 |
Thời
Sự Y Học số 91
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ HIPPOCRATE CỦA TRUNG
HOA
Cuối thế kỷ thứ hai và đầu thế kỷ thứ ba của công nguyên là một thời kỳ
quan trọng đối với nền y học Trung Hoa. Chính đặc biệt trong thời kỳ này
Zhang Zhongjing, Hippocrate Trung Hoa, sống và làm việc.
Vào cuối thế kỷ thứ hai, y học Trung Hoa đã thực hiện một bước tiến khổng
lồ, dưới sự thúc đẩy quyết định của hai thầy thuốc mà sự thực hành dựa
trên một tác phẩm đã có từ một thế kỷ. Cũng như Nội Kinh của Hoàng Đế,
“Nanjing” (Sách giáo khoa về những khó khăn) gồm 81 chương với mỗi chương
đề cập đến một vấn đề gai góc. Tuy nhiên tác phẩm thứ hai này mạch lạc
hơn tác phẩm trước, các lý thuyết mâu thuẫn đã được loại bỏ ; trái lại,
cũng ở đây, lý thuyết và thực hành được phát triển nhiều, và ngoài ra
châm cứu chiếm một vị trí ưu tiên.
TÁC PHẨM THAM KHẢO
Lúc còn rất trẻ ông đã bắt đầu tìm hiểu những nguyên tắc của y học, được
viết bởi người đồng hương Zhang Bozu, trước khi nghiên cứu các tài liệu
y học hiện hành. Chúng ta cũng chịu ơn ông “ Shang Han Za Bing Lun ”,
tác phẩm tham khảo đã đòi hỏi ông nhiều năm làm việc trước khi được hoàn
thành vào năm 210... và biến mất ít lâu sau khi được cho xuất bản, sau
một trong những cuộc chiến đã tàn phá Trung Hoa trong suốt thời kỳ này.
Tuy nhiên, sau khi Zhang Zhonggjing mất, các học trò và môn đệ của ông
đã có thể thu thập phần lớn của các công trình của ông thành hai tập.
Như tên của tác phẩm chỉ rõ, “ Shang Han Lun” ( Khái luận về lạnh có hại)
đề cập đến các bệnh lý liên quan đến lạnh, nêu ra những nguyên nhân và
những cách hay nhất để phát hiện (bắt mạch). Tác phẩm thứ hai, “Jin Kui
Yao Lue Fanglun” (Traité des prescriptions de la chambre d’or), là một
loại sưu tập các kinh nghiệm lâm sàng của thầy thuốc.
NĂM ĐỘNG VẬT
Khi nhắc đến Zhang Zhongjing không thể không nghĩ đến Hua Tuo, người thầy
thuốc có quê ở Qiao trong huyện Pei. Cuộc đời của ông là đối tượng của
nhiều huyền thoại, nhưng ông thường được biết như là một thầy thuốc Lão
giáo, giỏi trong nghệ thuật ngoại khoa và gây mê. Người ta cũng gán cho
ông là tác giả của “Jeu des cinq animaux”, phương pháp thực hành trị liệu
nhắm bắt chước những cử động của 5 động vật ( cọp, nai, gấu, khỉ và sếu)
trong mục đích cải thiện sức khỏe. Tuy nhiên các bức họa chứng tỏ rằng
những cử động này đã được biết trước Hua Tuo; có lẽ ông này đã tổng hợp
chúng lại vào trong một phép điều trị duy nhất.
Trên bình diện y học, Hua Tuo nổi tiếng về khả năng tiên đoán một sẩy
thai trên cơ sở bắt mạch của một người đàn bà có thai, trong khi tư thế
của thai nhi cho phép ông xác định là đứa bé sẽ được sinh ra đời là trai
hay gái. Do nổi danh, Hua Toa đã được thủ lĩnh nổi tiếng Cao Cao, bị chứng
đau đầu mãn tính, có lẽ gây nên bởi một khối u não, đã mời ông đến chữa
bệnh. Nhờ châm cứu, vị thầy thuốc đã làm giảm cơn đau đầu của ông ta.
