 |
Thời
Sự Y Học số 87
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ THẦN NÔNG (DIVIN LABOUREUR)
Người Trung Hoa xem Hoàng Đế Thần Nông (Shennong), như là cha đẻ thần
thoại của nền y học của họ. Vị hoàng đế này đã trị vì ở Trung Hoa cách
nay 5.000 năm, vào một thời kỳ mà, cũng như những nơi khác trên thế giới,
tôn giáo, thần thoại và y học vẫn còn là những thực tế liên hệ mật thiết
với nhau.
Các vị thần linh và y học : nền văn minh nào mà không liên kết chúng lại
với nhau vào một lúc nào đó trong quá trình lịch sử ? Lịch sử thần thoại
Trung hoa cũng không nằm ngoài ngoại lệ đó. Thần Nông, vị hoàng đế huyền
thoại đã trị vì ở Trung Hoa từ năm 2838 đến 2698 trước công nguyên, thường
được xem như là người sáng lập nền y khoa. Trong suốt thời gian trị vì,
ông được sự giúp đỡ của thần Pan Gu, mà những môn đồ của Lão Tử gán cho
là đã sáng tạo ra thế giới. Thần Nông đã thắng được sự hỗn loạn và tái
lập trật tự bằng cách tạo ra hai cực đối lập nhau là dương (yin) và âm
(yang).
Theo truyền thống, dương và âm chạy khắp thân thể của chúng ta, cũng như
tuần hoàn máu vậy ; một sự bất quân bình giữa hai cực dương và âm sẽ gây
ra bệnh tật, sự gián đoạn của luồng chảy của chúng sẽ gây ra tử vong.
Đó là tóm tắt trong vài chữ, ý niệm của thân thể và bệnh tật, thịnh hành
ở Trung Hoa vào thời đại xa xăm đó … Mặt khác, những khám phá khảo cổ
học chứng tỏ rằng suốt trong thời kỳ này, chữa bệnh chủ yếu là việc của
tôn giáo : đạo saman (chamanisme) là một hành đạo rất thịnh hành, và văn
hóa Trung Hoa nguyên thủy dành nhiều tầm quan trọng cho việc dung hòa
các vị thần linh. Về sau này, cả Lão giáo lẫn Phật giáo đã cố gắng hòa
nhập y khoa vào học thuyết riêng của mỗi tôn giáo ; mặt khác không phải
là chuyện tình cờ, khi các vị tu sĩ của hai tôn giáo này tự đảm trách
lấy (vẫn còn cho đến ngày nay) việc săn sóc chữa bệnh cho những người
cần đến.
MỘT THÂN THỂ TRONG SUỐT
Nhưng chúng ta hãy trở lại Thần Nông; ông không những là người sáng lập
nền Y học Trung Hoa, mà ông còn dạy cho dân chúng của ông cách cày cấy
đất đai, vì vậy mà ông mới có biệt danh là “Thần Nông” (Laboureur Divin).
Trong lúc dạy các người Hoa sản xuất ngũ cốc và thực vật như thế nào,
ông cũng tìm cách để họ tránh đừng giết súc vật quá chừng để lấy thịt
ăn. Chính ông là người đã mang lại cho Trung Hoa 5 thức ăn cơ bản.
Huyền thoại còn kể rằng Thần Nông đã đích thân trắc nghiệm hàng trăm loài
cỏ và thực vật để khám phá các dược chất của chúng ; thân thể trong suốt
của ông đã cho phép ông thấy ngay tác dụng của các cây cỏ này như thế
nào. Sau đó ông đã quy tụ tất cả các kiến thức của ông trong “Shennong
Bencaojing”, khảo luận cổ nhất được biết đến về nông nghiệp và liệu pháp
thực vật (phytothérapie).
Từ đó, các công trình nghiên cứu đã có thể xác lập rằng tác phẩm này thật
sự là một công trình biên soạn, được thực hiện vào thế kỷ thứ 3 hay thứ
2 trước công nguyên, nhưng điều này không làm mất đi chút nào tầm quan
trọng của tác phẩm đối với nền y học Trung Hoa : vào thế kỷ 16, chính
tác phẩm này là cơ sở cho tập chuyên luận đồ sộ về các cây thuốc của Lí
Shizhen, một trong những thầy thuốc lớn nhất của lịch sử Trung Hoa.
