 |
Thời
Sự Y Học số 88
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ FRANZISKA TIBURTIUS (1843-1927):
VỀ NỖI KHÓ KHĂN LÀ PHỤ NỮ VÀ THẦY THUỐC TRONG ĐẾ QUỐC ĐỨC VÀO THẾ KỶ THỨ
XIX
Trên một con tem của loạt “Frauen der deutschen Geschichte” (Các phụ nữ
của lịch sử Đức), được phát hành vào năm 1988, người ta thấy hình của
Dorothea Christiane, nổi tiếng là người phụ nữ đầu tiên đã được trao tước
vị tiến sĩ y khoa năm 1754 bởi Đại Học Halle. Tuy vậy, mặc dầu giai đoạn
này, nước Đức đã là nước cuối cùng của châu Âu cho phép các phụ nữ theo
ngành y. Câu chuyện của Franziska Tiburtius chứng tỏ nhiều khó khăn mà
các phụ nữ Đức của thế kỷ thứ XIX đã gặp phải để có quyền được làm thầy
thuốc.
MỘT TUỔI TRẺ DÀNH CHO GIẢNG DẠY
Franziska Tiburtius sinh năm 1843 ở Bisdamitz trên đảo Rugen trong biển
Baltique. Ông bố là người làm nghề quản lý. Cha mẹ cua Franziska cho phép
cô theo học một trường cao đẳng tư thục dành cho các thiếu nữ ở Stralsund,
một hải cảng của Poméranie nhìn ra biển Baltique. Năm 1859, Franziska
lấy được văn bằng nữ giáo viên và cống hiến những năm tháng sau đó cho
giảng dạy và sư phạm: cô làm việc trước hết như cô dạy trẻ và cô giáo
dạy kèm nơi các nhà của các tư nhân cho đến năm 1867, rồi như cô giáo
trong các trường tư thục, các viện mồ côi. Năm 1869, cô đi qua Anh và
làm việc với tư cách nhà giáo.
Năm 1870, năm của chiến tranh Pháp-Phổ, là một năm mấu chốt đối với Franziska.
Dưới ảnh hưởng của người anh Karl, thầy thuốc quân y, cô quyết định thay
đổi dòng đời bằng cách đi theo một hướng khác hẳn. Thế là chấm dứt nghề
giảng dạy, Franziska quyết định trở thành thầy thuốc.
ĐOẠN ĐƯỜNG CHIẾN BINH
Nói dễ mà làm khó, các viện trưởng của các đại học Đức hoàn toàn chống
đối tiếp nhận các nữ sinh viên vào trong các bức tường của các đại học.
Ngay năm 1865, Bộ trưởng giáo dục đã chống lại việc thành lập các trường
trung học (lycée) để chuẩn bị cho các thiếu nữ thi tú tài và vào học đại
học. Do đó Franziska không thể học y khoa ở Đức. Để vượt qua khó khăn
này, cô đi Zurich, Thụy Sĩ, vì ở đây phân khoa y là phân khoa đầu tiên
mở các cánh cửa cho các phụ nữ đến từ nhiều nước, để có thể thực hiện
thiên chức nghề nghiệp của mình.
Năm 1876, cô nhận được văn bằng và trở lại Đức, ở Rambin, là nơi mẹ cô
trú ngụ và cô hành nghề trong 6 tuần. Dân làng đề nghị với cô làm việc
như thầy thuốc của làng với tiền lương cố định. Nhưng Franziaka từ chối,
trước hết cô đi làm việc tình nguyện ở Leizig rồi sau đó đi Dresde, ở
đây cô có ý định theo học chuyên khoa phụ khoa. Cô tìm được một chỗ làm
với chức năng trợ tá trong một bệnh viện tư dành cho các phụ nữ ở Dresde
của BS Winkler. Franziska nuôi hy vọng thi lấy lại văn bằng ở Đức. Nhưng
mặc dầu tốt nghiệp thầy thuốc ở Zurich, cô đã bị từ chối ngay cả quyền
xin được dự thi làm nữ hộ sinh.
FRANZISKA TIBURTIUS, Dr MED. Ở ZURICH... HEIPRAKTIKER
Ở BERLIN.
Franziska sau đó quyết định đi lập nghiệp ở Berlin, ở tại nhà ông anh
là thầy thuốc và chị dâu là nha sĩ. Năm 1877, cô mở một bệnh viện tư dành
cho phụ nữ, với một đồng nghiệp cũng tốt nghiệp ở Zurich như cô, BS Lehmus.
Họ là hai thầy thuốc nữ duy nhất ở Berlin. Nhưng thật ra, Franziska và
đồng nghiệp của mình không được các cấp y tế công nhận văn bằng tốt nghiệp
ở Zurich. Trên biển treo, họ phải ghi rõ “Dr. Med in Zurich”. Họ chỉ có
một quy chế “Heilpraktiker”, nghĩa là y sĩ (officier de santé) nhưng không
được chấp nhận tước hiệu thầy thuốc như các thầy thuốc nhận văn bằng tốt
nghiệp ở Đức, văn bằng y khoa duy nhất được chính thức công nhận. Họ không
có quyền ký đơn thuốc, cũng như không được chứng nhận giấy khai tử.
Bệnh viện tư dành cho phụ nữ của họ nằm trong một khu thợ thuyền ở Berlin.
Những bước khởi đầu hơi khó khăn, nhưng sự có mặt sẵn sàng, khả năng chuyên
môn và tính rộng lượng của các BS Tiburtius và Lehmus đã nhanh chóng mang
lại cho họ một khách hàng càng ngày càng đông đảo. Tiền thù lao được đòi
hỏi lên đến 10 pfennig “để trang trải các chi phí sưởi ấm và thắp sáng”,
Franziska đã kể lại như vậy trong “hồi ký của một cụ bà 80 tuổi” (Mémoires
d’ une octogénaire), được cô cho xuất bản năm 1923. Họ cũng phân phát
miễn phí thuốc men cho những người nghèo khổ nhất.
Từ năm 1877 đến 1897, nhiều ngàn phụ nữ (16.999) lui tới bệnh xá của họ,
tại đây hai “Heilpraktiker Dr. In Zurich” của chúng ta, vào năm 1890,
được gia nhập bởi một thầy thuốc nữ thứ ba, BS Bluhm.
60 NĂM TRANH ĐẤU CHO NỮ QUYỀN ĐỂ ĐƯỢC CHẤP NHẬN
VÀO NGÀNH Y
Franziska, bên cạnh việc hành nghề y khoa, là một chiến sĩ theo chủ nghĩa
bình quyền (une militante féministe), đấu tranh tích cực để việc cấm đoán
học hành của các phụ nữ được bãi bỏ.
Ngay vào năm 1850, một nhóm các người theo chủ nghĩa bình quyền Đức, có
khoảng 80.000 hội viên, kiến nghị để cho các phụ nữ được quyền theo học
y khoa. Nhiều hiệp hội theo chủ nghĩa bình quyền được thành lập vào những
năm sau đó để yêu cầu cho các phụ nữ được nhận thi tú tài và vào đại học.
Vấn đề này được đưa ra trước Reichstag năm 1871, nhưng người ta trả lời
với họ rằng luật pháp Đức không cấm phụ nữ hành nghề y khoa : điều trở
ngại duy nhất là họ bị cấm đoán không được theo học các trường cao đẳng...
và việc tổ chức các trường này tùy thuộc vào các tiểu bang khác nhau.
Năm 1893, "Frauenbildungreform”, một hội nữ quyền (société féministe)
đấu tranh để cải cách giáo dục phụ nữ, đã thành lập ở Karlsruhe một ngôi
trường trong đó các thiếu nữ được đào tạo như các học sinh nam để có thể
thi lấy bằng bằng tú tài.
Năm 1894, sau cùng các đại học Đức chấp nhận các nữ sinh viên với tư cách
là các sinh viên tự do. Năm 1898, các phụ nữ có thể dự thi do nhà nước
tổ chức để vào đại học. Tuy nhiên các phụ nữ Đức còn phải đợi đến năm
1908/1909 để sau cùng được chính thức nhận vào trong các phân khoa y khoa…
và chỉ được công nhận chính thức tước hiệu thầy thuốc năm 1914…!
