Thời Sự Y Học số 86
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ ISALA VAN DIEST: CÚ GIAO BÓNG ĐỐI VỚI CÁC THẦY THUỐC NỮ Ở BỈ
Nước Bỉ cuối thế kỷ thứ 19 không khác với các nước khác khi nói về các phụ nữ : các phụ nữ bị loại trừ không được theo học đại học. Hành nghề y khoa đối với một phụ nữ là điều không có thể nghĩ đến. Người thầy thuốc nữ đầu tiên của Bỉ, cũng như các đồng nghiệp ở Pháp, Anh hay Mỹ, đã thấy hành trình sự nghiệp của họ đều trải đầy cạm bẫy.
Đối với Anne Catherine Albertine Isala Van Diest, sinh ở Louvain ngày 7 tháng 5 năm 1824, sự lôi cuốn theo ngành y là hết sức tự nhiên : bố của cô, Pierre Joseph Van Diest, là thầy thuốc. Mà còn là thầy thuốc nổi tiếng, vì lẽ ông là thầy thuốc ngoại và sản khoa chính thức của thành phố Louvain. Người đàn ông này yêu nghề một cách say đắm, và ông cho đó là một thiên chức. Do đó người ta sẽ không ngạc nhiên khi ông đã truyền lại khát vọng này cho đứa con gái của mình. Mặt khác, ông bố này, với đầu óc cởi mở và có tư tưởng phóng khoáng, cho là chuyện bình thường việc 6 đứa con gái của mình tiếp nhận cùng nền giáo dục của cậu con trai độc nhất của gia đình đông con này.
Ngoài ra gia đình thường tiếp xúc với các nhóm có tinh thần tiến bộ và chủ trương nam nữ bình quyền ở Anh, nơi mà cô thường hay tới .
TỪ CHỐI CỦA ĐAỊ HỌC CÔNG GIÁO LOUVAIN
Trong một môi trường như thế thì không có gì là đáng ngạc nhiên khi Isala mong ước chuẩn bị để vào học đại học. Tuy nhiên, cô phải vượt qua điều trở ngại đầu tiên là không có ngành giáo dục trung cấp cao đẳng dành cho con gái. Vì không thể ghi tên Isala vào một trường dành cho con trai, nên cô đã được gởi đi học trung cấp ở Berne (Thụy Sĩ). Vậy thế là cô có văn bằng tốt nghiệp trung cấp trong tay. Cô trở về Bỉ năm 1873 với ý định ghi tên vào phân khoa Y của Đại Học Công Giáo Louvain (Université Catholique de Louvain : UCL). Có gì là bình thường hơn vì lẽ đó là thành phố quê cô và cha cô lại được biết tiếng ở đó?
Nhưng có cha là một nhân vật được biết tiếng ở Đại học, không phải vì vậy mà Đại học sẽ mở các cánh cửa cho cô. Đức ông Namèche, khoa trưởng của UCL đã thẳng thừng chống lại việc ghi danh này. Isala chỉ là một phụ nữ, vì vậy cô không có việc gì phải làm trong một phân khoa cả. Ông đề nghị cô theo học những bài giảng sản khoa để trở thành nữ hộ sinh, nghề nghiệp được cho là phù hợp hơn và thích ứng hơn đối với một phụ nữ.
THỤY SĨ : ĐẤT TIẾP ĐÓN ĐỐI VỚI CÁC NỮ SINH VIÊN Y KHOA
Nhưng Isala muốn trở thành thầy thuốc. Vì thế, cô quyết định trở lại Thụy Sĩ. Để trở thành thầy thuốc vào thế kỷ thứ XIX, các phụ nữ cần phải đi du lịch nhiều… Thụy Sĩ là một vùng đất đặc biệt cho “vấn đề của các thầy thuốc nữ”. Đó là đất nước duy nhất tỏ ra cởi mở, có lương tri và tinh thần dân chủ, cho rằng việc một phụ nữ vào ngành y là hợp lý. Người phụ nữ đầu tiên ghi danh vào đại học y khoa Zurich năm 1865 là một phụ nữ người Nga. Và việc xin ghi danh này không có một vấn đề gì : hội đồng quản trị đệ trình đơn xin cho các giáo sư và các vị này chấp thuận cũng như ông Bộ trưởng Giáo Dục cũng đồng ý một cách dễ dàng.
Vì càng ngày càng có nhiều đơn xin ghi danh, nên một ủy ban được thành lập để nghiên cứu hai vấn đề làm phải xét lại những đạo luật hiện hành : người ta có thể chấp nhận các phụ nữ vào học đại học và có nên cho họ cùng quyền lợi như những sinh viên khác hay không và họ có được phép nhận tất cả các tước vị đại học hay không? Sau một năm quan sát các trường hợp ghi danh đã được chấp nhận, câu trả lời của ủy ban là dương tính và được công nhận bởi ông bộ trưởng. Và thế là tại sao nước Thụy Sĩ đã trở thành, một cách không va chạm, một vùng đất dành cho các nữ ứng viên theo học ngành y. Như thế Isala trong số những thành phần di cư để tìm kiếm mảnh bằng thầy thuốc ở Liên Bang Thụy Sĩ.
MỘT NGHỊ ĐỊNH CỦA NHÀ VUA ĐỂ CÓ THỂ HÀNH NGHỀ
Năm 1879, Isala tốt nghiệp và trở thành người phụ nữ Bỉ đầu tiên mang một văn bằng đại học và là thầy thuốc. Ngay sau khi tốt nghiệp, cô đi qua Anh hành nghề cho đến năm 1880 ở New Hospital for Women, được thành lập bởi BS Elizabeth Garrett. Cô ở lại đất Anh cho đến năm 1882. Sau đó cô trở về lại Bỉ, nhưng để được hành nghề, văn bằng của cô cần phải được công nhận và ngoài ra, cô còn phải tham gia những kỳ thi bổ túc. Cô theo học các lớp ngoại và sản khoa ở ULB (Université Libre de La Belgique). Thật vậy, các phụ nữ đã bắt đầu có thể ghi danh vào học đại học này từ năm 1880.
Bởi vì lúc đó có nhiều chuyện đã bắt đầu thay đổi ở Bỉ. Bộ trưởng Nội Vụ, năm 1875, nêu lên vấn đề với các Đại học : Có nên cho phép các phụ nữ được hành nghề y khoa ? Các câu trả lời không giống nhau. Năm 1876, chính phủ quy định những điều kiện nhập học của các phụ nữ vào các phân khoa.
Khoảng năm 1880, các Đại học Bruxelles, Gand, Liège mở cửa cho các phụ nữ nhưng số sinh viên ghi danh vẫn còn thấp : ít có phụ nữ đã theo học giáo dục đệ nhị cấp cao đẳng và ngoài ra, ngay sau khi tốt nghiệp đại học, họ không chắc chắn có thể hành nghề mà họ đã tốt nghiệp. Louvain, đại học công giáo mà Quyền Tổ chức do các giám mục đảm trách, sẽ chỉ chấp nhận các phụ nữ 40 năm sau, vào khoảng năm 1920.
Một nghị định nhà vua năm 1884 cho phép BS Isala Van Diest hành nghề. Nhưng phải đợi đến năm 1890 để Hạ Viện chính thức cho các phụ nữ quyền được hành nghề y khoa và dược khoa.
THẦY THUỐC VÀ NGƯỜI THEO CHỦ NGHĨA NỮ QUYỀN, PHỤC VỤ CHO NHỮNG NGƯỜI BỊ XUA ĐUỔI
B.S Isala mở phỏng mạch ở Bruxelles, ở đây bà sẽ là thầy thuốc trong một nhà thổ (maison pour anciennes prostituées), gọi là “ le Refuge ”, đồng thời bà phát triển khách hàng tư nhân. Bà đấu tranh tích cực chống lại việc buôn phụ nữ và nạn mãi dâm.
Sau khi đã liên lạc với các giới tiến bộ ở Anh, bà tham gia phong trào đấu tranh cho nam nữ bình quyền và thành lập một tổ chức vì bình quyền và gia nhập Liên đoàn Quyền Phụ Nữ ở Bỉ, cùng với Marie Popelin, nữ luật sư đầu tiên của Bỉ (bà này bị loại ra khỏi Luật Sư đoàn năm 1888 bởi một nghị định của tòa chống án rồi phá án vì cùng những thành kiến đã biện minh cho việc loại trừ các phụ nữ).
BS Van Diest dần dần ngừng tất cả các hoạt động của mình vào đầu thế kỷ XX, thị giác của bà bắt đầu bị suy yếu. Bà mất ở Knokke vào năm 1916. Lịch sử đã quên bà, tuy thế bà đã thuộc vào những người, mà nhờ họ, các phụ nữ Bỉ ngày nay đã có thể vào học một cách tự do ở các phân khoa y khoa . Vào cái giờ phút mà gần một nửa các sinh viên y khoa là những nữ sinh viên, phải chăng bà Isala Van Diest không xứng đáng khi một hay nhiều giảng đường y khoa mang tên của bà? Nguồn: (LA SEMAINE MEDICALE 24/1/2008)
2/ CAO HUYẾT ÁP : YẾU TỐ NGUY CƠ QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI MỌI LOẠI TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

Cao huyết áp có làm gia tăng một cách đồng nhất nguy cơ tai biến mạch máu não hay trái lại chỉ ưu tiên đối với vài loại ? Một công trình nghiên cứu của Nhật Bản đã cho câu trả lời.
Lần này đó là một công trình nghiên cứu quan sát, đã theo dõi, suốt trong 32 năm, diễn biến của 1.624 người già 40 tuổi hoặc hơn, không có tiền sử cá nhân và gia đình về tai biến mạch máu não. Các kết quả cho thấy rằng, đối với tai biến mạch máu não, tỷ lệ mắc bệnh gia tăng một cách đáng kể (nguy cơ xuất hiện được nhân lên 3,7 lần) ngay ở giai đoạn 1 của xếp loại cao huyết áp của các hiệp hội tim và cao huyết áp châu Âu (140-159/95-99 mmHg), so với một huyết áp bình thường ( < 120/80 mmHg). Huyết áp càng gia tăng, thì nguy cơ mắc bệnh càng được nhân lên. Dữ kiện khác quan trọng của công trình nghiên cứu này : sự gia tăng dần dần của huyết áp kèm theo một sự gia tăng cũng dần dần của tỷ lệ mắc phải các tai biến mạch máu não, loại tai biến thiếu máu cục bộ tạm thời (accident ischémique transitoire : AIT), tai biến mạch máu não (AVC) và xuất huyết não. Trái lại, sự gia tăng nguy cơ tai biến mạch máu não có nguồn gốc huyết khối nghẽn mạch (thromboembolique) và các xuất huyết dưới màng nhện (hémorragie sous-arachnoidienne) chỉ trở nên đáng kể bắt đầu từ giai đoạn 3 của xếp loại cao huyết áp (nghĩa là > 180/110 mmHg). Nguồn: (LE GENERALISTE 10/7/2008)
3/ SIÊU ÂM ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÚ
Phương pháp đang được thí nghiệm này dùng đến các siêu âm có cường độ cao để phá hủy các khối u nhỏ dưới 3 cm. Nếu các kết quả được xác nhận, phương pháp điều trị này sẽ tránh việc sử dụng phẫu thuật. Một kỹ thuật mới cho phép phá hủy những tế bào ung thư vú bằng sự tăng nhiệt (hyperthermie) nhờ các sóng siêu âm hội tụ có cường độ cao (HIFU 9000), đã được trình bày trong hội nghị Eurocancer ở Paris. Đang được thí nghiệm trong khoa của Giáo Sư Claude Maylin, trưởng phòng hình ảnh ung thư của bệnh viện Saint-Louis, Paris, cộng tác với đại học Thượng Hải, kỹ thuật mới này, nếu các kết quả được xác nhận, sẽ tránh sự can thiệp ngoại khoa hay ít nhất chỉ cắt bỏ những khối u nhỏ hơn.
Khác với các siêu âm được sử dụng để thực hiện một siêu âm ký (échographie), đi xuyên qua các mô mà không làm biến đổi chúng vì cường độ thấp, các siêu âm trong phương pháp điều trị này có một công suất 10 lần mạnh hơn. Với một tác dụng sinh học lên các mô được đi xuyên qua, từ sưởi nóng giản đơn đến sự phá hủy của mô ung thư.
“Kỹ thuật của chúng tôi căn cứ trên sự sử dụng một máy siêu âm có tần số cao từ 40 đến 100 watt, cho phép trong cùng thời gian, xác định những thương tổn ung thư rồi phá hủy chúng bằng cách cho những siêu âm phát ra tại chỗ một nhiệt độ từ 65 đến 80 độ”, G.S Maylin, người thực hiện công trình nghiên cứu này đã giải thích như thế. Vậy đó là một chiếc máy “thông minh” có khả năng cho thấy khối u và đồng thời phá hủy nó trong cùng thời gian.
Lợi ích của phép điều trị này, đó là dễ thực hiện, G.S Maylin đã đánh giá như thế. Chỉ cần một buổi chiếu, hoặc tối đa là hai, từ 45 phút đến 1 giờ, cũng đủ để điều trị một ung thư vú nhỏ, và chỉ với gây mê tại chỗ. Bệnh nhân chỉ cảm thấy vài cảm giác kim châm trong buổi chiếu siêu âm.
« MỘT TIẾN BỘ KỸ THUẬT CÓ LỢI »
Cuộc thử nghiệm sẽ được bắt đầu ở bệnh viện Saint-Louis, sẽ tuyển mộ 30 người tình nguyện với một thương tổn ung thư vú dưới 3 cm. Sau khi điều trị khối u bằng những sóng siêu âm này, các bệnh nhân sẽ theo một thủ tục điều trị chuẩn gồm cắt bỏ khối u (tumorectomie), nạo hạch (curage ganglionnaire) và tùy theo những dữ kiện lâm sàng và sinh học, phóng xạ liệu pháp (radiothérapie) và hoá học liệu pháp sau đó. Khối u được cắt bỏ bởi phẫu thuật viên sẽ được phân tích để kiểm tra tính hiệu quả của các siêu âm có cường độ cao này. Nếu kết quả dương tính, có thể bắt đầu một thử nghiệm quan trọng hơn. Sau đó có thể hy vọng điều trị khối u chỉ bằng sóng siêu âm, như thế tránh phải dùng đến can thiệp ngoại khoa. Và cũng giảm liều lượng phóng xạ sau này.
“ Đó là một tiến bộ kỹ thuật đầy lý thú ”, G.S Michel Marty, chủ tịch Eurocancer và chủ tịch của trung tâm những đổi mới điều trị trong ung thư học và huyết học của bệnh viện Saint-Louis, Paris, đã đánh giá như vậy. Nguồn: (LE FIGRO 27/6/2008)
4/ SINH ĐẺ : TUỔI NGƯỜI CHA ĐÓNG MỘT VAI TRÒ KHÔNG NHỎ
Trong khi các cặp vợ chồng có con càng ngày càng muộn, một công trình nghiên cứu của Pháp chứng tỏ rằng tuổi của người cha cũng ảnh hưởng lên sự thành công của việc thụ thai.
Không chỉ có phụ nữ mà khả năng sinh đẻ sẽ giảm dần với năm tháng.Vào giờ phút mà các cặp vợ chồng thường quyết định hãy thong thả rồi mới có con, một công trình nghiên cứu cho thấy rằng tuổi tác của cha mẹ không phải là không quan trọng trong cuộc xổ số này. Các khả năng có một em bé giảm đi khi đàn ông quá 35 tuổi và những nguy cơ sẩy thai tự phát đối với phụ nữ cũng gia tăng, theo một công trình nghiên cứu của Pháp, được thực hiện nơi các cặp có những khó khăn về sinh con. Và các khả năng trở thành bố lại còn ít đi khi tuổi trên 40, mặc dầu có những trường hợp cha già con muộn qua những nhân vật nổi tiếng như Chaplin, Yves Montand hay Léo Ferré.
“Đây là lần đầu tiên, một hậu quả quan trọng như thế, không những trên tỷ lệ thai nghén mà còn trên số lần sẩy thai, được phát hiện liên quan với tuổi của người cha”, BS Stéphanie Belloc của Trung tâm Eylau sinh đẻ hỗ trợ, Paris, đã chỉ rõ như vậy. Nhà sinh học về sinh sản này đã trình bày các công trình của nhóm nghiên cứu tạii hội nghị hàng năm của Hiệp hội châu Âu sinh sản người và phôi thai học ở Barcelone.
B.S Stéphanie Belloc rút ra những kết luận từ một công cuộc điều tra được thực hiện nơi hơn 12.200 cặp vợ chồng, đã đến khám ở trung tâm này từ tháng giêng 2002 đến tháng 12/ 2006 vì những vấn đề vô sinh. Để chữa chứng vô sinh, họ phải chịu sự thụ tinh nhân tạo với kỹ thuật đưa tinh dịch vào tử cung (insémination intra-utérine). Kỹ thuật này nhằm đặt, qua một cathéter, tinh dịch (được chuẩn bị và rửa trước trong phòng thí nghiệm) của người đàn ông vào trong xoang tử cung của người đàn bà và người phụ nữ này sẽ chịu một kích thích buồng trứng (stimulation ovarienne). Và phương pháp này làm dễ sự gặp gỡ giữa noãn bào (ovocyte) và tinh trùng. Trước khi tiến hành sự thụ tinh nhân tạo này, các đặc điểm nam đã được thăm khám cẩn thận về mặt số lượng các tinh trùng cũng như tính vận động và hình thái của chúng.
NHIỀU ĐƯỜNG LỐI
Và một khi thai nghén bắt đầu, số lần sẩy thai tự phát và số lần sinh cũng đã được xét đến. Tất cả các dữ kiện này, một khi được phân tích, đã cho phép phân biệt cái gì thuộc các yếu tố nam hay nữ trong những khó khăn có con .
Chẳng có gì ngạc nhiên khi các kết quả đã cho thấy rằng tuổi của người mẹ được liên kết chặt chẽ với một sự giảm tỷ lệ có thai (từ 14,5% trước 30 tuổi xuống còn 8,9% sau 35 tuổi) và với một sự tăng cao tỷ lệ sẩy thai tự phát (từ 11,1% trước 30 tuổi lên 46,4% sau 42 tuổi).
Ngược lại, về phía những người bố tương lai, các nhà nghiên cứu đã khám phá ra rằng tỷ lệ sẩy thai nơi người vợ của họ gia tăng khi tuổi của người chồng trên 40 tuổi, đi từ 10 đến 15% đối với những người chồng dưới 30 tuổi, lên 35% khi tuổi người chồng trên 40. Các nhà nghiên cứu không biết được những nguyên nhân chính xác, nêu ra nhiều đường hướng. “Các công trình nghiên cứu mới đây đã xác lập một mối liên hệ giữa những kết quả của việc đưa tinh dịch vào tử cung và những biến thái của ADN của những tinh trùng, cũng liên quan đến tuổi của người cha, gợi ý tầm quan trọng của yếu tố này, nhưng thiếu chứng cớ lâm sàng để xác nhận điều đó, BS Belloc đã công nhận như vậy. Một chứng thực khác : tỷ lệ thai nghén tỷ lệ nghịch với tuổi của người cha tương lai (từ 12,3% ở những người dưới 30 tuổi, xuống còn 9,3% sau 45 tuổi). Ngay năm 2000, một công trình nghiên cứu của Anh đã chỉ rõ rằng những cơ may để một người đàn ông thụ thai một em bé trong 6 tháng, mỗi năm giảm 2%. Và điều này, ngay ở tuổi 24.
“ Mãi cho đến hôm nay, các thầy thuốc phụ khoa chỉ tập trung vào tuổi của người mẹ, nói rằng người phụ nữ phải có thai trước tuổi 35-38 tuổi, nhưng từ nay, họ cũng phải quan tâm đến tuổi của người cha và cần đưa thông tin này cho các cặp vợ chồng ”, BS Belloc đã kết luận như vậy. Nguồn: (LE FIGARO 8/7/2008)
5/ ALZHEMER : SỰ SUY DINH DƯỠNG, TRIỆU CHỨNG ĐẦU TIÊN ?

Các kết quả của một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ đã cho thấy rằng sự giảm cân do suy dinh dưỡng thường đi trước sự xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng của sa sút trí tuệ (démence). Ở Pháp, gần một nửa các bệnh nhân đã bị sụt cân vào lúc chẩn đoán bệnh Alzheimer. Vào cuối tháng sáu vừa qua, một tuần lễ quốc gia phát hiện và thông tin về vấn đề suy dinh dưỡng này đã được tổ chức để nhạy cảm hóa công chúng và những người làm công tác y tế về đề tài này. Nguồn: (PARIS MATCH 3/7-9/7/2008)
6/ ĐIỀU CHỈNH CHỨNG LÃO THỊ (PRESBYTIE) : MỘT KỸ THUẬT 2 LASERS

B.S Yves Bokobza, thầy thuốc chuyên khoa mắt, giáo sư của Collège de médecine, giải thích với chúng ta kỹ thuật mới nhất điều chỉnh chứng lão thị, nhân cuốn sách của ông vừa mới được xuất bản “ Nhìn rõ không cần đeo kính, thế hệ laser ” (Bien voir sans lunettes, la génération laser).
Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi tại sao tất cả chúng ta trở thành lão thị (presbytes) ?
BS Yves Bokobza : Lão thị (presbytie) là do sự lão hóa của nhãn cầu và thường được biểu hiện vào khoảng năm 45 tuổi, để rồi ổn định vào tuổi 60. Chứng lão thị là do mất khả năng điều tiết của thủy tinh thể, một thấu kính trong suốt nằm sau mống mắt (iris).Thủy tinh thể (cristallin) có nhiệm vụ làm hội tụ các hình ảnh lên võng mạc (rétine). Thị giác nhìn gần (vision de près) trở nên khó khăn, buộc phải đưa dài tay ra để đọc.Vào giai đoạn này của đời sống, nơi người bị lão thị, thị giác nhìn xa (vision de loin) thường cũng bị rối loạn bởi một vấn đề viễn thị (hypermétropie) liên kết.
Hỏi : Thường thường để điều chỉnh rối loạn lão thị này, chúng ta có những phương sách nào?
BS Y. B : Phương tiện đơn giản nhất là mang kính hay, đối với những người chịu đựng được, thấu kính tiếp xúc (lentille de contact). Cách nay khoảng 4 năm, một quan niệm mới về ngoại khoa xuất hiện, đó là thay thế thủy tinh thể bằng một implant thế hệ mới (thủy tinh thể nhân tạo nhiều tiêu cự), điều này cho phép điều chỉnh không những chứng lão thị, mà còn một khuyết tật thị giác liên kết khác.Vào cùng thời kỳ, một kỹ thuật khác được sử dụng, mà lần này mục đích là biến đổi độ cong của giác mạc (cornée) để làm hội tụ hơn các hình ảnh lên võng mạc, như thế bù lại khuyết tật của thủy tinh thể. Phương thức này được gọi là “ lasik ”, được thực hiện lúc đầu với một vi dụng cụ ngoại khoa gọi là microkératome, rồi sau đó với một laser excimer có tác dụng làm biến đổi độ cong của giác mạc.
Hỏi : Những bất tiện nào của những kỹ thuật này đã dẫn đến việc hiệu chính một phương pháp điều trị mới ?
BS Y. B : Một mặt, các kính đeo thường được quan niệm như là một dấu hiệu đầu tiên của tuổi già, và các kính tăng độ dần, cũng như các thấu kính tiếp xúc (lentille de contact), đôi khi không chịu đựng được. Về các implant nhiều tiêu cự, lý tưởng, chỉ được thực hiện bắt đầu từ 55 tuổi, nơi những bệnh nhân có những dấu hiệu bắt đầu của bệnh đục thủy tinh thể (cataracte), bởi vì kỹ thuật này buộc phải lấy đi thủy tinh thể (cristallin). Mặt khác, dầu sao đó là một “ phẫu thuật mở nhãn cầu ” (chirurgie à globe ouvert), cần đi vào bên trong mắt, như vậy không thể có nguy cơ số 0 được. Do đó buộc phải can thiệp phẫu thuật hết mắt này rồi đến mắt kia, chia thành hai kỳ phẫu thuật. Với phương thức lasik, việc cắt giác mạc (cornée) với dao giác mạc (kératome) có thể cho vài biến chứng, mặc dầu hiếm hoi nhưng có thật. Và laser được sử dụng, một excimer thế hệ thứ nhất, đã chứng tỏ một tính hiệu quả không đồng đều, trong vài truờng hợp có những tác dụng phụ như quầng sáng (halo) vào lúc ban đêm.
Hỏi : Kỹ thuật mới sau cùng được gọi là “presbylasik” nghĩa là gì vậy ?
BS Y.B : Phương thức này diễn ra thành 3 giai đoạn, bệnh nhân được gây mê tại chỗ bằng vài giọt thuốc nhỏ mắt. Một laser femtoseconde cắt rất chính xác và một cách an toàn, một lá mỏng kết mạc, mà người thầy thuốc nâng lên để cho phép sự tác dụng của một laser thứ hai, một excimer thuộc thế hệ mới nhất, lần này đặc hiệu với bệnh lão thị. Excimer này sẽ thực hiện một động tác điêu khắc thật sự trên võng mạc để làm cho nó trở thành nhiều tiêu cự (multifocal), nghĩa là cho phép có được một thị giác tốt nhìn gần, và nhìn xa, đối với những người lão thị viễn thị (presbytes hypermétropes). Lớp lá mỏng võng mạc sau đó được đặt lại tại chỗ và bệnh nhân được cho xuất viện về nhà không cần phải băng bó. Quá trình hóa sẹo được thực hiện trong vài ngày.
Hỏi : Thời kỳ hậu phẫu như thế nào ?
BS Y. B : Sau cuộc phẫu thuật hầu như không đau đớn (người ta có thể điều trị hai mắt trong cùng một phẫu thuật, 6-7 phút mỗi mắt), bệnh nhân phải chịu đựng hai đến ba giờ khó chịu, do một thị giác mờ, chảy nước mắt và những cảm giác châm chích.
Hỏi : Về lâu về dài, những kết quả như thế nào?
BS Y.B : Đó là một kỹ thuật mà người Phap rất tiên tiến.Từ khoảng 4 năm nay, nhiều ngàn bệnh nhân đã được giải phẫu. Trong 80 đến 90% những tình huống trong đời sống hàng ngày, họ không cần đeo kính nữa, dầu đó là nhìn xa hay nhìn gần (tuy nhiên một khó khăn có thể xuất hiện khi họ phải đọc lâu những chữ nhỏ dưới một ánh sáng yếu hay trong vài trường hợp lái xe ban đêm).Theo những kết quả nghiên cứu mới đây, chỉ số thỏa mãn là rất cao. Với các máy thuộc thế hệ mới rất hiệu năng này, chứng lão thị được điều chỉnh tốt hơn và một cách dài lâu hơn. Tuy nhiên, cần phải báo cho các bệnh nhân trẻ được mổ, rằng rối loạn thị giác này, vì là một hiện tượng tiến triển, nên một phẫu thuật sửa chữa (retouche chirurgicale) sẽ có thể tỏ ra cần thiết 6 hoặc 7 năm sau.
Hỏi: Có chống chỉ định đối với phép điều trị bằng presbylasik hay không?
BS Y. B : Các chống chỉ định có thể có nơi những bệnh nhân có một vài chỗ không đều trên kết mạc hay những đồng tử quá lớn (điều này đưa đến sự xuất hiện những vòng sáng vào đêm). Mặt khác, mắt được điều trị bởi kỹ thuật này phải lành mạnh : không bị bệnh đục thủy tinh thể, không bị thoái hóa võng mạc và không bị chứng tăng nhãn áp được xác nhận. Nguồn: (PARIS MATCH 3/7-9/7/2008)
7/ ĐIỆN THOẠI CẦM TAY : HÃY TRÁNH XA CÁC TRẺ EM.
Một lời kêu gọi thận trọng được đưa ra bởi 20 nhà khoa học trong đó có David Servan-Schreiber làm phát động trở lại cuộc tranh cãi về những mối nguy cơ do việc sử dụng điện thoại cầm tay.
“ Không có gì là mới cả ! ”, văn phòng của Bộ trưởng y tế Roselyne Bachelot, đã đảm bảo như thế về lời kêu gọi của việc sử dụng các điện thoại cầm tay, được đưa ra ngày 15 tháng 6 vừa qua bởi David Servan- Schreiber và được ký tên bởi 19 nhà khoa học khác. Bản văn của lời kêu gọi lấy lại những lời khuyến nghị trong cuốn sách mỏng “ Điện thoại di động : sức khỏe và an toàn ” mà Bộ y tế Pháp đã phát hành từ tháng giêng năm 2008. Những người ký lời kêu gọi công nhận đã không có một bằng cớ dứt khoát nào để hỗ trợ cho việc cảnh giác của họ, chỉ nêu lên nguyên tắc thận trọng mà thôi.
Từ nay đến vài tháng nữa, Interphone, công cuộc điều tra rộng lớn nhất từng được tiến hành về nguy cơ bị u não liên quan với sự sử dụng điện thoại cầm tay, sau cùng sẽ làm sáng tỏ những người hữu trách. Hiện nay, các nhà nghiên cứu của 16 nhóm, trong 13 nước, trong đó có Pháp, đang còn tranh cãi gay gắt chung quanh các kết quả đầy mâu thuẫn. “ Nhiều công trình cho thấy rõ sự hiện diện của một mối nguy cơ, trong khi những công trình khác đảm bảo rằng không có. Vậy khó kết luận một cách dứt khoát ”, Martine Hours, thầy thuốc dịch tễ học của Inrets (Institut national de recherche sur les transports et leur sécurité), và là người điều hành nữ của các nhóm nghiên cứu Pháp tham gia trong Interphone, đã giải thích như vậy. Và không phải chỉ có thế thôi : những công trình nghiên cứu này bao gồm những thiên lệch, tùy theo các trường hợp, dẫn đến một sự đánh giá quá cao hay quá thấp nguy cơ bị khối u não bộ. Thí dụ, những người điện thoại nhiều nhất chấp nhận trả lời điều tra dễ dàng hơn, điều này có thể dẫn đến sự đánh giá quá cao nguy cơ. “ Người ta cũng có thể tự hỏi ảnh hưởng nào của bệnh khi một bệnh nhân bị một ung thư ở phía phải của não bộ cho rằng anh ta thật sự gọi điện thoại về phía phải. Há không phải anh ta đã tạo, một cách vô ý thức, một liên hệ nhân quả, không tương quan với thực tế sử dụng của anh ta ? ”, GS Elisabeth Cardis, của Trung tâm nghiên cứu dịch tễ học môi trường (Barcelone), điều hành công trình nghiên cứu Interphone trên bình diện quốc tế, đã tự hỏi như thế.
Về nguy cơ gia tăng nơi trẻ em, kết luận duy nhất hợp lý vào lúc này nằm trong lời bình luận sau đây của Elisabeth Cardis : “ Tôi đồng ý toàn bộ với ý nghĩ hạn chế việc sử dụng của những người trẻ tuổi nhất, nhưng không phải vì vậy mà đi đến chỗ cấm đoán. Điện thoại cầm tay có thể là một công cụ rất quan trọng, không những trong trường hợp cấp cứu, mà còn nhằm duy trì sự tiếp xúc giữa các trẻ và bố mẹ của chúng và do đó trấn an lẫn nhau ”. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 7/2008)
8/ CÀ PHÊ VÀ CHOLESTEROL

Cà phê bị gán cho một vai trò trong việc làm gia tăng nồng độ của cholestérol. Cần phải uyển chuyển hơn điều khẳng định này và xác định rõ rằng điều đó tùy thuộc vào cách pha chế. Hai diterpène hiện diện trong dầu cà phê (huile de café), cafestol và kahweol, có thể là nguyên nhân của sự gia tăng này. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng sự tiêu thụ cafestol hàng ngày làm gia tăng nồng độ cholestérol trong máu, nhưng sự gia tăng này ít hơn trong trường hợp tiêu thụ lâu dài. Do đó những công trình nghiên cứu ngắn hạn có thể dẫn đến việc đánh giá quá cao về tác động của cà phê lên nồng độ của cholestérol. Về kahweol, vai trò của nó trong hiện tượng này không được rõ ràng lắm. Sự liên kết của cafestol với kahweol có tác động lên nồng độ cholestérol hơn là kahweol đơn độc .
Một cà phê, trong đó bột cà phê được cho tiếp xúc lâu dài với nước sôi và không được lọc (như trong trường hợp cà phê Thổ hay Hy lạp), chứa những diterpènes này với nồng độ cao, trái với cà phê được lọc hay một “espresso”. Vậy vì lý do thận trọng, đối với những bệnh nhân bị cao huyết áp và tăng cholestérol-huyết, tốt hơn là nên tránh những cách pha chế đầu và theo cách pha chế sau. Nguồn: (LE MAGAZINE DES GLEMS 4/2008)
9/ THÀNH PHỐ NỮU ƯỚC TUYÊN CHIẾN HOÀN TOÀN VỚI MỠ ĐƯỢC HYDRO HÓA

Giới hữu trách y tế Nữu Ước đã quyết định rằng từ 1/7/2008 các loại mỡ được gọi là “trans” sẽ hoàn toàn bị cấm chỉ trong mọi thực phẩm công nghiệp. Những acide béo trans này, được sản xuất với quy mô lớn bằng những phương thức công nghiệp, được chứa trong nhiều thực phẩm mà người tiêu thụ thường không hay biết, bị cáo buộc là làm dễ sự phát sinh những bệnh tim mạch. Vào tháng 9 năm 2006, những acide béo này đã bị cấm chỉ trong các dầu rán của tất cả các tiệm ăn của thành phố. Nhưng bắt đầu từ đầu tháng 7, lệnh cấm đoán này cũng sẽ áp dụng cho mọi thực phẩm, và đặc biệt là đối với các mỡ được sử dụng bởi các thợ làm bánh mì và bánh ngọt, thủ công hay công nghệ. Các acide béo trans có được là do sự chế biến công nghiệp các dầu thực vật bằng phản ứng hydro hóa (hydrogénation). Phương thức này cho phép có được những loại mỡ có thời gian bảo quản dài, nhưng biến đổi những acide béo không bảo hòa thành những acide béo có cùng tác dụng lên sức khỏe như các mỡ động vật. Các acide béo trans này được xem như là một yếu tố cũng làm dễ chứng béo phì. Những chất béo này thường hiện diện trong bánh quy, bánh ngọt, frite, bột pizza, món tẩm bột rán và được sử dụng trong tất cả các nước công nghiệp, và đặc biệt là ở Pháp. “ Tất cả những thức ăn được phục vụ phải chứa dưới 0,5g mỡ trans mỗi khẩu phần ”, Bộ Y tế Hoa Kỳ đã loan báo như vậy. Chỉ Hoa Kỳ đã có một quyết định như thế. Chứng béo phì và tình trạng tăng thể trọng, ở Hoa Kỳ, ảnh hưởng 65% những người trên 20 tuổi. Nguồn: (LE FIGARO 2/7/2008)
10/ TỰ TỬ VÀ NÃO BỘ

Lúc so sánh não bộ sau khi mất của những người tự tử chịu sự ngược đãi trong thời thơ ấu, với não bộ của những người có thời thơ ấu bình thường và chết một cách tự nhiên, một nhóm nghiên cứu người Canada nhận thấy một sự khác nhau có ý nghĩa nơi thùy hải mã (hippocampe), một vùng của não bộ điều hòa tính khí và trí nhớ. Một vài gène, dùng để tổng hợp các protéine cần thiết để sinh ra những nối kết thần kinh mới, quan trọng trong việc học tập và ghi nhớ, ít được biểu hiện hơn nhiều trong thùy hải mã của những người tự tử, so với trong thùy hải mã của nhóm kiểm chứng. Vậy sự ngược đãi trong thời kỳ thơ ấu có khả năng làm hỏng lâu dài sự biểu hiện của vài gène của não bộ. Nguồn: (LA RECHERCHE 7-8/2008)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(24/7/2008)

Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Tin Mới Y Học