị điếc vĩnh viễn trong trường hợp nghe máy nhạc cầm tay (appareil à musique portatif hay baladeur) kéo dài và với cường độ âm thanh cao. Năm 2006, John Kiel Patterson, một chủ hãng của Lousiane (Hoa Kỳ) đã đưa đơn kiện trước tòa án San José ở Californie chống lại hãng kết xù Apple, chuyên chế tạo các máy nhạc cầm tay iPod. M. Paterson cùng nhiều người đưa đơn kiện khác cho rằng máy iPod của ông có thể đã được tăng cường độ âm thanh lên đến 115 décibels (dB), và ngay cả đến 125 dB đối với một vài loại nhạc. Mà những mức âm thanh cực kỳ này có nguy cơ đưa đến những rối loạn thính giác thường trực, thậm chí vĩnh viễn nơi người sử dụng dài lâu.
Từ năm 2001 hãng đã bán hơn 160 triệu máy nhạc cầm tay này trên khắp thế giới. Những vật này có kích thước của một carte crédit dày, và người ta có thể télécharger vào máy những bộ phiếu nhạc (fichiers musicaux) từ ordinateur. Máy nhạc cầm tay sử dụng một logiciel để đọc các bộ phiếu và phát nhạc.
Hiện tại, gần 5 đến 10% trong số 50 đến 100 triệu công dân của 27 nước của Liên Hiệp Châu Âu có nguy cơ trở nên điếc vì nghe quá mức những máy nhạc cầm tay này. Lo ngại về những mối đe dọa mới lên sức khỏe thính giác của các thiếu niên, nhưng cũng của những người lớn, gây nên bởi việc nghe rất phổ biến những máy nhạc cầm tay nhỏ xiu này, ủy viên châu Âu về những vấn đề tiêu thụ Meglena Kuneva, đã xin một ý kiến khoa học mà những kết luận đã được công bố.
Kết quả : năm giờ nghe mỗi tuần với mức âm thanh cực đại, làm người nghe chịu một tiếng ồn rất cao hơn tiếng ồn được cho phép trong các nhà máy ồn ào nhất (80 dB trong 8 giờ mỗi ngày hay 48 giờ mỗi tuần). Mặc dầu đa số những người sử dụng bằng lòng với một mức âm thanh trung bình từ 75 đến 85 dB, nhưng 10% trong số những người này, hoặc một thiểu số lớn, vặn volume âm thanh tôi đa. Mặc dầu, điều lệ của Pháp đã buộc hãng Apple và các hãng cạnh tranh không được vượt quá 100 dB, nhưng theo báo cáo, mức độ âm thanh này đã trên rất nhiều mức âm thanh gây nên bởi một chiếc phản lực cơ cất cánh ở kế cận. Chính sự tích lũy liều lượng hàng ngày trong năm năm tạo nên mối hiểm nguy cho thính giác.
(LE FIGARO 15/10/2008)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
( 30/10/2008)


Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com


>>>back>>>

Tin Mới Y Học