CHẤM DỨT MỘT HUYỀN THOẠI
Năm 1908, Franziska Tiburtius cùng với BS Agnes Hacker mở bệnh viện tư
ngoại khoa của các thầy thuốc nữ, ở đây các phụ nữ không được bảo hiểm
bởi “Krankenkasse” (bảo hiểm bệnh tật) được chấp nhận và thuốc men được
cho miễn phí. Năm 1908, lúc gần 64 tuổi, BS Tiburtius ngừng làm việc sau
30 năm hành nghề. Sau đó Franziska thực hiện nhiều cuộc du lịch khoa học:
Rome, Tây Ban Nha, Sicile, Palestine, châu Mỹ, Bắc Phi, Ai Cập.
Bà cũng xuất bản các cuốn sách “Bệnh Viện của các thầy thuốc nữ và Hồi
Ký của một lão bà bát tuần, cuốn sách tiểu sử, được xuất bản năm 1923
và thu được thành công lớn.
Khi Franziska chết ở Berlin trong bệnh viện tư của bà, năm 1927, bà đã
là một huyền thoại.
“Cuộc đời tôi thật là tuyệt diệu”, bà đã viết như vậy trong hồi ký của
bà, “Cuộc đời này đã chỉ toàn là những nỗi khó khăn và công việc”. Nguồn:
LA SEMAINE MEDCALE (15/5/2008)
2/ ĐỘT PHÁ KHẨU TRONG ĐIỀU
TRỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG
MONTREAL. Các nhà nghiên cứu của Montréal đã khám phá ra rằng các tế bào
của tụy tạng sản xuất insuline, có khả năng tái sinh thành những tế bào
gốc (cellules souches). Quan sát này, lần đầu tiên được thực hiện trên
những tế bào người in vitro, mở đường cho những điều trị mới nhằm kiểm
soát bệnh đái đường, thậm chí chữa lành hoàn toàn. Công trình nghiên cứu
được thực hiện hiệp đồng giữa Đại học McGill và Đại học Montréal. Giai
đoạn kế tiếp bây giờ đây nhằm nắm rõ hơn cơ chế cho phép những tế bào
biệt hóa này trở lại một trạng thái phát triển nguyên thủy. Theo một trong
những nhà nghiên cứu, BS Lawrence Rosenberg, các kết quả này rất là đáng
phấn khởi để phát triển các liệu pháp điều trị nơi những người bị bệnh
đái đường loại 1 và 2. Nguồn: METRO (25/7-27/7/2008)
3/ LẦN ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI: GHÉP CẢ HAI
CÁNH TAY
Bị cắt cụt cả hai cánh tay từ 6 năm nay, một nhà nông người Đức 54 tuổi
đã được ghép cả hai chi trên. Ghép toàn bộ cả hai cánh tay đã được thực
hiện lần đầu tiên trên thế giới, trên một người đàn ông bị cắt cụt hai
chi trên từ 6 năm nay, bệnh viện của đại học kỹ thuật Munich, nơi cuộc
giải phẫu đã được tiến hành, đã loan báo như vậy.
Bệnh nhân là một nhà nông người Đức 54 tuổi, khỏe mạnh sau khi đã chịu
một phẫu thuật kéo dài 15 giờ. Cuộc giải phẫu đã bắt đầu ngày 25/ 7, lúc
10 giờ, và đã kết thúc ngày hôm sau, lúc 13 giờ. Cuộc giải phẫu có thể
thực hiện được là nhờ một người đàn ông bị chết và đã đồng ý cho hai cánh
tay.
Các phẫu thuật ghép bàn tay và cẳng tay (avant-bras) đã được thực hiện
trên thế giới, nhưng chưa bao giờ ghép toàn bộ cả hai cánh tay. Ấn số
chính là nơi khả năng phục hồi vận động sau khi ghép, vì chiều dài của
toàn bộ chi, rất lớn hơn chiều dài của bàn tay. Thật vậy, sự tái sinh
thần kinh bắt đầu từ mỏm cụt (phải theo lộ trình của các dây thần kinh
đến tận đầu các chi), chỉ tiến triển với nhịp rất chậm 1mm mỗi ngày!
Giáo sư Christophe Hohnke ước tính rằng “trong cuộc chạy đua để thần kinh
mọc trở lại, ít nhất cần phải 2 năm kiên nhẫn trước khi có thể phán đoán
về tính hiệu quả của sự mọc lại này. Và dẫu sao đi nữa, bệnh nhân và nhóm
phẫu thuật đã chuẩn bị tinh thần cho việc chỉ thấy sự hồi phục xảy ra
một phần, và sự giới hạn của tính vận động”.
Khó khăn khác: sự cần thiết phải ghép nhiều tủy xương, cần thiết cho sự
“lấy” của mảnh ghép. Mà tủy xương có dồi dào hơn trong cánh tay so với
trong bàn tay riêng lẻ.
NHỮNG NĂM SỬA SOẠN.
Nhà nông người Đức bị cắt cụt hai cánh tay cho đến tận hai vai sau tai
nạn lao động trong đó các chi của ông ta đã quá bị tổn hại không thể cho
phép autogreffe tức thời. Sau khi đã thử không thành công, trong hai lần,
dùng các khớp giả nhân tạo, anh ta đã hướng về bệnh viện Munich, được
biết tiếng về giải phẫu tạo hình. Một nhóm 40 người, chuyên về vi phẫu
thuật và ghép, đã tham gia vào cuộc giải phẫu chưa từng có này, dưới sự
điều khiển của các giáo sư người Đức Chritoph Hohnke và Edgar Biemmer.
Cuộc chuẩn bị đã kéo dài nhiều năm: thăm khám sức khỏe vật lý của bệnh
nhân, đặc biệt là sức đề kháng của anh ta với tình trạng suy yếu của hệ
miễn dịch, mà một cuộc phẫu thuật ghép như vậy gây nên, thăm khám về trạng
thái tâm thần và về môi trường xã hội của anh ta. Rồi thì, phải tìm kiếm
một người cho (donneur) đã chết, cùng lứa tuổi, giới tính, nhóm máu, cùng
kích thước và màu da với người được ghép.
Năm 2003, chính sự thành công của trường hợp ghép kép cẳng tay và bàn
tay trên một bệnh nhân 41 tuổi, Franz Jamming, ở đại học Innsbruck, bởi
G.S Raimund Margreiter, đã làm đẩy nhanh tất cả mọi việc. Các chi đã được
ghép gần với cùi chõ hơn là hai tay của Denis Chatelier (đã được thực
hiện ở Lyon, ngày 14 tháng giêng năm 2000).
“Nhóm phẫu thuật của chúng tôi đã tiếp xúc với G.S Margreiter từ đầu,
và chính sự thành công của ông ta dường như đã cho phép giai đoạn sau,
nhà phẫu thuật người Đức đã xác nhận như thế. Chúng tôi cũng đã có may
mắn là thời gian thiếu máu cục bộ (ngừng tuần hoàn) của các cánh tay của
người cho rất ngắn và rằng không có chấn thương cấp tính nữa nơi người
nhận”. Từ nay còn cần phải chế ngự những vấn đề thải bỏ (rejet) của các
chi bị ghép. Đối với G.S Hohnke, không có gì phải e ngại.
Khoảng 40 phẫu thuật ghép bàn tay đã diễn ra trên thế giới từ cuộc ghép
tay đầu tiên, được thực hiện ở Lyon bởi giáo sư Jean-Michel Dubernard,
trên Clint Hallam, vào tháng 9 năm 1998. Nguồn: LE
FIGARO (3/8/2008)
4/ ĂN UỐNG NITRATE CÓ MỘT TÁC DỤNG CÓ LỢI
LÊN LOÉT.
Các chất nitrate được chứa trong các trái cây và rau xanh sẽ ngăn ngừa
các ung loét dạ dày! Làm sao thế? Các vi khuẩn của xoang miệng biến đổi
nitrates thành nitrites, nitrites sau đó được biến hóa thành oxyde nitrique.
Mà, Joel Peterson, của đại học Uppsala (Thụy Điển) đã cho thấy rằng trong
dạ dày, oxyde nitrique kích thích sự tái sinh và tưới máu niêm mạc dạ
dày, bị thương tổn trong bệnh loét dạ dày. Nguồn :
SCIENCE ET VIE (7/2008)
5/ BÍ MẬT CỦA MỘT TRONG NHỮNG NGUYÊN NHÂN
CHẾT ĐỘT NGỘT VỪA ĐƯỢC GIẢI QUYẾT
Mỗi năm ở châu Âu, từ 350.000 đến 400.000 người, phần nhiều là những người
trẻ tuổi, bị chết một cách đột ngột. Ở Hoa Kỳ cũng vậy. Những trường hợp
tử vong này thường là hậu quả của những rối loạn nhịp tim quan trọng,
được phát khởi bởi một nhồi máu cơ tim. Nhưng người ta cũng biết rằng,
trong gần 10% các trường hợp, mặc dầu giải phẫu tử thi được thực hiện,
không có một nguyên nhân nào có thể được tìm thấy. Trong trường hợp này,
không phải là hiếm rằng ngất xỉu, mất tri giác đột ngột và ngắn hạn đã
xảy ra trước tai nạn chết người.
Một nhóm nghiên cứu quốc tế gồm những chuyên gia tim, được điều khiển
bởi các bác sĩ Michel Haissaguèrre và Jacques Clémenty (CHU de Bordeaux),
đã thực hiện một khám phá độc đáo về đề tài này. Sau một công bố trong
các cột của tờ New England Journal of Medicine (8/5), công trình này đã
được trình bày chi tiết nhân hội nghị quốc tế “Cardiostim” quy tụ ở Nice,
từ 18 đến 21/6, các chuyên gia về các rối loạn của sự điều hòa điện tim.
22 trung tâm tim học của 8 nước châu Âu, Bắc Mỹ và Á Châu đã cùng nhau
đưa ra các dữ kiện. Họ đã có thể phân tích các hồ sơ y khoa của 206 người,
tuổi trung bình 35, và đã là, trong những tình huống khác nhau của đời
sống hàng ngày (gồm cả khi ngủ), nạn nhân của một trường hợp chết đột
ngột tạm thời trước khi được “hồi sinh” nhờ một phương pháp hồi sức y
khoa cao cấp.
“TÁI PHÂN CỰC SỚM” ( REPOLARISATION PRECOCE)
“Công trình nghiên cứu của chúng tôi tiết lộ rằng những tai nạn này có
thể có liên hệ mật thiết với sự hiện diện của một bất thường đã có trước
trên các điện tâm đồ. Những bất thường này được gọi là tái phân cực sớm
(repolarisation précoce), BS Haissaguuèrre đã tóm tắt như vậy. Bất thường
này cho đến mãi hôm nay vẫn được xem như có khả năng lành tính. Từ nay,
chúng tôi có một số các luận cứ xác lập mối liên hệ giữa bất thường này
và một phần những trường hợp chết đốt ngột không được giải thích”.
Thì ra bất thường này (tái phân cực sớm), đặc biệt hiện diện nơi 31% những
bệnh nhân được nghiên cứu (những người bị chết đột ngột không được giải
thích) trong khi người ta chỉ nhận thấy nó từ 1% đến 5% nơi dân chúng
nói chung. Các tác giả của công trình được công bố này, một mặt có những
dữ kiện cho phép nghĩ rằng một tố bẩm di truyền (prédisposition génétique)
là nguồn gốc của bất thường về điện này. Những nghiên cứu về đề tài này
hiện đang được tiến hành ở Nantes trong đơn vị Inserm do giáo sư Hervé
Le Marec điều khiển. Như vậy, người ta có thể đề nghị trong tương lai
những thăm khám kiểm tra y khoa về di truyền với mục đích phòng ngừa trong
những gia đình có một thành viên đã là nạn nhân của chết đột ngột không
được giải thích. Nguồn: LE MONDE (4/6/2008)
6/ ÁNH SÁNG SÁNG CHÓI CÓ THỂ CÓ ÍCH CHO
NHỮNG NGƯỜI BỊ CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ
Các nhà nghiên cứu đã đưa các ánh sáng sáng chói hơn vào các nhà dưỡng
lão và đã nhận thấy rằng các người già bị chứng sa sút trí tuệ (dementia)
có vẻ ít bị triệu chứng hơn.
Những cải thiện tuy có mức độ, nhưng công trình nghiên cứu chứng tỏ rằng
một biện pháp đơn giản có thể cải thiện đời sống cho nhiều người. Công
trình nghiên cứu, được công bố ngày 11/6 trên tờ The Journal of the American
Medical Association, cũng đã nhận thấy rằng việc cho các bệnh nhân bị
sa sút trí tuệ hormone melatonin, có thể giúp cải thiện giấc ngủ và tính
khí của họ, nhưng chỉ khi kết hợp với độ sáng được gia tăng.
Các nhà nghiên cứu đã mất 3 năm rưỡi để khảo sát các tác dụng của ánh
sáng và melatonin lên hơn 180 bệnh nhân trong 12 nhà dưỡng lão ở Hoà Lan.
Chứng sa sút trí tuệ thường được đặc trưng bởi sự suy sụp khả năng nhận
thức và những thay đổi tính khí, giấc ngủ và các mức độ hoạt động. Những
thay đổi phần não bộ giúp điều hòa nhịp ngày đêm (circadian rhythm) có
thể đóng một vài trò. Nguồn: INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE
(19/6/2008)
7/ SỎI THẬN: MỘT PHUƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ MỚI
BẰNG LASER QUA CÁC ĐƯỜNG TỰ NHIÊN
Những lợi ích của trị liệu mới nhất của sỏi thận mới đây đã được trình
bày ở hội nghị của Hiệp hội niệu khoa Hoa Kỳ ở Orlando. Giáo Sư Olivier
Traxer, thầy thuốc giải phẫu niệu khoa thuộc bệnh viện Tenon, Paris, giải
thích cho chúng ta nguyên tắc của phép điều trị này.
Hỏi :
Khi nào ta nói là sỏi thận. Đó là gì vậy?
G.S Olivier Traxer: Đối với căn bệnh này, chúng ta dùng hai thuật ngữ:
các “hòn sỏi” (calculs) (được cấu tạo bởi một khối những tinh thể khác
nhau, mà thông thường nhất là oxalate de calcium) và “lithiase”, là tên
của bệnh lý (sự việc phát triển các hòn sỏi), gây bệnh cho 10% dân số
Pháp. Nguyên nhân thông thường nhất là do chế độ ăn uống quá mặn, quá
nhiều chất đạm động vật, quá nhiều oxalate (hiện diện nhất là trong chocolat)
và phần lớn các bệnh nhân không uống nước đầy đủ!
Hỏi : Những triệu chứng nào làm nghi ngờ sự hiện diện
của một hòn sỏi ?
G.S O.T: Rất thông thường, các hòn sỏi có thể gây nên những cơn đau vùng
thắt lưng và những cơn đau quặn thận (coliques néphrétiques) khi hòn sỏi
bị kẹt trong niệu quản (uretère) (các cơn đau rất dữ dội gây bệnh cho
120.000 người ở Pháp mỗi năm). Do đó chẩn đoán lúc đầu được xác lập với
các dấu hiệu lâm sàng này và được xác nhận nhờ một khám nghiệm X quang,
thường nhất là với scanner.
Hỏi : Tùy theo kích thước, khi những hòn sỏi này vẫn
còn khu trú trong thận, các trị liệu thông thường là những trị liệu nào?
G.S O.T: Khi đó là các hòn sỏi có kích thước dưới 2 cm (hầu hết các trường
hợp) và luôn luôn nằm trong thận, người ta đề nghị điều trị bằng tán sỏi
ngoài cơ thể (lithotritie extracorporelle: LEC). LEC có thể được thực
hiện với gây mê tại chỗ, bằng một máy đặc biệt, trước đây gọi là “bồn
tắm” (baignoire), nhằm làm hòn sỏi bị vỡ từng mảnh nhờ các sóng siêu âm.
Các mảnh vỡ sau đó được thải ra tự nhiên bằng đường tiểu. Phép trị liệu
này cho phép thu được những kết quả tốt nơi 40.000 bệnh nhân được điều
trị hàng năm ở Pháp. Khi hòn sỏi đo trên 2 cm, khi đó người ta đề nghị
một giải phẫu qua da vi xâm nhập (chirurgie percutanée mini-invasive)
(bằng một đường xẻ trong lưng dài 1 cm) với gây mê tổng quát. Kỹ thuật
này cho những kết quả tuyệt vời : 95% thành công nơi 2 .500 bệnh nhân
được mổ mỗi năm ở Pháp.
Hỏi: Và khi những hòn sỏi này đi vào trong niệu quản
(uretère), khi đó những điều trị cổ điển là những điều trị nào?
G.S O.T: Đối với những hòn sỏi mà kích thước dưới 1cm, người ta còn dùng
kỹ thuật tán sỏi (technique de lithotritie). Nhưng để điều trị những hòn
sỏi trên 1cm, người ta thực hiện, dưới gây mê tổng quát, một ngoại khoa
vi xâm nhập được gọi là “ nội soi niệu quản ” (urétéroscopie). Khi đó,
dưới kiểm soát quang tuyến, thầy thuốc khoa niệu qua đường tự nhiên để
đi đến hòn sỏi bị kẹt và rút ra. Can thiệp này cho phép thu được 95% kết
quả tốt.
Hỏi : Những bất tiện nào do những trị liệu quy ước này?
G.S O.T: Với kỹ thuật tán sỏi (lithotritie), các siêu âm được dùng đôi
khi gây nên những chấn thương nhỏ trên thận, gây ra chảy máu và các khối
máu tụ. Vấn đề khác: trong vài trường hợp, thận không thải các mảnh còn
sót lại... các mảnh này sau đó sẽ lớn lên.. Phương thức ngoại khoa qua
da (chirurgie percutanée) đòi hỏi phải đi xuyên qua thận để đến hòn sỏi,
do đó có nguy cơ xuất huyết ( và những nguy cơ do phẫu thuật nói chung).
Bất tiện sau cùng: phẫu thuật này cần nhập viện 3 đến 4 ngày. Với nội
soi niệu quản (urétéroscopie), nguy cơ chủ yếu là làm hỏng niệu quản (uretère)
.
Hỏi : phương pháp mới điều trị bằng laser được thực hiện
như thế nào ?
G.S O.T : Đó là những phương thức được thực hiện bằng đường tự nhiên (dưới
gây mê tổng quát) để đi tìm kiếm, lần này, không những đến tận niệu quản,
mà còn đến cả thận nữa! Người thầy thuốc khoa niệu dùng một ống nội soi
có thể uốn được, rất mảnh ( đường kính 2,5 mm) và rất dài ( 70 cm), sẽ
cho phép thăm dò các xoang của thận nhờ một vi camera được đặt bên trong
dụng cụ. Một khi ống nội soi đến tiếp xúc được với hòn sỏi, người thầy
thuốc khoa niệu sẽ đưa vào trong ống nội soi một sợi laser làm vụn tan
hòn sỏi ( hòn sỏi được biến hóa thành những hạt mịn giống như cát). Những
ngày tiếp theo sau đó, các chất cặn sẽ được thải ra trong nước tiểu. Cần
phải tính 1 giờ điều trị để làm tan vụn một hòn sỏi 1cm. Kỹ thuật mới
này, chỉ cần nhập viện 24 giờ, có ít chống chỉ định: chống chỉ định chủ
yếu là một căn bệnh làm việc gây mê tổng quát không thể được thực hiện.
Kỹ thuật này có thể được sử dụng trong trường hợp có chống chỉ định đối
với phép trị liệu quy ước.
Hỏi : Những kết quả thu được với kỹ thuật laser mới này?
G.S O.T: Phương pháp điều trị này, được hiệu chính ở Hoa Kỳ, được sử dụng
tại Pháp chỉ mới từ vài năm trở lại đây. Các kết quả rất tuyệt vời : tỷ
lệ thành công khoảng 90%.
Hỏi: Dầu kỹ thuật được sử dụng là kỹ thuật gì, một khi
hòn sỏi được thải ra, chúng ta có sợ bị tái phát không?
G.S O.T: Vâng. Trong 60 % các trường hợp, các bệnh nhân bị sỏi tái phát
trong 10 năm, vì vậy cần phải theo dõi sát. Nhưng cần nhất là phải phân
tích nước tiểu và các hòn sỏi để tìm nguyên nhân của sự tạo thành chúng.
Đó là một căn bệnh cần phải khám phá căn nguyên ( ví dụ mất calcium).
Hỏi : Tóm lại, những ưu điểm chính của phép trị liệu
mới bằng laser này là những ưu điểm nào?
G.S. O.T: Có 4 ưu điểm chính :
1. Cho phép điều trị phần lớn các hòn sỏi (ngay cả vài hòn sỏi trên 2
cm). 2. Hiệu quả 90% bao gồm một tỷ lệ rất thấp các biến chứng.