365 LOÀI CỎ
Tác phẩm được chia ra thành 3 phần với độ dài mỗi phần gần giống nhau.
Phần đầu tiên gồm một danh sách 120 loài cây cỏ, không những không nguy
hiểm cho người, mà còn có tác dụng kích thích, đặc biệt là nhân sâm (ginseng),
táo (jujube), reishi, cây đầu chổi (cytise) và cam thảo (réglisse). Phần
thứ hai bao gồm 120 mục từ, lần này về các chất mặc dầu có thể được sử
dụng để điều trị, nhưng có một độc tính nào đó. Loại này đặc biệt gồm
có gừng (gingembre), dưa chuột (concombre) và cây mẫu đơn (pivoine). Tập
ba và là tập cuối cùng, tập hợp 125 loài thực vật độc, có một tác dụng
đặc biệt có hại lên sự vận hành chức năng sinh lý của con người...Một
danh sách hẳn phải làm vài người cau mày, bởi vì trong đó đặc biệt có
cây đại hoàng (rhubarbe) và nhân của quả đào, bên cạnh đó có những mục
ít gây ngạc nhiên hơn như cây hoa mõm sói (gueule-de-loup). Nguồn:
LE GENERALISTE (10/7/2008)
2/ SIÊU VI TRÙNG BỆNH SIDA
SẼ CÓ THỂ ĐƯỢC PHÁT HIỆN BẰNG MỘT TRẮC NGHIỆM NƯỚC BỌT ĐƠN GIẢN
Đặt một ít nước miếng lên một chiếc que nhỏ, rồi đưa vào trong một ống
nghiệm, và chờ từ 20 đến 40 phút …Nếu người được trắc nghiệm mang HIV,
một đường tím sẽ hiện ra trên đỉnh của chiếc que nhỏ này. Là một công
cụ phát hiện nhanh chóng hơn nhiều so với một xét nghiệm lấy máu thông
thường, OraQuick sử dụng các kháng thể để phát hiện sự hiện diện của virus
HIV (immunochromatographie). Sự đánh giá được thực hiện ở Ấn Độ bởi các
nhà khoa học (đại học McGill, Montréal), cho thấy một sự phù hợp 100%
với các xét nghiệm máu. Nguồn : SCIENCE ET VIE (7/2008)
3/ SỰ TIÊU THỤ RƯỢU CÓ MỨC ĐỘ VÀ SỰ NGĂN
NGỪA BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG
Việc tiêu thụ rượu rõ ràng là tốt đối với nhiều điều trong lãnh vực sức
khỏe, dĩ nhiên là với điều kiện việc uống rượu phải có chừng mực. Chúng
ta đã biết những lợi ích của rượu, nhất là trên bình diện tim mạch. Và
những lợi ích này dường như không chỉ giới hạn cho rượu vang đỏ (vin rouge)
và resvératrol mà nó chứa. Bây giờ đây, theo một công trình nghiên cứu
của Polsky và các cộng sự viên của Hoa Kỳ, thì ra việc tiêu thụ rượu đều
đặn và có mức độ được liên kết với sự giảm nguy cơ chuyển qua bệnh đái
đường thật sự, nơi những người trưởng thành ở trong tình trạng tiền đái
đường (prédiabète) và thặng dư thế trọng hay bị chứng béo phì. Nguồn
: LA SEMAINE MEDICALE (26/6/2008)
4/ TÁC DỤNG CỦA CÀ PHÊ LÊN HỆ TIÊU HÓA
Cà phê luôn luôn mang lại hạnh phúc cho những người ham thích thứ nước
uống này. Trong quá khứ người ta loại trừ cà phê ra khỏi chế độ ăn uống
của bệnh nhân bị bệnh loét dạ dày. Nhưng chúng ta có thể tự hỏi là thật
sự có một sự liên hệ giữa việc tiêu thụ cà phê và sự làm dịu bớt hay làm
nặng thêm những rối loạn dạ dày hay không.
Trong quá khứ, người ta rất thường đưa cà phê vào trong những hạn chế
của chế độ ăn uống liên quan với những bệnh của hệ tiêu hóa. Sau đó người
ta đã nhận thức rằng tất cả điều đó không có gì là đúng cả, dầu cho đó
là những rối loạn đường ruột, những rối loạn dạ dày và ngay cả những vấn
đề hồi lưu (reflux) và khó tiêu (dyspepsie).
TIÊU CHẢY VÀ ĐẠI TRÀNG DỄ BI KÍCH THÍCH : MỘT SỰ
MIỄN TỐ
Các kết quả của một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi Brown và
các cộng sự viên trên 99 người, về mối liên hệ giữa việc uống nhiều loại
đồ uống khác nhau, nhất là cà phê và số lần đại tiện, đã phát hiện nơi
1/3 những người này, một sự cải thiện chuyển động tiêu hóa của ruột. Nơi
những người đáp ứng, một hiệu quả có lợi của cà phê lên tính vận động
của ruột già đã có thể được chứng tỏ bằng những đo lường động lực. Rao
và các cộng sự viên đã quan sát thấy rằng cà phê không có caféine, cũng
như cà phê bình thường, kích thích sự vận động của ruột già nhưng hiệu
quả của cà phê bình thường là rõ ràng hơn hiệu quả của cà phê không có
caféine. Công trình nghiên cứu này cũng đã chứng tỏ rằng hiệu quả dương
tính của cà phê là 60% quan trọng hơn, so với việc chỉ uống nước mà thôi.
Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã thường báo cáo rằng cà phê có
một tác dụng kích thích lên hoạt động của ruột già nơi một vài bệnh nhân.Trong
số các công trình nghiên cứu này, một sự xem xét lại vấn đề do Dapoigny
và các cộng sự viên thực hiện, đã gợi ý rằng cà phê, bình thường hay không
có caféine, có thể liên kết với những trường hợp ỉa chảy. Do kích thích
hoạt động vận động của ruột già và trực tràng. Nhưng trong nhiều công
trình nghiên cứu, không một tác dụng nào của cà phê đã có thể được phát
hiện lên các biểu hiện của chứng đại tràng co thắt (colon spastique) hay
lên trên sự xuất hiện của một bệnh viêm ruột già loét (colite ulcéreuse).
THỦ PHẠM, ĐÓ LÀ HELICOBACTER PYLORI
Các quan niệm liên quan đến sinh lý bệnh lý của các bệnh thực quản và
dạ dày đã tiến triển nhiều trong những thập niên vừa qua. Ngày nay, chúng
ta biết rằng một nhiễm trùng bởi Helicobacter pylori là nguyên nhân của
phần lớn các loét dạ dày và rằng một sự tiếp xúc quá độ với độ chua của
dạ dày chịu trách nhiệm loét thực quản và tá tràng. Cà phê có một vai
trò nào đó trong các rối loạn này hay không ? Một công trình nghiên cứu
được thực hiện bởi Gikas và các cộng sự viên kết luận rằng cà phê dường
như không có một tác dụng nào lên Helicobacter pylori. Cũng không có một
tương quan nào được xác lập giữa việc tiêu thụ cà phê và sự phát triển
một loét dạ dày, một công trình nghiên cứu khác của Đan Mạch đã kết luận
như thế. Những nghiên cứu khác đã gợi ý rằng nguy cơ là do những yếu tố
khác với chính bản thân cà phê, đặc biệt là sự hiện diện của đường trong
cà phê và sự gia tăng thể trọng. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện rằng
cà phê làm gia tăng tính thẩm thấu của niêm mạc dạ dày và dường như cà
phê làm gia tốc sự tống xuất của dạ dày (vidange gastrique), nhưng tác
dụng này thay đổi tùy theo người. Về những thương tổn tá tràng, cà phê
cũng như các đồ uống có caféine dường như không có vai trò trong các bệnh
lý này.