Về sau, một sự xung đột giữa hai người khiến Cao Cao ra lệnh hành quyết
Hua Tao vào năm 208. Một quyết định mà sau đó người chinh nhân này lấy
làm ăn năn tiếc rẻ : một năm sau khi người thầy thuốc quá đời, đứa con
trai được ưa thích của ông, Cao Chong lâm bệnh và chết. Người ta kể rằng
Cao Cao đã thốt lên : “Vì giết Hua Tao, tôi đã lên án tử hình con tôi”.
Nguồn: (GENERALISTE 24/7/2008)
2/ THAI NGHÉN : STRESS VÀ BỆNH TÂM THẦN
PHÂN LIỆT
Một công trình nghiên cứu được tiến hành trên các phụ nữ có thai trong
thời kỳ chiến tranh 6 ngày ở Israel năm 1967, đã cho phép chứng minh rằng
stress làm gia tăng nguy cơ sinh những đứa trẻ về sau sẽ phát bệnh tâm
thần phân liệt. Theo các tác giả, tác động của stress đạt tối đa vào tháng
thứ hai của thai kỳ và rất phụ thuộc vào giới tính của đứa bé. Các phụ
nữ có nhiều nguy cơ bị tâm thần phân liệt hơn đàn ông. Nguồn:
(LE SOIR 22/8/2008)
3/ CÁC GENE MỚI LIÊN HỆ TRONG BỆNH TÂM THẦN
PHÂN LIỆT
Từ nhiêu năm nay, các thầy thuốc tranh cãi về nguyên nhân của bệnh tâm
thần phân liệt (schizophrénie). Cứ 100 người có một người mắc phải bệnh
này, với những triệu chứng rất thay đổi, được đặc trưng bởi những rối
loạn trầm trọng của hành vi và tư duy (ảo giác, hoang tưởng suy diễn,
tự khép mình lại). Bệnh tâm thần phân liệt từ lâu đã được xem như là một
ẩn ngữ thật sự.
Trong nhiều năm nay, căn bệnh này, được thể hiện vào cuối thời kỳ thiếu
niên hay đầu thời kỳ trưởng thành, trước hết được giải thích bởi những
rối loạn quan hệ (perturbations relationnelles) giữa cha mẹ và con cái,
mặc dầu Freud đã thận trọng không quá lưu ý đến điều đó và đã không quá
liều lĩnh trong việc giải thích các triệu chứng đặc biệt này.
Hôm nay, tạp chí Anh Nature công bố 3 bài báo độc đáo, xác nhận tầm quan
trọng của các yếu tố di truyền trong sự quyết định của căn bệnh. Những
yếu tô môi trường khác, vẫn cần được khám phá, chắc chắn góp phần trong
việc sinh bệnh, bởi vì, thí dụ khi một trẻ sinh đôi bị bệnh tâm thần phân
liệt, thì đứa em hoặc anh có 50% nguy cơ đến lượt mình bị bệnh. Điều đó
chỉ rõ rằng các gène, tuy có một tác dụng quan trọng, nhưng không phải
là nguyên nhân duy nhất của bệnh.
Những công trình này chỉ thể hiện bước đầu của việc xây dựng ẩn ngữ di
truyền (puzzle génétique) của bệnh tâm thần phân liệt, căn bệnh vận dụng
hơn 100 gène khác nhau. Đối với nhà di truyền học Daniel Cohen, các công
trình nghiên cứu đang được tiến hành sẽ mở đường cho việc hiểu rõ hơn
và cho những hướng điều trị mới để điều trị bệnh loạn tâm thần này.
MỘT SƠ ĐỒ PHỨC TẠP
Từ gần một thập niên nay, các nhà di truyền học nghiên cứu bệnh tâm thần
phân liệt để khám phá căn nguyên của bệnh này. Nhiều rối loạn di truyền
được liên kết với bệnh này suốt trong những năm trước khi phát bệnh. 3
công trình nghiên cứu, được tiến hành trên một số lượng bệnh nhân rất
lớn bởi các nhóm nghiên cứu quốc tế, được công bố hôm nay trong tạp chí
Nature.
Hai công trình đầu lần lượt được thực hiện trên 1.433 và 3.391 bệnh nhân,
được so sánh với một số lượng tương tự những người chứng khỏe mạnh. Trong
hai tài liệu xuất bản này, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng vài nhiễu
loạn của bộ gène (génome) được gọi là NCV (nombre de copies variant) (được
đặc trưng bởi các mảnh nhỏ của bộ gène bị thiếu hụt hay bị vỡ) được tìm
thấy thường hơn nơi những người bị bệnh tâm thần phân liệt, so với các
người chứng.
Công trình nghiên cứu thứ ba, xuất hiện trong Nature Genetics, được thực
hiện bởi một nhóm nghiên cứu quốc tế, đã so sánh “chính tả” (orthographe)
của bộ gène của 479 bệnh nhân với các chính tả của 2.997 người chứng và
phát hiện rằng vài bất thường trong sự sắp hàng của các base (các chữ
của gène) được liên kết với một nguy cơ gia tăng bị tâm thần phân liệt.
“Tác động di truyền trong bệnh tâm thần phân liệt là rõ ràng từ nhiều
năm nay, giáo sư Daniel Cohen (một trong những người đầu tiên đã thiết
lập môn bản đồ của bộ gène) đã giải thích như vậy. Tuy nhiên, sơ đồ di
truyền (schéma génétique) có vẻ phức tạp. Có lẽ sơ đồ này bao gồm hơn
100 gène và những phối hợp khác nhau giữa các gènes. Đến nay, chỉ khoảng
15 gènes được liên kết với các bệnh này. Có lẽ phải thực hiện những loại
phân tích khác để khám phá chúng”.
Lợi ích của những nghiên cứu này không chỉ có tính cách kinh viện. “Người
ta càng nhận diện các gènes gây bệnh và người ta càng mở rộng các hướng
để tìm những hệ thống protéine bị rối loạn nơi các bệnh nhân, nhà di truyền
học nói tiếp. Có lẽ chính từ đó, chúng ta sẽ hiệu chính những điều trị
mới”. Những yếu tố môi trưởng liên hệ trong bệnh tâm thần phân liệt vẫn
cần phải khám phá. Vai trò của các virus, cúm nơi người mẹ trong lúc thai
nghén, các yếu tố tâm lý..., đã được nêu lên nhưng không có bằng cớ. Nguồn:
(LE FIGARO 31/7/2008)
4/ VITAMINE C ĐƯỢC THỬ NGHIỆM CHỐNG UNG
THƯ
Theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ được công bố hôm qua trong PNAS,
vitamine C hữu ích để điều trị ung thư nơi chuột. Nếu các lý thuyết khác
nghi ngờ tính hiệu quả của nó lúc cho bằng đường miệng, công trình nghiên
cứu cho thấy rằng tiêm vitamine C (đồng nghĩa với một nồng độ lớn hơn
trong cơ thể), làm giảm tiến triển của các tế bào ung thư. Nguồn:
(LE FIGARO 5/8/2008)
5/ MỘT GIỜ THẾ THAO MỖI NGÀY TRÁNH
BỊ LÊN CÂN TRỞ LẠI
Hoạt động vật lý là hệ luận cần thiết của một chế độ ăn uống làm gầy.
Theo một công trình nghiên cứu, hoạt động vật lý ít nhất 55 phút mỗi ngày
là cần thiết để tránh lên cân trở lại.
Thể dục cho phép tránh lên cân trở lại sau một chế độ ăn uống làm gầy,
với điều kiện tập thể dục ít nhất 55 phút mỗi ngày! Trong khi vào đầu
tháng 7, tờ New England Journal of Medicine, một tạp chí trình độ cao
của Hoa Kỳ, tự hỏi về chế độ ăn uống tốt nhất để làm gầy, thì một công
cuộc điều tra, được công bố hôm qua trong (Journal of American Medical
Association), đã cố gắng định mức lượng hoạt động vật lý cần phải thực
hiện để không bị béo phì trở lại sau khi đã được làm ốm đi. Câu trả lời,
ít nhất 55 phút mỗi ngày, năm ngày mỗi tuần, tỏ ra bó buột hơn các khuyến
nghị thông thường. Mãi đến nay, các thầy thuốc chuyên khoa thường gợi
ý thực hiện một hoạt động vật lý vừa phải hay cật lực 30 phút mỗi ngày,
năm lần mỗi tuần.
Tập thể dục là bổ sung cần thiết của chế độ ăn uống để làm ốm : thể dục
cho phép đồng thời làm mất calo và cùng lúc làm gia tăng khối lượng cơ.
Chính vì vậy, John M. Jakicic, thuộc Đại học Pittsburgh Hoa kỳ, giữa năm
1999 và 2003, đã tuyển mộ 201 phụ nữ béo phì (obèse) hay tăng thể trọng
(en surpoids) vào trong một công trình nghiên cứu can thiệp làm ốm (une
étude d’intervention pour maigrir). Mỗi người được cấp một khẩu phần từ
1.200 và 1.500 calo mỗi ngày. Ngoài ra các phụ nữ này phải chịu nhiều
mức luyện tập thể lực khác nhau (nhóm thứ nhất đốt 1000 calo, nhóm thứ
hai đốt 2000 calo mỗi tuần), tùy theo một hoạt động có cường độ trung
bình hay mạnh mẽ. Sau 6 tuần, tất cả những người tham dự đã đánh mất từ
8 đến 10% thể trọng của họ.
Ngược lại, không phải tất cả có khả năng giữ được những lợi ích của chế
độ luyện tập vật lý này. Sau 2 tháng, chỉ những phụ nữ tiếp tục tập 55
phút thể dục mỗi ngày đã thành công duy trì sự mất thể trọng 10%, còn
những phụ nữ khác tất cả đều phát phì toàn bộ trở lại .
“ Công trình của chúng tôi đã cho phép làm sáng tỏ lượng hoạt động vật
lý cần thiết để bảo tồn một trọng lượng ổn định sau khi đã theo một chế
độ ăn uống làm gầy, nhưng cũng chứng tỏ rằng có khó khăn khi phải chịu
chế độ luyện tập vật lý này mỗi ngày ”, các tác giả của công trình nghiên
cứu đã kết luận như vậy.
DÂN CHÚNG CÁC NƯỚC GIÀU QUÁ ÍT HOẠT ĐỘNG.
Việc thay đổi chế độ ăn uống không phải là yếu tố duy nhất chịu trách
nhiệm về sự phát triển của chứng béo phì trên thế giới. Sự biến mất việc
hoạt động vật lý trong đời sống hàng ngày là một yếu tố quan trọng. Dầu
đó là những vận chuyển, công tác nội trợ, việc làm hay những thú vui giải
trí, những hoạt động của chúng ta chỉ đòi hỏi rất ít sự tiêu hao năng
lượng. Hậu quả của sự ít hoạt động (sédentarité) này không chỉ là sự lên
cân. Các bệnh tim mạch, bệnh đái đường, những rối loạn cơ-xương cũng một
phần là do hoạt động vật lý không đầy đủ của dân chúng sống trong các
nước giàu có. Nguồn: (LE FIGARO 30/7/2008)
6/ HƯƠNG KHÓI LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ BỊ UNG
THƯ.
Sự sử dụng lâu dài nhựa hương (encens) trong những buổi lễ tôn giáo ở
châu Á làm gia tăng nguy cơ bị ung thư, theo những kết quả của một công
trình nghiên cứu quốc tế. Những người thắp hương mỗi ngày từ hơn 40 năm,
có 70% nhiều hơn nguy cơ phát triển vài loại ung thư . “ Người ta nói
tiếp xúc kinh diễn kéo dài. Nhưng chúng tôi không nói rằng họ phải ngừng
thắp hương ” , đồng tác giả của công trình nghiên cứu được thực hiện trên
một nhóm 61.000 người Hoa ở Singapour đã tuyên bố như vậy. Nguồn:
(LE SOIR 29/8/2008)
7/ HỘI
NGHỊ QUỐC TẾ VỀ SIDA NHẤN MẠNH VAI TRÒ CHỦ YẾU CỦA SỰ PHÒNG NGỪA.
Tháng 8 vừa qua, khoảng 23.000 người tập hợp ở Mexico để nghe kết quả
của những nghiên cứu về HIV và về các điều trị chống sida. Gia tăng cố
gắng để phòng ngừa và chống lại sự phân biệt (discrimination), nguyên
nhân làm duy trì dịch bệnh, là hai đề tài mạnh của Hội nghị quốc tế về
sida XVII, khai mạc hôm 3/8 ở Mexico.
Được công bố cách nay hai tuần, các con số mới nhất về tình trạng đại
dịch do virus HIV, chứng tỏ số các trường hợp nhiễm trùng mới và tử vong
năm 2007 đã giảm nhẹ, có thể cho cảm giác trấn an giả tạo. “Việc chấm
dứt bệnh sida không ở trong tầm tay, Peter Piot, giám đốc ban chấp hành
của Onusida đã cảnh cáo như vậy. Mỗi ngày có những người mới bị nhiễm
trùng, gần 3 lần nhiều hơn là những bệnh nhân được điều trị bởi antirétroviral.
Vì vậy, Ban Ki-moon, tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đã biểu lộ sự lo lắng:
“Hầu hết các nước vẫn còn nhiều việc phải làm để đạt mục tiêu mà họ đã
đề ra cách nay 2 năm vào lúc Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, đó là mục tiêu
mọi người đều có thể tiếp cận được các phương tiện phòng ngừa, điều trị,
săn sóc và hổ trợ chống lại HIV vào năm 2010. Do đó, họ sẽ có những khó
khăn lớn trong việc đạt được mục tiêu của Thiên niên kỷ cho sự phát triển
(Millénaire pour le développement), đó là ngăn chận và làm đảo ngược sự
lan tràn của bệnh sida từ nay đến 2015”.
Những cố gắng nghiên cứu đã mở rộng số các loại thuốc chống HIV có sẵn
để sử dụng và, nhất là , những cố gắng để thay đổi nấc thang trong sự
tiếp cận các điều trị của những nước nghèo, đã cho phép vượt qua, mặc
dầu với 2 năm chậm trễ, cái mốc 3 triệu người được điều trị với antirétroviraux
trong những nước này. Peter Piot kêu gọi “một sự phòng ngừa phối hợp”
(une prévention combinée). Trong một bối cảnh được đánh dấu bởi những
thất bại mới đây trong thử nghiệm vaccin phòng ngừa và của những thử nghiệm
mới với các chất diệt trùng, sự phòng ngừa kết hợp này nhằm kết hợp những
dạng thức khác nhau : túi dương vật (préservatif), giảm số bạn đường phối
ngẫu, cắt bao quy đầu ….
Trong phiên họp khoáng đại, cựu Bộ trưởng Y tế Mexico, Jaime Sepulveda,
đã nhấn mạnh về sự phát triển những nghiên cứu khoa học nhằm đánh giá
những loại phòng ngừa khác nhau : “Chúng ta có một tư tưởng tốt về điều
trị cần phải có và về những bệnh nhân nào cần phải điều trị. Nhưng đây
không phải là trường hợp đối với phòng ngừa ”.
Cuộc đấu tranh chống lại sự phân biệt (discrimination) là hệ luận của
sự phòng ngừa. Như Ban Ki-moon đã giải thích, “ Trong những đất nước không
có luật lệ để bảo vệ các gái mãi dâm, những người dùng ma túy và những
người đồng tình luyến ái, chỉ có một bộ phận dân chúng là tiếp cận được
với phòng ngừa ”. Ông Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc nói thêm: “Không bảo
vệ những nhóm người này, đó không chỉ trái với đạo đức ; điều đó không
có một ý nghĩa gì trên phương diện y tế.”
Vị tổng thống Mexico, Filipe Calderon, nhắc lại rằng phải “đương đầu không
chỉ virus gây ra căn bệnh khủng khiếp này, mà còn các huyền thoại, các
thành kiến, sự phân biệt, gây nên biết bao thiệt hại cho xã hội, cũng
như chính virus vậy”. Nguồn: (LE MONDE 6/8/2008)
8/ UNG
THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG : NGUYÊN NHÂN DI TRUYỀN.
Sự khám phá một biến đổi di truyền làm gia tăng đáng kể nguy cơ bị ung
thư đại-trực tràng hẳn phải cho phép cải thiện việc phòng ngừa chứng bệnh
ung thư này, một trong những nguyên nhân chính của tử vong trong các nước
công nghiệp hoá, theo những công trình được công bố. Những nhà nghiên
cứu Hoa Kỳ đã xác định rằng đặc điểm di truyền này hiện diện nơi 10 đến
20% các trường hợp ung thư đại tràng. Nếu một người thừa hưởng đặc điểm
di truyền này từ gia đình mình, nguy cơ có một ung thư đại trực tràng
là 50% cao hơn trong suốt cuộc đời của anh ta, so với toàn bộ dân chúng
(nguy cơ 6%). Nguồn: (LE SOIR 18/8/2008)
9/ NHỮNG ĐIỀU TRỊ CHỐNG VÔ SINH ĐỀU VÔ ÍCH
Các điều trị y khoa chống vô sinh (infertilité), được sử dụng từ lâu,
dường như không cải thiện được khả năng sinh đẻ (fertilité) của các cặp
vợ chồng, theo một công trình nghiên cứu được công bố trong ấn bản vừa
qua của British Medical Journal (BMJ). Công trình nghiên cứu bệnh viện
được thực hiện trên 680 phụ nữ Anh, bị bệnh vô sinh không giải thích được
từ hơn 2 năm. Các phụ nữ này được chia thành 3 nhóm : nhóm thứ nhất nhận
một điều trị kích thích buồng trứng bằng đường miệng (citrate de Clomifène
được sử dụng từ hơn 30 năm nay), nhóm thứ hai được thụ tinh nhân tạo trong
tử cung (insémination intrautérine du sperme) nhưng không có kích thích
buồng trứng và nhóm thứ ba được khuyến khích theo đuổi cố gắng có con
một cách tự nhiên mà không có sự can thiệp của y khoa.
Tổng cộng, 101 phụ nữ, trở nên có thai, đã sinh ra đời một em bé trong
thời gian công trình nghiên cứu được thực hiện. Trong nhóm không có can
thiệp y khoa, tỷ lệ sinh con sống là 17%, so với 14% trong nhóm dùng thuốc
kích thích buồng trứng citrate de Clomifène và 23% trong nhóm thụ tinh
nhân tạo trong tử cung không kích thích buồng trứng. Ở Anh quốc cứ 7 cặp
vợ chồng thì có một cặp bị những vấn đề vô sinh. Những trường hợp vô sinh
không giải thích được chiếm ¼ trong số các trường hợp. Theo các tác giả,
điểm đáng lưu ý là, những phụ nữ được can thiệp y khoa ( dùng thuốc kích
thích buồng trứng hay thụ tinh nhân tạo trong tử cung ) đã cảm thấy an
tâm, trong khi các phụ nữ được khuyên có thai một cách tự nhiên không
can thiệp, tỏ ra ít thỏa mãn hơn, mặc dầu phương pháp này có một hiệu
quả tương đương. Các chuyên gia của đại học Aberdeen gợi ý rằng cần thông
tin tốt hơn cho các phụ nữ về những tác dụng phụ, gây khó chịu cho 10%
các phụ nữ được điều trị với kích thích buồng trứng : đỏ phừng mặt, nôn,
đau bụng. Nguồn: (LE SOIR 12/8/2008)
10/ MỘT CÁI MŨI ĐỂ PHÁT HIỆN UNG THƯ DA
Chiếc máy có thể cho phép thực hiện chẩn đoán sớm mà không cần làm sinh
thiết.
Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã cho thấy rằng một vài loại ung thư da, các
carcinome baso-cellulaire, ít hung hãn nhất, tỏa ra một mùi đặc biệt khả
dĩ được phát hiện nhờ những cái mũi điện tử. Họ đã trình bày những công
trình này ở hội nghị hàng năm của American Chemical Society, bế mạc hôm
qua ở Philadelphie.
“Từ lâu, cộng đồng khoa học nghi ngờ rằng các mùi phát ra từ các ung thư
da, nhưng chúng tôi là những người đầu tiên đã nhận diện chúng và đo lường
các cấu chất mà chúng chứa” , Michelle Gallgher, thuộc Monell Chemical
Senses Center ở Philadelphie đã xác nhận như thế. “Sự khám phá này mở
đường cho những phương thức mới để chẩn đoán ung thư da, căn cứ trên các
mùi, sẽ đưa đến chẩn đoán nhanh hơn và không cần phải làm sinh thiết ”
.
Carcinomes baso-cellulaires, loại ung thư da thường xảy ra nhất (60 đến
80 trường hợp mới trên 100.000 người mỗi năm), chủ yếu gây bệnh cho những
người có da sáng, rất nhạy cảm với các tia tử ngoại. Mặc dầu không có
tính chất nghiêm trọng của các ung thư da khác, nhưng chúng có thể gây
nên những hủy hoại mô quan trọng nếu chúng không được phát hiện và điều
trị kịp thời.
Mong muốn kiểm tra xem mùi của ung thư có thật sự là một hướng đáng tin
cậy hay không, nhóm của giáo sư Gallagher đã lấy máu và phân tích không
khí ở gần các khối u của 11 bệnh nhân bị dạng thông thường nhất của ung
thư da này (carcinome baso-cellulaire). Các nhà khoa học sau đó đã so
sánh những phân tích này với những dữ kiện thu lượm được nơi những người
lành mạnh. Các kết quả cho thấy các mùi phát ra từ các khối u khác với
mùi của các mô lành mạnh. “Cùng những hợp chất hóa học hiện diện nơi tất
cả những người tham dự. Nhưng gần các khối u ung thư, nồng độ của một
vài trong những chất này tăng lên, trong khi những chất khác giảm xuống,
so sánh với da của những người lành mạnh”.
Các nhà nghiên cứu dự kiến sáng tạo một “mũi điện tử” có khả năng phát
khởi một báo động trong trường hợp có sự hiện diện của một carcinome baso-cellulaire
và họ đang đưa đơn đòi bằng sáng chế...Một sự khẳng định làm GS Louis
Dubertret, trưởng khoa da BV Saint-Louis Paris, phải mỉm cười. “Mặc dầu
công trình nghiên cứu này là lý thú, nhưng nó sẽ không bao giờ cạnh tranh
được với những máy phân tích hình ảnh bằng vi tính, ngày nay đang phát
triển mạnh. Những máy này, đặc biệt có hiệu năng, bắt đầu có thể thực
hiện những chẩn đoán mô học mà không cần phải lấy mô làm sinh thiết”.
Chắc chắn đó mới là tương lai của khoa da. Nguồn: (LE
SOIR 22/8/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(4/9/2008 )
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |