Thời Sự Y Học số 97
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ NGƯỜI ĐỨC HAUSEN, VỊ THẦY CỦA CÁC PAPILLOMAVIRUS
Nhà nghiên cứu và chuyên gia ung thư người Đức Harald zur Hausen đã được trao tặng giải thưởng Nobel Y học năm 2008 vì đã có những nghiên cứu dẫn đến sự nhận diện các virus mới cũng như đã chứng tỏ vai trò gây bệnh của chúng đối với loài người. Những mối liên hệ giữa virus và ung thư đã là đối tượng của những cuộc tranh cãi rất lâu dài trong cộng đồng khoa học, và giải thưởng Nobel xác nhận rằng một nhiễm trùng do virus có thể đúng là nguồn gốc của một quá trình ung thư. Nhà nghiên cứu người Đức đã cống hiến một phần của sự nghiệp dài lâu của ông nhằm phát hiện những mối liên hệ khả dĩ giữa một nhiễm trùng mãn tính bởi các papillomavirus người (HPV) và ung thư của cổ tử cung.
Vào tuổi 72, đó cũng là một “ngôi sao” của cuộc đấu tranh chống ung thư. Sinh năm 1936, ông là đứa con trẻ nhất của một gia đình có 4 người con. Ngay vào lúc đầu khi còn theo học, vào cuối những năm 1950, ông bị lôi cuốn bởi những bệnh nhiễm trùng và môn vi trùng học. Năm 1961, ông nhận một nhiệm sở ở viện vi trùng học Dusseldorf, nơi đây trong 3 năm ông chú tâm đến ảnh hưởng của virus của bệnh ngưu đậu (vaccine) lên các nhiễm sắc thể của những tế bào chuột.
Và rồi, đó là một bước ngoặt quyết định. Nhờ may mắn, ông đã đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ trong 3 năm, tại Trường y của Đại học Pennsylvanie. Ở Philadelphie, ông đã gặp những nhà chuyên môn virus học,Werner và Gertrude Henle. Nhờ họ ông đã lấp được những lỗ hổng kiến thức về nghiên cứu virus. Sau 3 năm ở Hoa Kỳ, Viện virus học Wurzburg đề nghị ông làm tại một phòng thí nghiệm dành riêng cho ông. Như thế là Hausen trở về lại Đức và tiếp tục nghiên cứu về ảnh hưởng của virus và các bộ gène (génome) của chúng lên các nhiễm sắc thể tế bào. Chính ở đó mà ông bắt đầu quan tâm đến ung thư cổ tử cung, luôn luôn với cái ý nghĩ báo hiệu rằng (mà vào thời kỳ đó được cho là hơi “dị giáo” ) một virus có thể đúng là có can dự trong sự phát sinh ung thư của cổ tử cung.
Vào năm 1972, ông được bổ nhiệm làm giáo sư virus học ở đại học Erlangen-Nuremberg ở Bavière. Chính ở đó đường đi của ông gặp phải đường đi của papillomavirus. Vào cuối những năm 1970, sự hiện diện của các virus này trong nhiều trường hợp ung thư cổ tử cung đã được chứng minh. Trách nhiệm của virus này trong sự phát sinh bệnh ung thư cổ tử cung đã được chứng tỏ ít lâu sau đó.
Vào năm 1983, Harald zur Hausen được bổ nhiệm làm giám đốc của trung tâm nghiên cứu về ung thư ở Heidelberg. Ông đã ra sức, khẩn khoản yêu cầu các công ty dược phẩm để hiệu chính một vaccin chống papillomavirus và như vậy chống lại ung thư cổ tử cung. “Các công ty dược phẩm mà tôi đã tiếp xúc không tin rằng điều đó có thể mang lại lợi lộc và đã trả lời với tôi rằng có những vấn để khẩn cấp hơn cần phải giải quyết, nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy. Ung thư của cổ tử cung rất là phổ biến và nó giết chết các phụ nữ còn tương đối trẻ. Nếu ngay từ lúc đầu, niềm tin cho rằng ung thư này là do virus được nghe theo, thì chúng ta đã có thể làm một vaccin phòng bệnh sớm hơn”. Và ngày nay đó là điều đã được thực hiện. Người ta ước tính rằng khoảng 15% các ung thư nói chung là do các virus. Nguồn: (LE FIGARO 7/10/2008) (LEMONDE 8/10/2008)
2/ HARALD ZUR HAUSEN, NGƯỜI ĐẦU TIÊN ĐÃ ĐẶT MỐI LIÊN HỆ GIỮA VIRUS VÀ UNG THƯ

Harald zur Hausen, 72 tuổi, làm việc ở Đại học Dusseldorf ở Đức, được giải thưởng Nobel y học. Thật ra ông đã không khám phá ra “ virus của papillome người ” (HPV : papillomavirus humain), vì lẽ virus này đã được nhận diện và ngay cả đã được phát hiện nơi các xác ướp Ai Cập, nhưng chính ông là người đầu tiên đã xác nhận virus này là nguyên nhân của ung thư cổ tử cung, loại ung thư thứ hai phổ biến nhất ở các phụ nữ.