ĐAU VÀ VỊ CHUA
Vài người sau khi uống một tách cà phê đã ghi nhận bị ựa chua. Trên lý
thuyết, cũng như các đồ uống chua, cà phê với pH thay đổi từ 5 đến 6,
dường như đúng là gây nên tác dụng này. Do đó, nhiều công trình nghiên
cứu đã được thực hiện để cố gắng phát hiện sự hiện diện của một mối liên
kết như vậy. Có lẽ có một mối liên kết nhưng nhiều lý lẽ có khuynh hướng
xác nhận rằng caféine không chịu trách nhiệm về hiện tượng này mà chính
do những chất khác chứa trong cà phê. Mặt khác một công trình nghiên cứu
của Hòa Lan đã kết luận rằng cà phê không có tác dụng quan trọng lên sự
trào ngược (reflux) nơi những người vốn đã bị mắc phải chứng bệnh này
và không có tác dụng chút nào lên những người lành mạnh, và rằng tác dụng
của cà phê ít quan trọng hơn tác dụng của một bữa ăn lên hiện tượng này.
Một công trình nghiên cứu khác, được thực hiện ở Na Uy, đã không chứng
tỏ mối liên hệ giữa nguy cơ hồi lưu dạ dày-thực quản (reflux gastro-oesophagien)
và việc tiêu thụ cà phê.
Mới đây thôi, một công trình nghiên cứu của Thụy Điển đã cho thấy rằng
sau khi điều chỉnh những yếu tố nguy cơ chính gây nên trào ngược dạ dày-thực
quản (chỉ số khối lượng cơ thể, chứng nghiện thuốc lá và sự nhàn rổi không
hoạt động) thì sự liên hệ giữa việc tiêu thụ cà phê và những vấn đề hồi
lưu biến mất. Công trình nghiên cứu này cũng đã cho thấy rằng những người
tiêu thụ nhiều cà phê (hơn 7 tách mỗi ngày) có ít nguy cơ phát triển hồi
lưu dạ dày-thực quản hơn những người khác, ngay cả sau khi đã điều chỉnh
những yếu tố nguy cơ. Và sau cùng, cà phê thường được quy cho là nguyên
nhân của những vấn đề khó tiêu (dyspepsie) nhưng các công trình nghiên
cứu đã không thể phát hiện mối liên hệ nhân quả giữa việc tiêu thụ cà
phê và sự xuất hiện nhưng rối loạn khó tiêu này. Nguồn:
LE MAGAZINE DES GLEMS (4/2008)
5/ NÃO BỘ THÍCH NGHI VỚI
STRESS NHƯ THẾ NÀO ?
Khi chúng ta bị một stress (sự căng thẳng), các tuyến thuợng thận của
chúng ta tiết những hormone sẽ tác động lên toàn cơ thể.
Cortisol, một trong những hormone này, cho phép chúng ta thich nghi trên
bình diện vật lý và tâm thần với kích thích này. Nhưng sau một stress
có tầm quan trọng lớn hay sau một stress được lập lại, mà chúng ta không
còn có thể kềm chế được nữa, cortisol khi đó được tiết ra với một lượng
lớn và một cách lâu dài. Sự tăng tiết này sau đó có những hậu quả có hại
lên toàn cơ thể, đến độ làm gia tăng sự lão hóa và làm dễ sự xuất hiện
các bệnh như trầm cảm. Các nhà nghiên cứu Pháp của Bordeaux vừa chứng
tỏ trong tạp chí Nature Neuroscience, cortisol tác động lên não bộ của
chúng ta như thế nào. Chính trong thùy hải mã mà hormone này có tác động
nhất !
“Ở loài chuột, corticostérone (tương đương với cortisol của người) làm
gia tăng tính cơ động của các thụ thể (récepteurs) nằm ở bề mặt của các
neurone, như thế cho phép các nối kết giữa các khớp thần kinh (connexions
synaptiques) thích ứng có hiệu quả hơn đối với những nhu cầu hoạt động
của não bộ. Hormone de stress, có thể nói, là một hiệu báo động làm huy
động các thụ thể.
“Khi các neurone đứng trước sự hiện diện của corticostérone một cách tức
thời, thì các khả năng mềm dẻo (capacité de plasticité) của các khớp thần
kinh được tăng lên”, các nhà nghiên cứu đã xác nhận như thế. Nếu hiệu
quả đầu tiên có lợi, thì ngược lại, trong trường hợp stress kéo dài, khả
năng mềm dẻo nơi các khớp nối thần kinh bị giảm.
Việc thông hiểu các cơ chế này sẽ mở ra nhiều hướng nghiên cứu với những
áp dụng vừa về mặt cơ bản, vừa về mặt lâm sàng.
“Từ nay, chúng ta có thể quan niệm rằng nơi một vài người bị stress quan
trọng, sự thiếu tính cơ động của các thụ thể góp phần vào sự thiếu vắng
đáp ứng của người đó. Tính mềm dẻo của các khớp thần kinh trong các tình
trạng căng thẳng khi đó tùy thuộc vào những mối tương tác động giữa cortisol
và các thụ thể neurone điều hòa hoạt động của não bộ. Các nối khớp thần
kinh này càng động, người ta càng dễ thich nghi ! ”, các nhà nghiên cứu
đã kết luận như vậy. Nguồn : LE SOIR (12/7-13/7/2008)
6/ SEROTONINE VÀ CHẾT ĐỘT NGỘT CỦA NHŨ NHI
Một sự bất quân bình của nồng độ sérotonine sẽ làm xáo trộn nhịp tim.
Nguyên nhân chính của tử vong nơi các trẻ em từ 1 tháng đến 1 năm, bệnh
chết đột ngột của nhũ nhi (mort subite du nourrisson) gây nhiều rắc rối
cho các thầy thuốc. Nguyên nhân của bệnh này vẫn không được biết đến.
Tuy nhiên, một công trình được công bố trong Science mở ra những triển
vọng mới : sérotonine đóng một vai trò trong hiện tượng này.
Một vài trẻ em dễ bị hội chứng này hơn những trẻ em khác. Thí dụ đó là
những trẻ sinh non, những trẻ có trọng lượng thấp lúc sinh, và bé trai
hơn là bé gái. Nói một cách khác, chỉ những yếu tố mà ta không thể thay
đổi được. Tuy nhiên, ý tưởng cho rằng một sự thiếu hụt sérotonine có thể
là một yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được, đã được nêu lên trong quá
khứ, nhưng đã không bao giờ có thể kiểm chứng được. Mong muốn làm sáng
tỏ phỏng đoán này, Enrica Audero, thuộc Phòng thí nghiệm sinh học phân
tử châu Âu ở Monterotondo (Ý), đã quan tâm sát phân tử sérotonine này.
Sérotonine đặc biệt can dự vào ở thân não. Các neurone của thân não dùng
sérotonine để liên lạc với các tế bào thần kinh của tủy sống để làm hoạt
động cơ tim và điều hòa nhiệt độ của cơ thể. Theo công trình nghiên cứu
của Ý, việc tự ức chế (auto-inhibition) quá mức của sérotonine là một
yếu tố nguy cơ gây sự điều hòa kém các chức năng tự trị và do đó là yếu
tố nguy cơ của chết đột ngột của nhũ nhi. Các giải phẫu tử thi sau khi
chết đã cho thấy những biến đổi của các neurones à sérotonine của não
bộ nơi những trẻ em tử vong vì chết đột ngột. Tuy nhiên người ta không
biết được cơ chế giải thích bệnh chết đột ngột này của nhũ nhi. Nguồn:
LE JOURNAL DU MEDECIN (25/7/2008)
7/ MỘT THÀNH PHẦN TỰ NHIÊN
CỦA RƯỢU VANG CÓ THỂ CÓ LỢI CHO TIM
Resvératrol, phân tử hiện diện trong rượu vang đỏ (vin rouge), có những
tác dụng bảo vệ chức năng tim. Đó là kết luận của một công trình được
thực hiện bởi các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ của đại học Madison và của công
ty LifeGen Technologies. Được công bố ngày 3/6 trong tạp chí on line PloS
One, các kết quả của họ, thu được trên chuột, cho thấy rằng sự tiêu thụ
với lượng nhỏ resvératrol cho phép phòng ngừa sự lão hóa tim, giống hệt
với sự phòng ngừa được quan sát sau khi thực hiện một chế độ ăn uống hạn
chế nhiều calorie. Nguồn : LE MONDE (5/6/2008)
8/ NHỮNG TÁC DỤNG CỦA VITAMINE A TRÊN CÁC
NHŨ NHI
Cho một liều lượng vitamine A bằng đường miệng sẽ làm giảm 15% nguy cơ
tử vong của các nhũ nhi, với điều kiện được cho trong những giờ hay những
ngày sau khi sinh. Đó là kết quả của một công trình nghiên cứu được thực
hiện trên gần 16.000 trẻ sơ sinh ở Bangladesh. Các thầy thuốc cho rằng
vitamine A cứu được mạng sống nhờ làm giảm mức độ nghiêm trọng của những
bệnh chịu trách nhiệm phần lớn các tử vong ở Á Châu. Theo các tác giả,
nếu cho một liều vitamine A cho tất cả các trẻ sơ sinh châu Á, thì như
thế sẽ tránh được tử vong cho 300.000 trẻ em. Theo các tác giả, các công
trình nghiên cứu bổ sung nên được nhanh chóng thực hiện ở châu Phi, là
nơi mà tỷ lệ tử vong của trẻ em vẫn còn quá quan trọng. Nguồn :
LE SOIR (11/7/2008)
9/ GIAO HỢP THƯỜNG XUYÊN
ĐỂ TRÁNH HỎNG MÁY
Theo một công trình nghiên cứu được công bố trong American Journal of
Medicine, các đàn ông lớn tuổi càng làm tình, thì họ sẽ càng có cơ may
tránh được những rối loạn cương (trouble de l’érection). Các nhà nghiên
cứu của khoa niệu của bệnh viên đại học Tempere (Phần Lan) đã theo dõi
trong 5 năm, 989 người đàn ông tuổi từ 55 đến 75. Kết quả đã cho phép
chứng nhận rằng các ông có giao hợp dưới 1 lần mỗi tuần, có nguy cơ gấp
đôi bị những rối loạn cương, so với những người có những giao hợp một
lần mỗi tuần. Cứ 1000 người đàn ông thì có 79 có rối loạn cương khi họ
làm tình dưới 1 lần mỗi tuần. Tỷ lệ này sẽ giảm xuống 32 trên 1000 khi
giao hợp mỗi lần một tuần và chỉ còn 16 trên 1000 khi số lần giao hợp
là 3 hoặc hơn mỗi tuần.Trong công trình nghiên cứu này, các nhà nghiên
cứu cũng đã tính đến các yếu tố khác có thể gây nên những rối loạn cương
như các bệnh mãn tính, ví dụ bệnh đái đường. Nguồn :
LE SOIR (11/7/2008)
10/ ĐỊNH NGÀY THÁNG THỜI KỲ MÃN KINH
Đến tuổi nào một phụ nữ được đảm bảo có thể sinh con ? Tuổi mãn kinh được
cho là lúc không còn có con được nữa và trung bình tuổi mãn kinh vào khoảng
50 tuổi nhưng có thể xảy ra... giữa 40 và 60 tuổi. Đối với một nhóm nghiên
cứu Hòa Lan, có thể cho ngày tháng chính xác hơn tuổi mãn kinh bằng cách
đo nồng độ AMH (hormone antimullerienne) của họ. Hormone này liên kết
với lượng, trong các buồng trứng, của các noãn nang (follicules), nguồn
gốc của các noãn bào (ovocyte). Nhóm nghiên cứu đã phát triển một phương
cách cho phép thực hiện tính toán này, bắt đầu từ nồng độ AMH, mà nhóm
nghiên cứu đã đo được nơi 144 phụ nữ. Nguồn: LA RECHERCHE
(7-8/2007)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(1/8/2008)
Copyright,
2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn
Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |