Thời Sự Y Học số 98
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ CÁC PHUƠNG PHÁP NGỪA THAI QUA THỜI GIAN
Tùy theo thời kỳ và nơi chốn, ước muốn giới hạn sinh đẻ được thể hiện vì những lý do dân số, đạo đức, thẩm mỹ hay một cách giản đơn là để tách sự khoái lạc với sự sinh sản. Dầu thế nào đi nữa, trong bất cứ thời kỳ nào và trong tất các các nền văn minh, sự ngừa thai là một bộ phận của cuộc sống hàng ngày và tạo nên một mối quan tâm quan trọng. Do đó con người đã tưởng tượng ra rất nhiều phương pháp để cứu chữa những hậu quả không được mong muốn của động tác giao hợp. Từ những phương thức êm ái nhất đến những phương cách thô bạo nhất, sau đây là một sơ lược những phương tiện ngừa thai ngày xưa.
Những tài liệu bắt đầu có từ hơn 4000 năm chỉ rõ rằng những người cổ Ai Cập sử dụng các viên đạn âm đạo (suppositoires vaginaux), được cấu tạo bởi bột men (pâte de levain), mật hay phân cá sấu để bảo vệ chống lại một thai nghén không được mong muốn.Tuy nhiên, người ta xác nhận rằng các sản phẩm này phải được đưa vào trong âm đạo trước khi giao hợp, điều này tạo nên một sự kiện đáng lưu ý vào thời kỳ đó, nhưng tiếc thay rất mau bị chóng quên vì lẽ hầu hết các phương pháp về sau này đều được quy định dùng sau khi sinh. Để bảo vệ chống lại các bệnh phong tình, các người lính Ai cập che phủ bộ phận sinh dục của họ bằng ruột cừu và như thế cho ra đời những túi dương vật (préservatif) đầu tiên, 3000 năm trước công nguyên.
Những phương pháp khác còn được mô tả trong papyrus de Berlin (1.300 trước công nguyên), trong đó người ta nhận thấy những chỉ dẫn về một sự hun khói (fumigation) kết hợp với một hỗn hợp gồm có mỡ, cỏ và bia ngọt để uống vào lúc thức dậy, suốt trong 4 ngày ! Có lẽ hiệu quả hơn : những phụ nữ Ai Cập không do dự đưa vào trong âm đạo của họ một nửa của quả trái cây được khoét rỗng để che phủ cổ tử cung, mặt khác, dạng mũ cổ tử cung (cape cervicale) này có lẽ đã được chính Cléopâtre sử dụng.
LÀM MAU LÊN CHỨ !
Trong thời cổ Hy lạp, các thầy thuốc cho toa các công thức pha chế phát xuất từ cổ truyền dân gian. Soranos d’Ephèse và các đồ đệ chủ trương, nơi những phụ nữ quá trẻ hay có cuộc sống bị đe dọa nếu có thai, không được làm sẩy thai, mà phải sử dụng những phương pháp nhằm không để cho tinh dịch của người đàn ông đi vào trong tử cung. Để được như vậy họ cho những lời khuyên rất chính xác như đưa vào trong tử cung những thuốc đạn (suppositoire) chứa những sản phẩm có tác dụng làm thắt chặt cổ tử cung (nghệ, acacia, mandragore...) hoặc đóng lối vào của cổ tử cung với các nút (tampon) bằng len. Họ cũng khuyên các phụ nữ đứng dậy ngay sau mỗi lần giao hợp, hách xì, bước, nhảy, làm những cử động thô bạo và đừng do dự khi phải bước lên các xe bò (tình trạng đường xá thời đó rất thuận lợi cho những rung chuyển !). Nếu, mặc dầu những lời khuyên này, tinh trùng vẫn đi vào tử cung, Soranos chủ trương trích máu (saignée) nhưng thường tránh làm sẩy thai. Các loại thuốc sắc (tisanes) khác nhau còn được pha chế và tiêu thụ vì những tính chất ngừa thai. Trong số những thuốc sắc này, chúng ta hãy kể dầu olive, dây thường xuân (lierre), cây liễu, cây phong (peuplier), cây thông tuyết (cèdre), bạc hà cay (menthe poivrée), cây đào gai (aubépine). Việc kiêng nhịn (abstinence) trong những thời kỳ sinh sản dĩ nhiên được khuyên nhủ mặc dầu bây giờ chúng ta biết rằng tiền nhân hiểu lầm về chu kỳ kinh nguyệt. Những người La mã sử dụng cùng những phương thức, đồng thời nhờ đến thụt rửa âm đạo sau giao hợp (douche vaginale postcoitale). Để làm được điều đó, các nhà quý tộc phải nhờ đến một người nô lệ sau mỗi lần giao hợp. Họ cũng chế tạo một loại túi dương vật được cấu tạo bởi ruột và bàng quang động vật. Điều kỳ lạ là thời Thượng Cổ người ta không đề cập đến phương pháp rút dương vật (retrait), mặc dầu thoạt nhìn điều này rất là hiển nhiên. Tuy nhiên phương pháp rút dương vật này được ghi chú trong Thánh kinh với câu chuyện Oran, trong Talmud và nơi những người musulman.
TRIỆT ĐỂ HƠN : GIẾT CON MỚI ĐẺ
Dĩ nhiên những người thời xưa đã không luôn luôn có thể làm chủ được việc sinh đẻ như họ mong muốn, do đó họ đã dùng một phương pháp triệt để hơn nhiều, đó là giết con mới đẻ (infanticide) ! Đó là chuyện thường xảy ra ở thời Thượng cổ, là thời người ta ít coi trọng cuộc sống của các trẻ em. Dầu đó là Hippocrate, Soranos hay Platon, tất cả đều nhất trí xét đoán “ những trẻ nào nên được nuôi nấng dạy dỗ ” . Hãy nhắc lại rằng, ở Rome người cha có quyền sanh sát đối với các con mình và tuyên bố, vài ngày sau khi sinh, ông ta sẽ giữ lại để nuôi dưỡng trẻ vừa mới được sinh ra đời hay không. Chính những người Do thái có lẽ quyết định không thực hiện việc giết trẻ con sau khi sinh nữa.Vào thế kỷ thứ VI, Mahomet cấm điều đó trong khi ở Châu Âu việc này được hủy bỏ bởi Charlemagne vào thế kỷ thứ VIII. Vào thời Trung Cổ, còn những phương pháp khác xuất hiện và được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác nhưng, nếu người ta loại trừ những dây nịt tiết trinh (ceintures de chasteté), thì phương pháp ngừa thai trong thời kỳ này không tiến triển được bao nhiêu vì bị kềm hãm bởi Giáo Hội Cơ Đốc. Thật vậy, ngay vào thời kỳ đầu của đạo Cơ Đốc, suốt trong nhiều thế kỷ, Giáo Hội căn cứ hôn nhân trên sự sinh đẻ và lên án sự khoái lạc và sự ngừa thai. Về sự việc này ít có văn bản chỉ cho chúng ta thấy dân chúng thời Trung cổ kiểm soát sinh sản như thế nào, nếu họ dám làm ! Không nên quên rằng vào thời kỳ này, mọi phương thức ngừa thai, gồm cả rút dương vật (retrait), đều được xem như là một tội phạm và sẽ bị trừng trị. Vậy chính ở Châu Á là nơi mà các túi dương vật (préservatifs) tiến triển. Những túi này được chế tạo bằng giấy lụa dầu (papier de soie huilée) ở Trung Quốc và bằng vảy rùa (écaille de tortue) hay bằng da thuộc (cuir) ở Nhật bản, nơi đây túi dương vật mang tên Kabuta-gata.
TÚI DƯƠNG VẬT THỜI TRANG
Ở châu Âu, phải đợi đến thế kỷ XVI và sự bùng nổ của bệnh giang mai thì các lính trận mới chịu bảo vệ lấy mình. Nhà cơ thể học và giải phẫu học người Ý Gabriel Fallope phát minh một loại bao bằng vải nhẹ, được tẩm một thứ nước sắc gồm có cỏ và nước miếng, mà ông gọi là túi dương vật (sac pénien).
Vào thế kỷ XVII, túi dương vật được làm bằng lụa hoặc nhung và được trang trí bởi một đai màu giữ nó vào vị trí. Từ nay túi dương vật này là một phần của hoạt động sinh dục và trở nên một vật phụ thời trang của những nhà quý tộc và ngay cả của vua chúa.
CHANH KHOÉT RỖNG HAY TÚI DƯƠNG VẬT?
Vào thế kỷ sau, người Venise Giacomo Casanova, nổi tiếng về những tình nhân, đã quảng cáo về chanh được khoét rỗng (citron évidé) và về túi dương vật, hai phương pháp mà ông sử dụng rộng rãi để chống lại những hậu quả của cuộc đời “sôi động” của ông. Chính Casanova đã đặt tên “capote anglaise” (chiếc áo khoác Anh) cho cái khúc ruột (bout de boyau) này, lúc nói rằng “tôi phải giam mình trong một khúc da chết (un bout de peau morte) để chứng tỏ rằng tôi đúng là còn sống”. Nữ hầu tước Sévigné đã định nghĩa túi dương vật như sau: “Đó là một áo giáp chống khoái lạc và một mạng nhện chống nguy hiểm”. Đúng là bao dương vật chưa tiện nghi lắm cũng như chưa được tin cậy lắm. Rửa âm đạo (douche vaginale) với alun, sulfate kẽm, muối Eratus, dấm và chlorure de soude, thời đó được sử dụng nhưng luôn luôn sau động tác giao hợp. Những ống tiêm đầu tiên và các dụng cụ để tiêm âm đạo xuất hiện. Cần ghi nhận rằng chậu rửa đít (bidet) xuất hiện ở Pháp vào thời đó, phần lớn được dùng để rửa chân...
ÁO KHOÁC BẢO ĐẢM 5 NĂM.
Việc sử dụng và sự thương mãi của túi dương vật được hợp pháp hóa sau Cách mạng Pháp. Vào giữa thế kỷ XIX, hãng Goodyear Tire and Rubber phát minh túi dương vật bằng cao su, có thể rửa được và được bảo đảm năm năm! Như thế, sau mỗi lần sử dụng, áo choàng (capote) được rửa, sấy khô và rắc tan. Người ta cũng gọi túi dương vật là “đối thủ bảo vệ”, “túi khoái lạc”. Năm 1880, túi dương vật bằng latex đầu tiên được sản xuất và những tiến bộ đáng kể về màng ngăn (diaphragme) xuất hiện. Cùng năm, Walter John Rendell, dược sĩ Luân Đôn, hiệu chính một vòng đỡ (pessaire), được cấu tạo bởi quinine và bơ cacao, dễ tan ở đáy âm đạo. Phương pháp này giành được thành công nhanh chóng và được phân phát khắp toàn thế giới. Vào đầu thế kỷ XX, nhiều phương pháp ngừa thai xuất hiện. Chúng ta có thể kể phương pháp Ogino, mang tên thầy thuốc người Nhật đã phát minh ra nó. Sự kiêng không giao hợp được khuyên giữa ngày thứ 12 và 16 của chu kỳ kinh nguyệt và phương pháp này đã sinh ra hàng ngàn em bé Ogino ! Còn phương pháp Knauss nhằm định ngày phóng noãn bằng cách theo dõi nhiệt độ, thì lại tỏ ra có hiệu quả đối với những người muốn mang thai hơn là đối với những người muốn được bảo vệ. Sau đó là sự xuất hiện của vòng ngừa thai (stérilet) và thuốc ngừa thai (pilule contraceptive). Vào năm 1961, túi dương vật được bôi trơn (préservatif lubrifié) đầu tiên được đưa ra thị trường.
Còn việc chống thụ thai ở nam giới thì sao? Có chứ, ngoài túi dương vật, đàn ông cũng tham gia kiểm soát sinh đẻ từ những năm 70! Tuy nhiên từ slip làm nóng đến các dược phẩm hormone mới, còn cần phải thực hiện những tiến bộ quan trọng. Suốt trong nhiều thế kỷ, các phương pháp ngừa thai và phá thai đã dựa trên những kiến thức thường sai lầm về cơ thể học và sinh lý học! Dĩ nhiên, trước khi nghĩ đến sự ngừa thai... phải tự hỏi về sự thụ thai! Nguồn: (SEMPER 5/2008)
2/ THUỐC LÁ VÀ THAI NGHÉN : NHỮNG NGUY CƠ HÔ HẤP NƠI TRẺ SƠ SINH?
Một công trình nghiên cứu của Canada đã xác nhận rằng nơi những trẻ sinh non có mẹ là những người nghiện thuốc lá ở mức độ trung bình (dưới 5 điếu mỗi ngày), có một sự đáp ứng thích nghi ít tốt hơn của nhịp tim với trắc nghiệm giảm oxy (test d’hypoxie) và nhất là có một sự hồi phục hô hấp ít tốt hơn, so sánh với những đứa bé có bà mẹ không hút thuốc lá. Nicotine làm rối loạn sự phát triển của những vùng não bộ kiểm soát những cử động hô hấp. Nguồn: (PARIS MATCH 25/9-1/10/2008)
3/ ĐỘNG KINH : NHỮNG PHUƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ MỚI

Giáo sư Michel Baulac, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh của bệnh viện La Pitié-Salpêtrière, Paris, giải thích từ nay điều trị như thế nào 40% những bệnh nhân động kinh đề kháng với các liệu pháp cổ điển.
Hỏi : người ta thường che dấu là bị một bệnh động kinh, căn bệnh còn bị kiêng kỵ về mặt xã hội. Thật ra, định nghĩa của động kinh là thế nào ?
G.S Michel Baulac : Đó là một bệnh lý thường xảy ra, ở châu Âu cứ 1000 người thì có một người bị bệnh, trong đó cứ hai bệnh nhân thì một là trẻ em. Người ta chỉ thật sự chẩn đoán động kinh khi các cơn tái diễn. Các cơn này tương ứng với một đợt phóng điện (une décharge électrique) bất bình thường của các nơ ron nằm trên trên một bề mặt rộng ít hay nhiều của vỏ não. Các triệu chứng thay đổi tùy theo vị trí và mặt rộng của vùng bị ảnh hưởng. Nhiều nguyên nhân có thể là nguồn gốc của những cơn động kinh này : khối u, sẹo sau chấn thương, dị dạng đủ loại, nhưng cũng có tố bẩm di truyền.
Hỏi : Những dạng khác nhau của cơn động kinh là gì ?
G.S Michel Baulac : Vâng. Có hai dạng chính. 1. Cơn động kinh toàn thể (crise convulsive généralisée) trong đó sự phóng điện nơ ron tỏa lan. Cơn được phát khởi bằng một sự mất tri giác tức thời kéo dài vài phút, bệnh nhân té đột ngột, cứng toàn bộ thân thể, tăng tiết nước bọt và những rung giật ở các chi : cơn rất gây ấn tượng đối với những người chung quanh! Những cơn động kinh toàn thể khác, ít gây thương tổn hơn, chỉ đưa đến vắng ý thức (absence) vài giây hay những rung giật ngắn ngủi của các chi. 2. Những cơn động kinh cục bộ (crises partielles), có những triệu chứng tương ứng với vùng bị ảnh hưởng : những rối loạn thị giác, các ảo giác (hallucinations), những cử động không tự ý và vắng ý thức kéo dài vài phút đối với vài bệnh nhân, với mất toàn bộ sự làm chủ hành vi, do đó tình trạng mất năng lực quan trọng khi các cơn xảy ra thường xuyên.
Hỏi : Những người động kinh sống trong lo sợ sẽ xảy ra một cơn động kinh mới… Những dấu hiệu báo trước là những dấu hiệu nào ?
G.S M.B : Có khi vài người phát khởi một cơn nhỏ (minicrise) vài chốc lát trước khi cơn trở nên nghiêm trọng hơn. Nếu có đủ thời gian (khoảng 10 phút), một thuốc có tác dụng nhanh đôi khi có thể tránh được cơn xảy ra. Nhưng hầu hết các bệnh nhân không có một dấu hiệu báo trước nào, do đó cần có một điều trị thường trực.
Hỏi: Cho đến nay, những điều trị cổ điển là những điều trị nào, và những chỉ định của chúng?
G.S M.B: Một tiến bộ mới đây là khả năng điều trị các bệnh nhân “à la carte“. Có nhiều thuốc chống động kinh với cách tác dụng khác nhau nhưng mục đích đều giống nhau: ngăn cản sự biểu hiện các triệu chứng. Không có một loại thuốc nào có thể chữa lành được bệnh. Đối với các cơn động kinh toàn thể, valproate (Dépakine), lamotrigine (Lamictal) là được sử dụng nhiều nhất nhưng không phải là không có những tác dụng phụ, do đó cần theo dõi đều đặn. Đối với những cơn động kinh cục bộ, thuốc thường được cho là carbamazépine (Tégrétol) vẫn có thế cho những tác dụng phụ; lévétiracétam (Keppra) là một lựa chọn khác.
Hỏi : Với những phương thức điều trị thuốc bằng đường miệng, những kết quả thu được là những kết quả nào ?
G.S M.B : Chúng cho phép kiểm soát các cơn nơi 60% các bệnh nhân.
Hỏi : Như vậy đối với 40% những bệnh nhân còn lại, cần những điều trị hiệu quả hơn. Điều trị mới được hiệu chính gần đây đối với những bệnh nhân đề kháng này là gi ?
G.S M.B : Trước hết, vài bệnh nhân được gọi là đề kháng dược liệu (pharmacorésistant) có thể là những ứng viên của một can thiệp ngoại khoa, nhằm lấy đi vùng não bộ gây nên các cơn động kinh. Về mặt thuốc men, chúng ta có những thuốc mới chống động kinh, được cho bằng đường miệng. Trong số những thuốc mới nhất, zonisamide và lacosamide đã được trắc nghiệm trong nhiều công trình nghiên cứu quốc tế, trong đó chúng đã chứng tỏ một hiệu quả thật sự trong việc làm giảm tần số xảy ra các cơn. Những thuốc này có ưu điểm là có hoạt tính nơi những bệnh nhân đề kháng nhất.
Hỏi : Người ta có nhận thấy những tác dụng phụ không ?
G.S M.B : Người ta đã ghi nhận những cảm giác chóng mặt, chứng ngủ gà, tình trạng dễ mệt mỏi và vài rối loạn tính khí.
Hỏi : Khi nào các bệnh nhân động kinh mới có thể hưởng liệu phát rất mới này ?
G.S M.B : Zonisamide đã được chấp thuận bởi các giới hữu trách Châu Âu và đã được thương mãi hóa ở Pháp từ nhiều tháng nay. Lacosamide vừa mới được sự chấp thuận của châu Âu và chẳng bao lâu sẽ có để sử dụng ở Pháp. Những điều trị các bệnh nhân đề kháng bằng những thuốc mới này là một bước tiến quan trọng.
Hỏi : Có chống chỉ định đối với những thuốc mới này không ?
G.S M.B : Mọi dự định thai nghén phải được chuẩn bị trước một cách cẩn thận và vài loại thuốc cần phải tránh. FDA, cơ quan y tế tối cao của Hoa Kỳ, vừa gợi ý rằng tất cả các thuốc chống động kinh mới có thể làm dễ các ý nghĩ tự tử (idées suicidaires). Do đó cần áp dụng mọi biện pháp thận trọng nơi những bệnh nhân trầm cảm có nguy cơ bị động kinh hơn.
Hỏi : Những thuốc mới này đã được thương mãi hóa trong các nước khác chưa ?
G.S M.B : zonisamide khởi đầu đã được phát triển ở Nhật Bản trong những năm 90, sau đó được đưa vào Hoa Kỳ năm 2000.Vậy chúng ta hưởng được một kinh nghiệm rộng rãi.Thời gian nhìn lại ngắn hơn đối với lacosamide.
Sau cùng, phải nhấn mạnh những tiến bộ mới đây đối với vài dạng động kinh tàn phá của trẻ em, với sự hiệu chính những thuốc rất trọng điểm, gọi là orphelins. Những tiến bộ này thể hiện đúng tất cả những cố gắng hiện nay của nghiên cứu chống lại bệnh động kinh trong tất cả các dạng thức. Nguồn:
(PARIS MATCH 25/9-1/10/2008)
4/ VITAMINE C PHÁ HỎNG HIỆU QUẢ CỦA HÓA HỌC TRỊ LIỆU PHÁP

Một công trình nghiên cứu tiền lâm sàng mở rộng đã cho thấy đến mức độ nào vitamine C cho bổ sung có thể có một tác dụng âm tính lên hiệu quả của các thuốc chống ung thư như thế nào.
Việc dùng các chất bổ sung vitamine C như là chất phụ trợ trong liệu pháp chống ung thư là đối tượng gây tranh cãi đã từ một ít lâu nay. Một vài công trình nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng những bệnh nhân bị một ung thư có thể hưởng lợi nhờ tác dụng kháng oxy hóa của vitamine C. Trái lại những công trình nghiên cứu khác lại quả quyết điều ngược lại : một vài tác nhân hóa học trị liệu phóng thích các gốc oxy (radicaux d’oxygène) để phá hủy các tế bào ung thư và vitamine C (với tác dụng kháng oxy) loại bỏ các gốc này trước khi chúng có thể có một tác dụng lên các tế bào ung thư.
Chính trong bối cảnh này mà Mark Heaney và các đồng nghiệp (American Memorial Slaon Kettering Cancer Center) đã phân tích tác dụng của nhiều tác nhân hóa học trị liệu (vài chất sản sinh những gốc tự do (radicaux libres), những chất khác thì không) lên các tế bào ung thư và những mô hình động vật. Rất đỗi ngạc nhiên, các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng tất cả các tác nhân hóa học trị liệu tác dụng kém hơn khi các canh cấy những tế bào và các động vật thí nghiệm đã được xử lý trước đó bởi vitamine C. Hiệu quả của các thuốc đã giảm 30 đến 70 % trong vài trường hợp. Một nghiên cứu bổ sung đã chứng tỏ rằng tác dụng của vitamine C phải được xét đến trong một bối cảnh rộng hơn là chỉ gán cho nó tác dụng loại bỏ trực tiếp các gốc tự do được sinh ra bởi các tác nhân hóa học trị liệu. Vitamine C dường như làm gia tăng tính sống được của các thể hạt (mithochondries) trong những tế bào ung thư, điều này cho phép chúng ít bị hủy hoại hơn, và như vậy tạo một cơ hội sinh tồn tốt hơn cho tế bào ung thư.
Tuy nhiên, Mark Heaney nêu nhận xét rằng tác dụng âm tính của vitamine C chỉ có thể được chứng tỏ trong một tình huống tiền lâm sàng, nghĩa là trong những canh cấy tế bào và những mô hình động vật. Dĩ nhiên chúng ta không có chứng cớ khẳng định rằng cùng cơ chế tác dụng này áp dụng nơi những bệnh nhân ung thư đang được điều trị. Tuy vậy các nhà nghiên cứu khuyến nghị rằng trong khi điều trị ung thư, bệnh nhân nên tránh những liều lượng cao vitamine C. Trái lại một chế độ ăn uống đa dạng, giàu rau xanh và trái cây tươi, được khuyên thực hiện. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 3/10/2008)
5/ THỰC VẬT ĐỂ CHỐNG LẠI BỆNH CÚM

Thức ăn của chúng ta là một dược điển mà các nhà khoa học không ngừng nghiên cứu khảo sát. Càng ngày càng có nhiều luận cứ gợi ý rằng phương cách mà một cơ thể có thể tự bảo vệ chống lại bệnh cúm, căn bệnh mà ta mắc phải do virus, có thể được chi phối bởi các yếu tố dinh dưỡng. Yếu tố dinh dưỡng xưa nhất chắc chắn là vitamine C. Mặc dầu sinh tố C can dự trong chức năng miễn dịch, nhưng hiệu quả của nó để dự phòng chống các bệnh virus như cảm mạo hay cúm đã không được chứng tỏ như người ta tưởng.
Người ta biết rõ rằng có nhiều tình trạng thiếu dinh dưỡng có thể làm suy yếu các khả năng phòng ngự của cơ thể đứng trước virus. Biết những gì có thể làm gia tăng những khả năng phòng ngự thiên nhiên này là quan trọng về mặt y tế. Đó là một hướng được khảo sát bởi các probiotique, các thức ăn hay những chất bổ sung giàu vi sinh vật được xem là có lợi, hay một vài chất chống oxy hóa (antioxydant) được biết rõ như kẽm. Nhưng có những hợp chất khác, kín đáo hơn bởi vì chúng không được xem là thiết yếu, nhưng lại có thể mang lại một hỗ trợ hữu ích cho các khả năng phòng ngự của cơ thể. Đó là trường hợp của quercétine, một chất chống oxy hóa, đặc biệt được tìm thấy trong hành (nhất là hành đỏ), trong táo (vỏ táo), myrtille, cải hoa muộn (brocoli), nho, trà và ruợu
Những thí nghiệm được tiến hành trên các canh cấy tế bào đã chứng tỏ rằng quercétine có một khả năng chống virus. Ngoài ra, sự mệt mỏi được xem như là một tình trạng làm cho cơ thể dễ bị nhiễm trùng hơn. Trong một công trình nghiên cứu mới được công bố trong American Physiological Society, các nhà nghiên cứu của Đại Học Caroline du Sud và của Clemson University đã đánh giá một cách chính xác những tác dụng của quercétine trên chuột, chịu (hoặc không) một sự mệt mỏi lớn. Như vậy các nhà nghiên cứu đã thành lập 2 nhóm động vật, một nhóm trong đó các chú chuột chịu những hoạt động vật lý mạnh mẽ để gây nên một tình trạng mệt mỏi. Trong mỗi nhóm, một nửa các động vật nhận quercétine được đưa vào thức ăn. Sau đó tất cả được cho tiếp xúc với một virus cúm thông thường (H1N1). Nghiên cứu xác nhận rằng các động vật bị mệt mỏi mắc bệnh dễ dàng hơn và nhanh chóng hơn. Trái lại, những chú chuột bị mệt sau khi đã nhận quercétine có một tỷ lệ mắc bệnh có thể so sánh với những động vật không bị mệt mỏi. Và sau hết, trong số những động vật “ nhàn rỗi không hoạt động ”, nhóm quercétine đề kháng tốt hơn nhiều lúc tiếp xúc với virus so với nhóm kiểm chứng.
Mặc dầu những dữ kiện này chỉ liên quan đến chuột, nhưng chúng mở ra những triễn vọng mới nhằm làm giảm tính nhạy cảm đối với vài loại nhiễm trùng. Nguồn: (LE SOIR 1/10/2008)
6/ TRÁI CÂY, RAU XANH VÀ UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG
Rau xanh, trái cây và ngũ cốc toàn thể có bảo vệ chống lại ung thư đại trực tràng hay không ? Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ, Abraham Nomura và các cộng sự viên đã thực hiện một công trình nghiên cứu lớn. Giữa năm 1993 và 1996, 85.903 đàn ông và 105.108 phụ nữ đã điền một bảng câu hỏi về chế độ ăn uống trong khung cảnh của Multiethnic Cohort Study. Một chẩn đoán ung thư đại trực tràng đã được thực hiện nơi 1138 đàn ông và 972 phụ nữ sau một theo dõi trung bình 7,3 năm.
Những kết quả, được công bố trong American Journal of Clinical Nutrition, cho thấy rằng sự tiêu thụ rau xanh và trái cây được liên kết nghịch với nguy cơ ung thư đại trực tràng nơi đàn ông nhưng không nơi phụ nữ. Sự liên kết này dường như rõ rệt đối với ung thư đại tràng hơn là đối với ung thư trực tràng. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 3/10/2008)

7/ TẠI SAO CHÚNG TA BỊ RỤNG TÓC ?
Cái vốn tóc của chúng ta có được từ lúc sinh ra đời. Chúng ta có 100.000 đến 150.000 sợi tóc rãi trên sọ của chúng ta. Mỗi nang lông (follicule pileux) có thể sản xuất trung bình 20 đến 25 sợi tóc trong suốt cuộc đời, với nhịp độ 0,7 đến 2 cm mỗi tháng. Nơi người đàn ông, một sợi tóc sống từ 2 đến 4 năm và nơi phụ nữ, từ 4 đến 7 năm. Người ta ước tính rằng, trong trạng thái bình thường, 10% đến 15% các sợi tóc của chúng ta ở trong tình trạng thường trực sẵn sàng bị rụng. Các sợi tóc mọc cho đến khi một sợi tóc mới “trục xuất” chúng để giành lấy chỗ. Người ta chứng thực rằng chu kỳ sống của các sợi tóc ngắn lại khi tuổi càng cao, nhất là ở đàn ông, ở vùng thái dương và đỉnh đầu, dưới ảnh hưởng của những yếu tố di truyền, trong đó có một yếu tố kiểm soát các hormones nam. Dần dần hoạt động của các nang lông chậm lại rồi cuối cùng dừng hẳn. Nơi phụ nữ, sự rụng tóc được thực hiện một cách ít khu trú, mặc dầu vùng trên sọ bị ảnh hưởng hơn phần còn lại của da đầu. Dĩ nhiên có những hói đầu nghiêm trọng hơn, hoặc bẩm sinh, hoặc do những stress quan trọng, do thiếu dinh dưỡng hoặc do điều trị nội khoa. Nguồn: (LE FIGARO 13/10/2008)
8/ MỐI LIÊN HỆ GIỮA UNG THƯ PHỔI VÀ SỰ Ô NHIỄM

Ung thư phổi, mỗi năm gây bệnh cho hơn 23.000 người đàn ông và khoảng 5.000 phụ nữ ở Pháp, được liên kết một cách rõ ràng với thuốc lá. Gần 85% những người bị loại ung thư này đang hút hay đã hút. Nhưng không phải tất cả. Ngoài thuốc lá và sự tiếp xúc với amiante, phải chăng còn có những yếu tố khác trong môi trường làm dễ sự phát sinh ung thư này ? Sự ô nhiễm không khí (nguồn gốc xe hơi và công nghiệp) là một yếu tố, mặc dầu thứ yếu so với thuốc lá, nhưng có thể làm dễ phát sinh loại ung thư này. Những nghiên cứu về vấn đề này là căn bản trên bình diện chính trị, bởi vì chúng biện minh một phần cho công cuộc đấu tranh chống lại sự ô nhiễm gây nên bởi các ô tô. Tuy vậy những kết luận rút ra vẫn còn được bàn cãi, vì lẽ những kết quả đôi khi mâu thuẫn và khó phân tích.
Nhiều yếu tố đã được xếp loại như là gây ung thư đối với người. Năm 1980, lần đầu tiên, nhiễm độc thuốc lá thụ động (tabagisme passif) (nghĩa là thở khói thuốc của những người khác) đã được xem như là một yếu tố làm dễ ung thư phổi. Mặc dầu một sự tiếp xúc thụ động chỉ làm gia tăng 20% đến 30% nguy cơ bị ung thư phổi, nhung số người bị liên hệ đã góp phần làm cho cuộc đấu tranh chống thuốc lá thụ động thành một ưu tiên y tế cộng đồng trong hầu hết các nước châu Âu. Được bàn cãi hơn là tác dụng của sự ô nhiễm không khí lên nguy cơ ung thư phổi. Vấn đề là quan trọng bởi vì hàng chục triệu người đang bị ô nhiễm. Sự ô nhiễm này là do những chất khí, như S02, NO2, 03, cũng như những phần tử khác nhau được phát ra, một phần lớn, bởi các động cơ Diesel.
NHỮNG NGHIÊN CỨU PHÙ HỢP NHAU
Những điều tra đầu tiên về vấn đề này đã được công bố vào đầu những năm 1990 ở Hoa kỳ. Trong công trình nghiên cứu được gọi là “sáu thành phố”, các thầy thuốc Hoa kỳ đã phát hiện một sự gia tăng tỷ lệ tử vong, mặc dầu thấp, bởi ung thư phối và các bệnh tim mạch trong những đô thị bị ô nhiễm nhất so với những đô thị ít bị ô nhiễm nhất. Một điều tra khác, lần này trên 154 thành phố, cũng ở Hoa Kỳ, phát hiện một mối tương quan nhẹ giữa mức độ ô nhiễm không khí và tỷ lệ tử vong bởi ung thư phổi.
Năm 2004, Cơ quan an toàn y tế môi trường của Pháp đã thực hiện một nghiên cứu, cho phép ước tính tỷ lệ tử vong bởi ung thư phổi từ 6 đến 11%, được quy cho do tiếp xúc với các hạt nhỏ (particules fines) trong 76 thành phố của Pháp. Mới đây, công cuộc điều tra châu Âu “Ô nhiễm không khí và sức khỏe” khẳng định rằng từ 1296 đến 1901 trường hợp tử vong bởi ung thư phổi có thể tránh được mỗi năm trong 23 thành phố châu Âu nếu những mức ô nhiễm trung bình được thu giảm ¼. Nếu những dữ kiện về ô nhiễm không khí và ung thư phổi còn cần được nghiên cứu thêm, thì ngược lại từ lâu chúng ta đã biết rằng amiante đóng một vai trò không chối cãi được trong sự phát sinh vài ung thư phế quản, ngoài mésothéliome ra. Sự tiếp xúc với các vi sợi (microfibre) này trong các nghành công nghiệp khác nhau, như xây dựng, đã là nguyên nhân của hơn 2000 ung thư phổi ở Pháp năm 1999. Những sự tiếp xúc nghề nghiệp khác, với khí than đá (gaz de houille), hoặc lúc sản xuất than cốc (coke) hay nhôm, cũng đã được xếp loại là sinh ung thư. Cũng vậy, sự tiếp xúc kéo dài với một khí phóng xạ tự nhiên (radon) được liên kết với một nguy cơ gia tăng bị ung thư phổi.
Trong 20 năm qua, khoảng 40 công trình nghiên cứu dịch tễ học nhằm vào những hậu quả của khói diesel trong vài nghề nghiệp (tài xế, thợ cơ khí...). Mặc dầu các dữ kiện khó giải thích, nhưng các chuyên gia quả quyết rằng có lẽ có một sự liên kết ở mức độ thấp giữa diesel và ung thư phổi. Nguồn: (LE FIGARO 3/10/2008)
9/ TRÁI BOM NỔ CHẬM CỦA PHÌNH ĐỘNG MẠCH NÃO KHÔNG BỊ VỠ (ANEVRISME CEREBRAL NON ROMPU)

Khoảng 1-5% dân chúng sống với một phình động mạch não không bị vỡ (anévrisme non rompu), mà không hay biết gì cả. Đó là một bọc nhỏ được tạo thành trong một động mạch tưới máu não bộ và phát triển dần dần,“ âm thầm” không gây triệu chứng. Với thời gian trôi qua, áp lực máu có thể đe dọa thành của bọc máu này vì tổ chức mô không được chuẩn bị để đề kháng với áp lực máu. Nơi người, khi phình động mạch bị vỡ, các hậu quả có thể là tai họa. Máu tràn ngập não bộ, không còn được tưới một cách bình thường nữa, điều này nhanh chóng dẫn đến mất tri giác (perte de conscience). Một phẫu thuật cấp cứu là giải pháp duy nhất. Hiện nay, cứ hai bệnh nhân thì có một sẽ chết một tháng sau khi phình động mạch não bị vỡ. Và 2/3 những người sống sót sẽ bị những di chứng quan trọng tùy theo những vùng não bộ bị ảnh hưởng : liệt, rối loạn lời nói, rối loạn thị giác, bước đi hay trí nhớ, đôi khi rất tàn phế. Vấn đề là các triệu chứng của phình động mạch không bị vỡ hiếm khi xảy ra : vỡ phình động mạch não được cảm nhận bằng một cơn thiên đầu thống bùng nổ (une migraine explosive), cấp tính đến độ nó được cảm nhận như là cơn đau đầu mạnh nhất chưa bao giờ từng có.
MỘT ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN GIA ĐÌNH.
Nhưng những dấu hiệu báo trước là hiếm : “Đôi khi, bệnh nhân chứng nhận một đau đầu lính canh (céphalée sentinelle), một hay hai tuần trước đó. Phình động mạch não bị nứt, máu thoát ra nhưng một cục máu đông được tạo thành sau một giây đồng hồ. Vấn đề là thường thường điều đó không gây sự chú ý”, giáo sư Christian Raftopoulos, trưởng khoa ngoại thần kinh của BV đại học Saint-Luc đã giải thích như vậy. Một profil di truyền và độc chất học là hiệu quả nhất. Nếu mẹ, cha hoặc anh chị em của một bệnh nhân đã phát triển một phình động mạch não, thì nguy cơ đối với bệnh nhân là cao hơn, do khả năng dị dạng (malforamation) của mô động mạch. Việc tiêu thụ rượu và thuốc lá cũng tạo nên một nguy cơ gia tăng. Tuy nhiên, trong phần lớn các trường hợp, chính vào lúc một thăm khám khác mà phình động mạch não được khám phá ra. Trong trường hợp này, có 3 giải pháp. Hoặc chỉ cần theo dõi, hoặc đặt một coil (một lò xo nhỏ bằng platine), làm nghẽn phình động mạch não và loại nó ra khỏi tuần hoàn động mạch. Một can thiệp được thực hiện qua một catheter được đưa vào động mạch. Giải pháp thứ ba là đặt một clip chirurgical sau khi khoan sọ (trépanation). Một giải pháp gây ấn tượng, vì lẽ thầy thuốc ngoại thần kinh phải làm việc trong một cửa sổ vài mm. Một giải pháp đến nay phần lớn dành cho những trường hợp phình động mạch não mà những thầy thuốc nội huyết quản gạt bỏ. Nguồn: (LE SOIR 12/10/2008)
10/ VIỆC SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI CẦM TAY LÀ CÓ HẠI VỀ LÂU VỀ DÀI
Được thực hiện trong 13 nước, công trình nghiên cứu Interphone đưa ra những kết quả mới gây lo ngại. Cần phải được xác nhận.
“Việc sử dụng điện thoại cầm tay có thể có hại cho sức khỏe”... Lời nói ngắn gọn này dường như hôm nay lại được làm vững vàng thêm nữa do sự công bố một phần những kết quả mới của công trình nghiên cứu Interphone. Được chỉ đạo bởi Trung tâm quốc tế nghiên cứu về ung thư (Circ), công trình nghiên cứu, được tiến hành trong 13 nước công nghiệp, xác lập mối liên hệ giữa vài loại khối u và việc sử dụng đều đặn các điện thoại cầm tay (téléphones portables). Những kết quả tổng hợp này, cần được xác nhận, là có tầm quan trọng. Sử dụng một quy tắc chung để nghiên cứu 4 loại ung thư lớn, Interphone là công trình nghiên cứu dịch tễ học lớn nhất từng được được thực hiện về đề tài này.
Khoảng 2.600 trường hợp u thần kinh đệm (gliome), 2.300 u màng não (méningiome), 1.100 u bao Schwann của dây thần kinh thính giác (neurinome de l’acoustique) và 400 khối u của tuyến mang tai (glande parotide) đã được xét đến. Về u thần kinh đệm (gliome), ung thư có yếu tố nguy cơ gây tử vong cao nhất, công trình nghiên cứu ghi nhận rằng “ Sự góp chung các dữ kiện của các nước Bắc Âu và một phần của Vương quốc Anh, đã cho phép rút ra một nguy cơ gia tăng đáng kể bị u thần kinh đệm, tương quan với việc sử dụng các điện thoại cầm tay trong một thời gian 10 năm hoặc hơn, về phía đầu nơi khối u phát triển”. Theo bảng tổng hợp các kết quả, xác suất phát triển một ung thư như thế đến 60% cao hơn trong các nước Bắc Âu, gần 100% ở Pháp và 120% ở Đức đối với những người sử dụng trên 10 năm.
Về u màng não (méningiome) và u bao Schwann của dây thần kinh thính giác (neurinome de l’acoustique), những kết quả tương phản hơn: “Những phân tích toàn bộ các dữ kiện của các nước Bắc Âu và của Vương quốc Anh đã không phát hiện một nguy cơ gia tăng mắc phải u màng não (méningiome), liên kết với một thời gian sử dụng dài lâu hay mạnh mẽ, công trình nói tiếp, nhưng có một nguy cơ gia tăng đáng kể bị u bao Schwann của dây thần kinh thính giác (neurinome de l’acoustique), liên kết với những thời gian sử dụng 10 năm hoặc hơn, về phía khối u.”
Đối với những khối u của tuyến mang tai (tumeurs de la glande parotide), không có một gia tăng nguy cơ nào đã được quan sát. Ngược lại, “trong công trình nghiên cứu của Israel, trong đó các người sử dụng có khuynh hướng báo cáo một sự sử dụng điện thoại cầm tay mạnh mẽ hơn, các kết quả khiến nghĩ rằng có một mối tương quan giữa sự sử dụng này và nguy cơ phát triển khối u tuyến mang tai...”. Những điều tra bổ sung về mối liên kết này, với những thời kỳ tiềm tàng dài hơn và một số lượng lớn những người sử dụng mạnh, là cần thiết để xác nhận những kết quả này.
NHỮNG KẾT QUẢ DỨT KHOÁT VÀO NĂM 2009
“Người sử dụng đều đặn”? Còn phải nhất trí về một định nghĩa đúng đắn.
Trong lúc chờ đợi sự công bố chính thức, có lẽ vào năm 2009, của công trình nghiên cứu chủ chốt này, cần nhận những kết quả một cách dè dặt. Chính trên cơ sở của nghiên cứu này mà các chính phủ các nước châu Âu sẽ phải điều chỉnh các mức chuẩn tiếp xúc cho phép với các sóng điện từ. Nguồn: (LE SOIR 15/10/2008)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(23/10/2008 )


Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com


>>>back>>>

Tin Mới Y Học