“Trái với những ý nghĩ thịnh hành trong những năm 70, Harald zur Hausen đã xác lập như định đề vai trò của papillomavirus trong ung thư cổ tử cung”, ủy ban Nobel đã nhấn mạnh như vậy. Chính ngay trong những năm 1960, Hausen đã hướng các nghiên cứu của ông về các nguồn gốc của ung thư cổ tử cung. Vào thời kỳ đó, một trong những giả thuyết thịnh hành là ung thư cổ tử cung là hậu quả của một viêm nhiễm mãn tính do một virus thuộc loại herpes loại 2. Nhưng nhà nghiên cứu Hausen đã chứng tỏ rằng trong các tế bào ung thư không có herpès và phải tìm kiếm nguyên nhân ở nơi khác. Từ năm 1976, ông đưa ra giả thuyết rằng ung thư này là do một virus gần giống với virus gây nên các mụn cóc (verrues), được xếp loại trong nhóm HPV (human papillomavirus). Nhưng các đồng nghiệp của ông không muốn nghe nói đến giả thuyết này. Và vào đầu những năm 1980, ông đã thành công phân lập được hai dạng papillomavirus , những génotype 16 và 18, là nguồn gốc của 70% các ung thư cổ tử cung, như vậy mở đường cho việc chế tạo một vaccin. Bởi vì có hơn 200 loại genotypes papillomavirus. Vài génotypes được truyền bằng đường sinh dục và làm nhiễm trùng các niêm mạc sinh dục, vài génotypes khác được truyền bằng những tiếp xúc ngoài da và làm nhiễm trùng da .
CON ĐƯỜNG TIẾN ĐẾN CÁC VACCIN
“Trong lúc phân lập các génotype nguy hiểm nhất, nhà khoa học đã cho phép chế tạo các vaccin, ngày nay có thể chống lại những trường hợp ung thư, chịu trách nhiệm hơn 5% những trường hợp ung thư trên thế giới. Chính ông đã cho phép các hãng dược phẩm hiệu chính một vaccin”, giáo sư Philippe Simon (Bệnh Viện Erasme, Bỉ) đã nhấn mạnh như thế. Từ 50 đến 80% dân chúng thế giới đã được tiếp xúc với một dạng của virus này. “Zur Hausen là một “ông bé nhỏ” (un petit monsieur) nhưng đã làm những chuyện lớn lao”.
Tuy vậy, thời hạn của tiến triển ung thư cổ tử cung làm sợ hãi : có thể thời gian giữa lúc nhiễm trùng bởi virus và lúc phát khởi một ung thư là 40 năm.
“ Chính sự tiến triển chậm này tạo cơ hội để thực hiện điều tra phát hiện và điều trị ung thư ở giai đoạn rất sớm. Với một điều tra phát hiện được thực hiện mỗi 3 năm, chúng ta có thể gần như bảo đảm cho các bệnh nhân của chúng ta rằng họ sẽ không bao giờ bị một ung thư cổ tử cung. Việc điều tra phát hiện vẫn là khám nghiệm cơ bản để chống lại ung thư này. Và ngoài ra chúng ta có thêm món quà chủng ngừa. Trong các nước đang phát triển, đôi khi đó là cơ hội tuyệt vời chống lại tỷ lệ mắc bệnh rất cao của loại ung thư này. ”
Ổ Bỉ, phí tổn vaccin (Gardasil hay Cervarix) được bồi hoàn đối với các thiếu nữ từ 12 đến 15 tuổi. Thật vậy vaccin này hiệu quả hơn nhiều khi được tiêm trước lần giao hợp đầu tiên. Ung thư này gây bệnh 700 phụ nữ mỗi năm ở Bỉ và giết chết khoảng 300 đến 350 người. Tỷ lệ sinh tồn vào 5 năm sau chẩn đoán là 65%. “Cuối cùng, khi chúng ta phải điều trị bằng ngoại khoa hay phóng xạ trị liệu, thì phép trị liệu có thể nặng nề và làm biến dạng. Thường thường, điều trị này làm giảm hay thu giảm hoàn toàn khả năng có con, do việc cắt bỏ hoàn toàn hay một phần của cổ tử cung, hoặc của tử cung. Chính vì vậy mà khám phá của Zur Hausen đã là chủ yếu”, giáo sư Simon đã nhấn mạnh như vậy. Nguồn: (LE FIGARO 7/10/2008) (LE SOIR 7/10/2008)
3/ KÍCH THƯỚC HỒI HẢI MÃ TẠO NÊN TRÍ NHỚ

Những rối loạn nhỏ về trí nhớ như không nhớ trở lại một chữ hay quên những gì đã ăn hôm trước, có liên quan với kích thước của hồi hải mã (hippocampe). Phần này của não bộ rất quan trọng cho trí nhớ và là cơ quan đầu tiên bị thương tổn trong trường hợp bị bệnh Alzheimer. Công trình nghiên cứu được công bố trong Neurology tiết lộ rằng những người bị những lỗ hổng của trí nhớ (trous de mémoire), trung bình có một hồi hải mã bé nhỏ hơn (6,7 mm) so với những người không có những rối loạn trí nhớ này (7,1 mm). Tuy nhiên loại những lỗ hổng của trí nhớ này là thông thường đến độ không thể tự bản thân nó được xem như là một dấu hiệu của chứng sa sút trí tuệ giai đoạn sớm. Nguồn: (LE SOIR 9/10/2008)

4/ COI CHỪNG CÚM AUSTRALIE
Các chuyên viên phát hiện những giống gốc mới đầy độc lực. Lần đầu tiên từ 20 năm nay, thuốc chủng chống cúm hội nhập 3 giống gốc mới, trong đó có một rất độc lực.
Cúm sẽ đến các nước Tây Âu vào mùa đông này rất có thể đến từ Australie.
Trên 3 giống gốc được chọn lọc năm nay bởi các chuyên viên của OMS để được đưa vào vaccin, hai giống gốc phát xuất từ lục địa Úc Châu. Đặc biệt biến dạng của chủng H3N2, được nhận diện là Brisbane 10/2007, bởi vì vào mùa đông nam cực, số trường hợp cúm được xác nhận trong phòng xét nghiệm đã gia tăng gấp ba so với những năm trước. Hai giống gốc khác là Brisbane 59/2007 (H1N1) và Florida 4/2006 đối với cúm loại B.
Mỗi năm, vào khoảng tháng hai, các chuyên gia của OMS phân tích hàng ngàn mẫu nghiệm và phải chọn lọc 3 giống gốc đang lưu hành có thể gây nên tối đa những nguy cơ.
Thường thường các chuyên gia dùng lại một hay hai giống gốc trên 3 giống đã được sử dụng mùa đông năm trước. Năm nay, lần đầu tiên từ hơn 20 năm nay, họ đã quyết định dùng 3 giống gốc mới của virus.
“Đối với cúm loại B, có hai giống gốc gần như sát cánh với nhau, rất khó tách ra và vài chuyên viên đã đề nghị chế tạo một vaccin gồm 4 giống gốc (vaccin tétravalent). Mỗi năm, đó là một thách thức, bởi vì các vaccin phải được sản xuất trong vòng vài tuần và phải đến trong các hiệu thuốc trong tháng 9. Đôi khi đúng là 3 giống gốc được đưa vào vaccin xuất hiện nhiều nhất trong mùa dịch. Đôi khi sự tiên đoán sai lạc và đã có khi phải khẩn cấp chế tạo lại một vaccin cho một giống gốc thứ 4…”, BS Luc Hessel, giám đốc của Sanofi Pasteur MSD Europe đã giải thích như vậy. Điều tệ hại nhất là vaccin chống cúm hiện nay dẫu sao chỉ có tác dụng bảo vệ một năm. Đặc điểm của bệnh cúm là biến dị thường trực, làm cho tác dụng bảo vệ năm qua trở thành số không năm nay.
“Bệnh cúm không phải là một bệnh vô hại : người ta ước tính mỗi năm ở Châu Âu, bệnh cúm giết hại từ 40.000 đến 220.000 bệnh nhân, do những biến chứng phổi mà nó gây ra”, GS Douglas Fleming của Royal College (Anh) đã giải thích như vậy.
“Tỷ lệ các biến chứng trầm trọng và tử vong gia tăng một cách lũy tiến với tuổi của các bệnh nhân, nhất là ở các nhà dưỡng lão”. Chính vì thế mà ở Bỉ, những lời khuyến nghị hiện nay là chủng ngừa cho tất cả những người trên 65 tuổi, và tất cả những người có nguy cơ, thí dụ sau các bệnh tim, phổi hay gan. “Nhưng kể cả những người uống thuốc aspirine mãn tính, GS Patrick Goubau, chuyên viên về siêu vi khuẩn ở BV Saint-Luc và giáo sư ở UCL (Bỉ) đã giải thích như vậy. Trên lý thuyết, nhiều người khác phải được chủng ngừa, như các nhân viên điều dưỡng và các thân nhân của những người già hay những người bị bệnh mãn tính, mục đích là để không mang lại bệnh cho những người này.Trên thực tế, không phải mọi người đều được tiêm chủng. Trong số nhân viên điều dưỡng, mặc dầu ý thức tầm quan trọng của việc chủng ngừa, nhung chỉ có 1/3 là được tiêm chủng, trong khi tiêm chủng miễn phí đối với họ”.
ĐIỀU NGHỊCH LÝ : NHỮNG NHÓM NGUY CƠ ĐƯỢC TIÊM CHỦNG ƯU TIÊN LẠI LÀ NHỮNG NGƯỜI MÀ VACCIN TÁC DỤNG KÉM NHẤT
Đối với một người già hay một người mà tính miễn dịch bị suy giảm, hiệu quả của vaccin chỉ hơi vượt quá 50%, trong khi tỷ lệ này gần 80% nơi những người khác. Do đó mặc dầu được tiêm chủng cũng vẫn bị mắc bệnh cúm. Nguồn: (LE SOIR 18/9/2008)
5/ BOTOX : NHỮNG NGUY CƠ DO VIỆC SỬ DỤNG KHÔNG ĐÚNG
Toxine botulique được sử dụng khắp nơi trên thế giới từ gần 10 năm nay, để điều trị những rồi loạn thần kinh đặc biệt (co thắt cơ bất bình thường), hoặc với một mục đích hoàn toàn khác, trong thẩm mỹ học, để xóa các vết nhăn. Phép điều trị này, được thương mãi hóa ở Pháp dưới hai tên (Biotox trong thần kinh học, Vistabel, đặc biệt trong thẩm mỹ học) có nguy hiểm hay không?
Câu hỏi càng hợp lý khi phân tử căn bản của điều trị là một độc tố nguy hiểm, được sản xuất bởi một vi khuẩn, là nguồn gốc của những trận dịch khủng khiếp trong quá khứ. Mặc dầu có một vài báo động, nhưng các nguy cơ vẫn khá mơ hồ đối với công chúng và dầu sao đã không được công bố một cách có hệ thống mặc dầu có sự quan tâm rõ ràng về vấn đề này.
Từ khi đưa toxine ra thị trường lần đầu tiên, Cơ quan dược phẩm châu Âu đã thống kê, vào năm 1994 và đến năm 2007, hơn 600 người đã bị những tác dụng âm tính nghiêm trọng sau một mũi tiêm và 28 trường hợp tử vong. Ở Đức, có gần 210 trường hợp từ năm 1994, trong đó có 5 tử vong.
Toxine botulique tác dụng làm liệt các dây thần kinh, bằng cách cản một chất dẫn truyền thần kinh là acétylcholine (có nhiệm vụ truyền luồng thần kinh). Tính chất này hữu ích đối với những người bị chứng vẹo cổ co cứng (torticolis spasmodique) hay bị tật nháy mắt (blépharospasme) (sự co thắt các mí mắt có thể ảnh hưởng lên thị giác). Ở Pháp, trong thẩm mỹ học, chỉ các thầy thuốc ngoại khoa, các thầy thuốc bệnh ngoài da và các chuyên khoa Tai Mũi Họng mới có thể sử dụng dược phẩm này. Thuốc chỉ được cho phép sử dụng chính thức để làm giảm nếp nhăn sư tử (la ride du lion : nếp nhăn giữa hai lông mày) và thuốc cũng được tiêm vào trong những nếp nhăn của trán hay những khóe môi.
QUY TẮC NGHIÊM NGẶT
Những nguy cơ trong sử dụng vì mục đích thẩm mỹ là những nguy cơ nào? “Vistabel được sử dụng với những liều lượng thấp hơn nhiều so với những liều lượng được cho trong thần kinh học, với một nguy cơ bị biến chứng thấp hơn, nhất là ở Pháp, do một quy chế rất chặt chẽ, B.S Castot đã xác nhận như thế. Sau một trường hợp báo động ở Hoa Kỳ, chúng tôi đã tăng cường các cảnh cáo bằng một lá thư gởi cho toàn thể những người phục vụ ngành y tế vào năm 2007”.
Tuy nhiên vài biến chứng có thể xảy ra, như một bại liệt bất ngờ xảy ra, xa nơi chỗ tiêm hay sụp mí mắt, trong trường hợp cho quá liều lượng. “ Nếu tôn trọng nghiêm ngặt những quy tắc sử dụng, gặp phải các vấn đề là trường hợp ngoại lệ, BS Vladimir Mitz ( thầy thuốc giải phẫu tạo hình , Paris) đã xác nhận như thế. Vào tháng 2 năm 2008, Cơ quan quản trị thực và dược phẩm Hoa Kỳ đã cảnh cáo một lần nữa rằng việc sử dụng Botox có thể có những tác dụng nguy hiểm, thậm chí chết người, trong trường hợp dùng quá liều. Nhưng ở Hoa Kỳ không có một nạn nhân nào đã được tiêm Botox vì mục đích thẩm mỹ, FDA khi đó đã nhấn mạnh như vậy. Nguồn: (LE FIGARO 2/9/2008)
6/ RƯỢU VANG ĐỎ CHỐNG LẠI UNG THƯ PHỔI

Sự tiêu thụ có mức độ rượu vang đỏ (vin rouge) làm giảm nguy cơ bị ung thư phổi nơi các người đàn ông. Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu được công bố trong “Cancer Epidemiology, Biomarkers and Prevention”, một tờ báo của Hiệp hội nghiên cứu chống ung thư của Hoa Kỳ. Tính chất bảo vệ này là do khả năng chống oxy hóa của resveratrol, một phân tử hiện diện dồi dào trong rượu vang đỏ. Công trình nghiên cứu, được thực hiện giữa năm 2000 và 2003 trên hơn 80.000 người đàn ông, đã cho thấy rằng nguy cơ bị ung thư phổi giảm 60% nơi những người nghiện thuốc uống 1 đến 2 ly rượu vang đỏ mỗi ngày. Nguồn: (LE SOIR 8/10/2008)
7/ CÁC BỆNH CỦA OXYTOCINE
Bệnh tự kỷ (autisme) được đặc trưng bởi những rối loạn nghiêm trọng của các mối tương tác xã hội (interactions sociales), đặc biệt là một thiếu hụt về sự cảm nhận những kích thích xã hội (un déficit de la perception des stimuli sociaux). Mặt khác người ta đã chứng minh rằng những người bị bệnh tự kỷ có những nồng độ oxytocine thấp. Như thế rất hợp lý những thử nghiệm cho oxytocine nơi những người bị bệnh tự kỷ (autiste) đã được thực hiện, nhưng những kết quả ít thuyết phục. Lời giải thích là những người bị bệnh tự kỷ có những thụ thể đối với oxytoxine không hoạt động. Có những bệnh thần kinh và tâm thần khác trong đó người ta nhận thấy có những bất thường của các tương tác xã hội : bệnh tâm thần phân liệt (schizophrénie), chứng sợ xã hội (phobie sociale), bệnh Huntington… Có thể một thiếu hụt oxytocine có thể đóng một vai trò trong những bệnh này. Trái lại, có một bệnh bẩm sinh nguồn gốc di truyền, hội chứng Williams, được đặc trưng bởi một vẻ mặt điển hình, một sự chậm phát triển tâm thần, những dị dạng tim, cũng như một sự thiếu hụt hoàn toàn các cơ chế ngờ vực và ức chế xã hội (inhibition sociale) và một hành vi quá xã hội (hypersocial). Như nhà sinh lý thần kinh nổi tiếng Antonio Damasio gợi ý, điều lý thú là xác định xem gène chịu trách nhiệm hội chứng Williams có thể liên quan vào trong một sự rối loạn sản xuất ocytocine hay của các thụ thể của nó hay không. Nguồn: (GENERALISTE 11/9/20008)
8/ CHIẾN DỊCH PHÁT HIỆN UNG THƯ ĐẠI TRÀNG CHO 16 TRIỆU NGƯỜI PHÁP
Viện quốc gia ung thư Pháp phát động một chiến dịch thông tin đại chúng.
16 triệu người Pháp tuổi từ 50 đến 74 tuổi sẽ nhận tại nhà trong những tháng sắp đến một lá thư khiến họ yêu cầu các bác sĩ gia đình tham gia vào chiến dịch phát hiện ung thư đại tràng.
Ung thư đại trực tràng là một trong những ung thư thầm lặng tăng sinh trong ruột của chúng ta mà không biểu hiện triệu chứng, ít nhất là lúc ban đầu. Đó thường là những polype, những cục bướu ở bề mặt của đại tràng, biến hoá, trở thành ung thư, và cuối cùng nếu không được chẩn đoán và điều trị, xâm nhập những mô chung quanh. Trên thế giới, mỗi năm có 437.000 người chết vì một ung thư đại tràng. Trong số những người này, có gần 100.000 người châu Âu, đàn ông và đàn bà, trẻ em và già cả : ung thư đại tràng chiếm 15% của tất cả các ung thư ác tính và ở Pháp, có 33.500 trường hợp mới được khám phá mỗi năm, kèm theo 16.000 trường hợp tử vong.
GIẢM TỶ LỆ TỬ VONG 10%
Thế mà có hai phương tiện chiến lược để điều tra phát hiện kịp thời các khối u, mà viện quốc gia ung thư muốn đặt dưới sự sử dụng của người dân, thành hai thời kỳ. Trắc nghiệm đầu tiên là tìm kiếm máu ẩn (không có thể nhìn thấy được) trong phân (Hémoccult 2), được đề nghị một cách hệ thống cho những người từ 50 đến 74 tuổi, bằng thư gởi đến nhà. Những người này lấy hẹn với bác sĩ gia đình của họ để được thực hiện xét nghiệm và người thầy thuốc này sẽ gởi mẫu nghiệm đến các phòng xét nghiệm.
Nếu trắc nghiệm Hémoccult dương tính (hoặc 2% các trường hợp), một nội soi đại tràng (coloscopie: khám đại tràng bằng một hệ thống quang học dưới gây mê tổng quát) phải được thực hiện. Các con số cho thấy : đối với 100 xét nghiệm phân dương tính, nội soi đại tràng sẽ tìm thấy 5 đến 10 ung thư. Nhiều công trình nghiên cứu quốc tế đã cho thấy rằng nếu xét nhiệm Hémoccult được thực hiện trên một bộ phận quan trọng của dân chúng (ít nhất 50%), sự điều tra phát hiện sẽ hiệu quả làm giảm 15% tỷ lệ tử vong mà không làm biến đổi số những trường hợp mới. Ngày nay, 17 nước châu Âu đã bắt đầu thực hiện một chương trình điều tra phát hiện đại trà nhưng ở Trung tâm Quốc tế nghiên cứu về ung thư ở Lyon, người ta đánh giá rằng “chưa có nước nào thật sự đã thiết lập chương trình này trên toàn bộ lãnh thổ”. Ở Pháp, cần phải 10 triệu công dân chịu một điều tra phát hiện như vậy mới tránh được 1.500 tử vong mỗi năm. Nhưng không chắc chắn chút nào có thể đạt được mục tiêu đó. “Ở Nhật Bản, trên 120.000 trường hợp mới được phát hiện mỗi năm, chỉ có 6.500 trường hợp là chịu sự điều tra phát hiện đại chúng của một dân chúng rất có kỹ luật”,
“Nhưng sau hết, dầu tương đối không có hiệu quả, việc điều ta phát hiện đại chúng do Pháp đề nghị, đang được thực hiện trên căn bệnh này, và các người Pháp có thể tự mình phát hiện lấy bằng cách yêu cầu làm nội soi đại tràng. Kết quả sau cùng sẽ là phát hiện tốt hơn ở một giai đoạn sớm hơn và suy cho cùng, chính đó là điều chủ yếu”. Nguồn: (LE FIGARO 10/9/2008)
9/ UỐNG ÍT RƯỢU CHỐNG BỆNH SUY TIM
Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ đã cho thấy rằng một sự tiêu thụ rượu mức độ thấp đến trung bình dường như làm giảm nguy cơ bị suy tim nơi những người cao huyết áp.
Điều chứng thực này là của Luc Djousse và J.Michael Gaziano (Havard Medical School, Boston, Hoa Kỳ) từ các kết quả của Physician’s Health Study . Điều này có liên quan những bệnh nhân với tiền sử nhồi máu cơ tim hay đái đường cũng như những bệnh nhân không có những bệnh lý này.
Trong quá khứ, việc uống rượu đã được đặt trong mối liên quan với một sự gia tăng huyết áp và khi sự gia tăng này quan trọng, sẽ dẫn sự giãn tim. Trái lại, điều chưa được rõ ràng đó là hiệu quả, nơi những người cao huyết áp, của một sự tiêu thụ rượu ở mức độ thấp đến trung bình. Chính điều này đã thúc đẩy các nhà nghiên cứu phân tích các dữ kiện liên quan đến 5.153 người đàn ông cao huyết áp được tuyển mộ trong công trình Physicians’ Health Study.
Những người tham dự, không có những tiền sử tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim hay ung thư vào lúc thực hiện công trình nghiên cứu, đã được theo dõi trong 18 năm. Tuổi trung bình vào lúc bắt đầu nghiên cứu là 58 tuổi. So sánh với nhóm uống ít hơn một ly rượu mỗi tuần, những người uống nhiều có nguy cơ 11% thấp hơn (một đến 4 ly mỗi tuần) đến 62% thấp hơn (8 ly hoặc nhiều hơn mỗi tuần) phát triển một suy tim.
Cơ chế chính xác qua đó rượu có một tác dụng bảo vệ nơi những người cao huyết áp vẫn luôn luôn không được làm sáng tỏ. Có thể đó là do tác dụng lợi tiểu của nó, hoặc là do sự tăng cao nồng độ adiponectine mà nó gây ra trong huyết tương? Thật vậy, trong những mô hình động vật, người ta thấy rằng adiponectine bảo vệ chống lại các bệnh tim. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 7/10/2008)
10/ TIÊU THỤ ĐẬU NÀNH LÀM GIẢM NGUY CƠ UNG THƯ VÚ

Tiêu thụ một suất đậu nành mỗi ngày góp phần làm giảm 18% nguy cơ phát triển một ung thư vú. Thông tin này phát xuất từ một công trình nghiên cứu nơi 35.000 phụ nữ người Hoa tuổi từ 45 đến 74. Nghiên cứu mới này được gộp vào trong công trình nghiên cứu toàn bộ Singapore Chinese Health Study. Sau khoảng 5 năm rưỡi, một ung thư vú đã được chẩn đoán nơi 629 trong số 35.000 phụ nữ này. Các phụ nữ uống lượng đậu nành cao nhất mỗi ngày (nghĩa là 10 mg isoflavones hoặc hơn cho mỗi 1000 kcal) có một nguy cơ thấp hơn phát triển một ung thư vú, so với những phụ nữ uống ít đậu nành hơn. Hiệu quả quan trọng nhất được đặc biệt được nhận thấy nơi những phụ nữ mãn kinh. Một suất tofu hay một thể tích 100 ml nước uống đậu nành đã chứa một lượng 10 mg isoflavone. Do đó, những người bình thường không uống nhiều đậu nành, có thể dễ dàng cho lượng này vào trong chế độ ăn uống thường ngày của họ.
Công trình nghiên cứu khoa học cho thấy rõ rằng những kết quả dương tính được chứng nhận đặc biệt nơi các phụ nữ đã bắt đầu uống lúc còn trẻ tuổi. Ở Á Châu, những sản phẩm trên cơ sở đậu nành là một bộ phận của chế độ ăn uống điển hình ngay lúc còn rất nhỏ tuổi. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 3/10/2008)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(16/10/2008 )


Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com


>>>back>>>

Tin Mới Y Học