3. Thời gian nhập viện rất ngắn ngủi.
4. Thầy thuốc khoa niệu dùng đường tự nhiên, do đó không có chấn thương
và làm sẹo.
Nguồn: PARIS MATCH (17/7-23/7/2008)
8/ BỆNH ĐAU NỬA ĐẦU (MIGRAINE) VÀ ỐC TAI
Những người bị bệnh đau nửa đầu (migraineux) thường không chịu nổi tiếng
động. Chứng “ sợ tiếng động ” (phonophobie) này có lẽ là do một khiếm
khuyết trong việc kiểm soát những luồng cảm giác hướng về cơ quan thính
giác, ốc tai (limaçon hay cochlée). Một công trình nghiên cứu xác nhận
điều đó bằng những trắc nghiệm thính học (tests audiologiques) của hai
tai, nơi khoảng một trăm người, mà 50% là những người bị chứng đau nửa
đầu. Trong trạng thái bình thường, người ta chứng nhận một sự giảm tạm
thời biên độ của các émissions otoacoustiques évoqués đối với một tai
sau khi kích thích tai đối diện. Với người bị bệnh đau nửa đầu thì không
phải như vậy. Một sự loạn năng của hệ olivo-cochléaire não bộ là nguyên
nhân của chứng không chịu được tiếng động của những người bị bệnh đau
nửa đầu. Nguồn: SCIENCE ET AVENIR (7/2008).
9/ MỘT CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG NHIỀU MỠ
CHỐNG BỆNH ĐỘNG KINH
2/3 chất mỡ và 1/3 chất đạm và đường : chế độ ăn uống tăng mỡ (régime
hypergras) này điều trị các bệnh nhân động kinh không đáp ứng với thuốc.
Được nghĩ ra cách nay gần 100 năm bởi Russel Wilder, một nhà nghiên cứu
Hoa Kỳ, nhưng đây là lần đầu tiên chế độ ăn uống tăng mỡ này được nghiên
cứu một cách nghiêm chỉnh như vậy. Nhóm nghiên cứu được lãnh đạo bởi Elizabeth
Neal ở Luân Đôn, chứng tỏ tính hiệu quả của chế độ ăn uống tăng mỡ: sau
3 tháng tuân theo chế độ ăn uống này, 38% các trẻ thấy hơn một nửa các
cơn động kinh biến mất, và ở vài trẻ tỷ lệ này lên đến 90%. Chế độ ăn
uống sinh cétone (régime cétogène) tạo một tác dụng tương tự với sự nhịn
đói : việc thiếu glucose buộc cơ thể phải thoái biến các lipide và như
thế sản sinh một lượng quan trọng chất cétone (trong đó có acétone). Theo
các nhà khoa học, chính các chất cétone này làm giảm các hiện tượng động
kinh. Chúng tác động như thế nào ? Đó vẫn còn là một bí ẩn. Nguồn:
SCIENCE ET VIE (7/2008)
10/ KHÔNG KHÍ BỊ Ô NHIỄM CÓ KHẢ NĂNG GÂY
VIÊM TĨNH MẠCH
Một sự tiếp xúc lâu dài với không khí bị ô nhiễm làm gia tăng những nguy
cơ phát triển một huyết khối tĩnh mạch sâu (thrombose veineuse profonde),
nghĩa là viêm tĩnh mạch (phlébite) (sự tạo thành một cục máu đông trong
các tĩnh mạch của chi dưới có thể gây nên nghẽn mạch phổi). Nhóm nghiên
cứu của Havard School of Public Health (Boson) đã căn cứ trên 870 các
trường hợp được chẩn đoán từ năm 1995 đến 2005 ở Lombardie, Ý, cũng như
trên một nhóm chứng 1.200 người. Mỗi người tham gia được gán vào một vùng
mà mức độ ô nhiễm trung bình đã được tính toán và theo dõi trong suốt
quá trình nghiên cứu. Như thế, phân tích thống kê đã có thể chứng tỏ rằng
đối với một gia tăng 10 microgramme/m2 các phần tử PM10 (dưới 10 phần
triệu mét) trong không khí trong năm trước khi chẩn đoán, nguy cơ bị huyết
khối (thrombose) gia tăng trung bình 70%. Nguồn: SCIENCE
ET VIE (7/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(9/8/2008)
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |