 |
Thời
Sự Y Học số 81
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CÁC THẦY THUỐC KHOA DA
CHỐNG LẠI VIỆC SỬ DỤNG LASER TRONG CÁC VIỆN THẨM MỸ
Các mối hiểm nguy của vài loại máy móc trong tay những người không sành
sỏi làm lo ngại các thầy thuốc.
Từ một ít lâu nay, một vài viện thẩm mỹ (institut de beauté) đề nghị điều
trị bằng laser, cho phép làm rụng lông (épilation) vĩnh viễn, loại bỏ
các vết nâu (taches brunes) trên da, mụn trứng cá hoặc làm trẻ da (rajeunissement
cutané). Những trung tâm này hoạt động ngoài mọi kiểm tra y tế, nhưng
hoàn toàn hợp pháp, sử dụng các máy móc có những tia bức xạ khác nhau
( lampes flash, diodes électroluminescentes), tương tự các tia laser.
Công đoàn quốc gia các thầy thuốc da liễu vừa chống lại những việc làm
này, cho rằng các máy móc này, nếu không được sử dụng đúng, có thể gây
nên các biến chứng, đặc biệt là các vết bỏng và chúng có thể làm biến
mất các thương tổn da trước khi một chẩn đoán được thực hiện (nhất là
trường hợp ung thư da). Theo dự kiến trong những ngày đến, công đoàn sẻ
yêu cầu giới hữu trách y tế dùng những biện pháp cần thiết để bảo đảm
sự an toàn cho những người tiêu thụ.
Trong khoa da, các tia laser đã cách mạng hóa một vài điều trị bệnh ngoài
da, bằng cách cho phép cắt bỏ một vài u mạch (angiome) mà không cần phải
phẫu thuật, bằng cách thực hiện sự nhổ lông vĩnh viễn (épilation définitive)
nhất là đối với các phụ nữ bị chứng rậm lông (hirsutisme), hay qua sự
loại bỏ một vài dấu hiệu của tuổi già như các vết nâu (taches brunes)
bằng cách đề nghị các loại “ lifting ” khác nhau.
300 LẦN ÁNH SÁNG MẶT TRỜI
Một vài thầy thuốc, chuyên về thẩm mỹ, thực hiện nhiều động tác thuần
túy thẩm mỹ, nhưng thù lao không được đảm nhận bởi Sécurité sociale. Trong
những trường hợp này, người chuyên nghiệp y tế dầu sao cũng đảm bảo tính
nghiêm túc và chất lượng, mặc dầu theo công ty bảo hiểm các thầy thuốc,
những vụ tranh chấp y-pháp y về các điều trị bằng tia laser đã không ngừng
gia tăng.
Vậy có nên chỉ dành quyền sử dụng các tia laser trong điều trị bệnh da
cho các thầy thuốc mà thôi không ? “ Việc sử dụng các máy có phóng xạ
quang học (appareils à rayonnements optiques) trước hết cần phải chẩn
đoán chính xác, B.S Hugues Carlier, chủ tịch của nhóm laser trong Hiệp
hội khoa da của Pháp đã giải thích như vậy. Sự lựa chọn điều trị và sự
lựa chọn bức xạ quang học tùy thuộc vào chất lượng của chẩn đoán này.
Các thầy thuốc cũng phải, trong thời gian điều trị, đảm bảo về hiệu quả
của nó, dự kiến các tác dụng phụ gặp phải và điều trị chúng nếu cần. Sau
cùng người thầy thuốc phải thông báo trước cho bệnh nhân những nguy cơ
gặp phải ” .
Thí dụ, một vài vết da nâu (taches cutanées brunes) có thể được đốt bằng
laser bởi một cô sửa sắc đẹp (esthéticienne), trong khi thật ra đó là
một u hắc tố ác tính (mélanome malin) ; trong trường hợp này một phẫu
thuật cắt bỏ sâu (chirurgie d’excérèse profonde) là cần thiết để đảm bảo
chữa lành bệnh. Ví dụ khác, vài phụ nữ bị chứng rậm lông (hirsutisme),
nghĩa là hệ lông quá nhiều, do một rối loạn hormone, hoặc do một khối
u tiết các hormone. Nếu như nguyên nhân không được điều trị, lông sẽ mọc
trở lại mặc dầu các buổi điều trị bằng laser và bệnh trở nên nặng hơn.
“Và khi tia laser không được sử dụng đúng đắn, người tiêu thụ có thể không
nhận được kết quả hoặc còn có thể bị bỏng nữa ”.
Đối với Serge Mordon, giám đốc nghiên cứu ở Inserm, “ các dụng cụ này
là những thiết bị y khoa. Chúng có những tác dụng điều trị trên các mô
và các tế bào và phải dành cho các thầy thuốc. Những máy sắp xuất hiện
trên thị trường có thể phát ra năng lượng tương đương với 300 lần ánh
sáng mặt trời vào buổi trưa. Thế thì chúng ta sẽ để bán tự do các thiết
bị này hay sao ? ”. Hiện nay việc sử dụng các máy này trong các viện thẩm
mỹ không có gì là bất hợp pháp cả. Nguồn : LE FIGARO
(31/5/2008)
2/ CÀ PHÊ, TRÀ VÀ NGUY CƠ BỊ UNG THƯ VÚ
Ganmaa và các cộng sự viên ( Hoa Kỳ) đã thu góp các dữ kiện liên quan
đến 86.000 phụ nữ đã tham gia vào công trình nghiên cứu Nurses’ Health
Study về sự tiêu thụ cà phê, trà và caféine. Các người tham gia ở trong
lứa tuổi 30 đến 55 vào lúc khởi đầu công trình nghiên cứu. Suốt trong
22 năm theo dõi, 5.272 phụ nữ trong số những người tham gia, đã phát triển
một ung thư vú. Sau khi điều chỉnh về các yếu tố khác nhau khả dĩ ảnh
hưởng lên các kết quả (tuổi tác, chứng nghiện thuốc lá, thể dục, các tiền
sử gia đình ung thư vú, tình trạng mãn kinh, các tiền sử về điều trị bằng
hormone, số con có đuợc), các nhà nghiên cứu đã không nhận thấy rằng nguy
cơ bị ung thư vú nơi các phụ nữ uống ít nhất 4 tách cà phê hay trà mỗi
ngày là cao hơn so với các phụ nữ chỉ uống mỗi tách mỗi ngày. Nguồn
: LE JOURNAL DU MEDECIN (6/6/2008 )
3/ CÁC UNG THƯ DA
Đứng trước sự gia tăng dần của các ung thư da, G.S Patrice Morel ( trưởng
khoa da bệnh viện Saint-Louis) đã xây dựng một trung tâm đặc biệt để điều
trị các ung thư này. Ông giải thích cho chúng ta về lợi ích của trung
tâm điều trị này.
Hỏi : Tại sao đã nghĩ ra một trung tâm điều trị riêng
cho các ung thư da
G.S Patrice Morel : Bởi vì tỷ lệ các khối
u này đang gia tăng : thí dụ u hắc tố (mélanome) là loại ung thư có tần
số gia tăng nhanh nhất ở nước Pháp (sau ung thư phổi ở phụ nữ). Tỷ lệ
mắc phải u hắc tố đã tăng gấp đôi trong vòng 10 năm ! Mặt khác, việc điều
trị các khối u da này đã được cải thiện : ở bệnh viện Saint-Louis, chúng
tôi có những xét nghiệm mới cho phép đánh giá sự hiện diện hay không của
một di căn hạch, vào một giai đoạn rất sớm.
Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những ung thư
da nào thường xảy ra nhất ?
G.S P.M : Trong số những ung thư da thông
thường nhất (phát triển từ các tế bào của biểu bì, chủ yếu trên các vùng
tiếp xúc với ánh sáng mặt trời), có hai loại. Loại 1 là các basocellulaires
(150.000 trường hợp mới mỗi năm). Loại 2 là các carcinome épidermoide
(50.000 trường hợp mới mỗi năm). Các ung thư basocellulaire xuất hiện
dưới dạng các tăng sinh nhỏ vài mm. Các carcinome épidermoide có một dạng
sần sùi trăng trắng (rugosité blanchatre) (kératose solaire). Ít thường
xảy ra hơn nhưng vô cùng nguy hiểm là các u hắc tố (mélanome) (mà yếu
tố nguy cơ đầu tiên là một đợt trúng nắng lúc còn ấu thơ). Các u hắc tố
phát triển từ các mélanocytes, những tế bào chế tạo sắc tố ( 6000 đến
700 trường hợp mới mỗi năm). Các u sắc tố có thể xuất hiện dưới 2 dạng
: khi thì dưới dạng một nốt ruồi (grain de beauté), đã hiện diện từ lâu
nhưng thay đổi dạng vẻ (với một kích thước lớn hơn, một màu sắc ít đồng
đều hơn, chỗ nổi rõ hơn, các đường viền ít đều đặn hơn), khi thì dưới
dạng một nốt ruồi mới, lần này có tất các các đặc điểm của u sắc tố.
Hỏi : Tính nguy hiểm nào của những ung thư da thường
gặp nhất, các basocellulaires và các épidermoides ?
G.S P.M : Tính chất nguy hiểm là do sự lan
rộng tại chỗ của chúng, bởi vì các khối u này hiếm khi di căn. Nếu không
được lấy đi đúng lúc, các khối u có nguy cơ lan rộng theo bề mặt và bề
sâu, điều này làm cho động tác phẫu thuật khó khăn hơn, với một kết quả
thẩm mỹ ít tốt hơn.
Hỏi : Các mối nguy cơ của một u hắc tố ( mélanome) ?
G.S P.M : Các ung thư da này là đáng sợ,
bởi vì chúng rất dễ phân tán nhanh chóng bằng đường bạch huyết và máu,
nghĩa là di căn đi xa. Những nguy cơ này càng lớn khi u hắc tố được lấy
đi càng trễ. Do đó, lợi ích của một chẩn đoán sớm !
Hỏi : Các basocellulaires và các carcinome épidermoide
thường được điều trị như thế nào ?
G.S P.M : Có thể có nhiều phương cách, tất
cả đều rất hiệu quả ( với khoảng 5% tái phát trong 5 năm). Các phương
thức xưa cổ nhất nhằm, hoặc là lấy đi khối u bằng phẫu thuật, hoặc là
áp dụng một điều trị tại chỗ (dưới dạng pommade) làm phá hủy khối u. Từ
ít lâu nay, người ta sử dụng một phương thức mới, quang động trị liệu
pháp (photothérapie dynamique).Trong phương pháp này, người ta trải lên
thương tổn một chất thuốc sẽ ngấm vào các tế bào ung thư.
Chất thuốc này, khi được tiếp xúc với một ánh sáng đặc biệt (được phát
ra bởi một ngọn đèn), sẽ gây nên một phản ứng độc do ánh sáng (réaction
phototoxique) có tác dụng loại bỏ khối u.
Hỏi : Và trong điều trị u hắc tố, tiến bộ mới nhất là
tiến bộ nào?
G.S P.M : Phương thức hiệu quả nhất vẫn là
phương thức cắt bỏ bằng phẫu thuật ở một giai đoạn sớm (trước khi ung
thư dày lên). Từ hai hoặc ba năm nay, chúng ta có được một tiến bộ : cũng
như đối với ung thư vú, chúng ta thăm khám phát hiện hạch “ sentinelle
”. Phương thức này nhằm lấy hạch đầu tiên của chuỗi hạch liên hệ, để tìm
kiếm một vi di căn (micrométastase) khả dĩ xảy ra. Nếu như hạch bị di
căn ( trong 20% các trường hợp u hắc tố), người ta thực hiện nạo (curage),
cho phép phân tích các hạch khác của chuỗi hạch bạch huyết . Chính nhờ
những kết quả của những sinh thiết này mà thầy thuốc sau đó có thể để
nghị hay không một điều trị đặc hiệu. Mãi đến ngày nay, trong những trường
hợp rất tiến triển (với di căn), người ta đã nhận thấy rằng các hoá học
trị liệu không cho phép thu được những kết quả rất có hiệu xuất. Do đó
ngày nay, người ta hướng về những liệu pháp mới.
Hỏi : Những phương pháp điều trị mới nhất nhằm vào những
gì ?
G.S P.M : Các phương pháp này có hai mục
đích : hoặc là can thiệp trực tiếp lên quá trình ung thư hóa, hoặc là
tăng cường các phòng thủ miễn dịch của cơ thể và như thế làm dễ sự tự
phá hủy những tế bào ung thư. Ở bệnh viện Saint-Louis, chúng tôi đã đạt
đến một giai đoạn thử nghiệm đầy hứa hẹn.Vấn đề là chúng tôi còn phải
xác nhận tính hiệu quả và độ dung nạp tốt của chúng.
Hỏi : Trung tâm điều trị ung thư da của ông hoạt động
như thế nào ?
G.S P.M : Bệnh viện đa khoa bệnh ngoài da
(polyclinique de dermatologie) này bao gồm một nhóm nhiều chuyên khoa,
liên kết các thầy thuốc khoa da, các thầy thuốc ngoại khoa, các chuyên
gia về ung thư, các chuyên gia quang tuyến và các thầy thuốc phóng xạ
trị liệu pháp. Đối với mỗi điều trị, các quyết định được thực hiện vào
lúc thăm khám hội chẩn quy tụ nhiều trong số các thầy thuốc chuyên khoa
này. Đó là một trung tâm tiên tiến, được trang bị bởi các kỹ thuật có
hiệu năng (các máy siêu âm, scanners thuộc thế hệ mới nhất, Pet Scan...)
mà mục đích chủ yếu là điều trị nhanh chóng những bệnh nhân đã được chẩn
đoán bởi các thầy thuốc của họ. Trong một vài trường hợp u hắc tố ở giai
đoạn tiến triển, các bệnh nhân có thể được cho tiếp cận với những thử
nghiệm lâm sàng.
Hỏi : Ông có thể cho vài lời khuyên trước mùa nghỉ hè
sắp đến ?
G.S P.M : Tránh bị trúng nắng do sưởi nắng
gia tăng dần từ ngày này qua ngày khác và biết thỏa mãn một rám nắng nhẹ
tạo nên một gương mặt tươi tỉnh. Lời khuyên khác của tôi, còn bức thiết
hơn, là bảo vệ các trẻ em để chúng không phạm vào quá sớm cái vốn ánh
nắng mặt trời của chúng. Chúng ta đừng quên rằng những đợt trúng nắng
trong thời kỳ thơ ấu là những yếu tố nguy cơ đầu tiên của u hắc tố. Nguồn
: PARIS MATCH (5/6-11/6/2008)
4/ CÁC BỆNH NHÂN BỊ BỆNH TIM MẮC CHỨNG TRẦM
CẢM, THƯỜNG BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO HƠN
Wouts (Nijmegen) và nhóm nghiên cứu đã tự hỏi rằng sự hiện diện, mức độ
nghiêm trọng và tính kinh niên của các triệu chứng trầm cảm (symptômes
dépressifs) có thể ảnh hưởng một cách độc lập hay không lên sự xuất hiện
một tai biến mạch máu não nơi những người già, có hoặc không có bệnh lý
về tim . Sau 9 năm theo dõi, các nhà nghiên cứu đã có thể xác lập rằng
sự hiện diện của những triệu chứng trầm cảm thích đáng trên bình diện
lâm sàng là liên kết với nguy cơ bị tai biến mạch máu não 2,18 lần cao
hơn nơi các bệnh nhân bị bệnh tim. Nơi những người già không bị bệnh tim,
trái lại, các triệu chứng trầm cảm đã không liên kết một cách đáng kể
với việc xuất hiện một tai biến mạch máu não. Cùng một cách như vậy, mức
độ nghiêm trọng và tính chất mãn tính của các triệu chứng trầm cảm đã
liên kết một cách đáng kể với sự xuất hiện một tai biến mạch máu não nơi
những bệnh nhân bị bệnh tim, nhưng không nơi những bệnh nhân không bị
loại bệnh lý này. Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN (6/6/2008)
5/ UNG THƯ NÃO : MỘT VACCIN ĐẦY HỨA HẸN
Được mổ hôm qua vì một glioblastome, một khối u não, Edward Kennedy có
thể sẽ được hưởng phép điều trị mới này.
Yves Saint Laurent, qua đời hôm chủ nhật, thượng nghị sĩ đảng dân chủ
Hoa Kỳ Edward Kennedy và hàng ngàn người là nạn nhân của các khối u não
ác tính, được xem là ít có khả năng điều trị và lại còn có tiên lượng
đáng sợ. Ở Pháp, mỗi năm có từ 3.000 đến 5.000 các trường hợp ung thư
não mới xảy ra. Thế mà, dạng thường xảy ra nhất của những ung thư này,
glioblastome, đã là đối tượng của một tiến bộ khoa học đáng lưu ý : một
vaccin thử nghiệm được trình bày ở hội nghị hàng năm lần thứ 44 của Hiệp
hội ung thư lâm sàng Hoa Kỳ, vừa họp mới đây ở Chicago.
Thử nghiệm lâm sàng được thực hiện trên 23 bệnh nhân bị một glioblastome
có kích thước lớn : trong khi các bệnh nhân bị ung thư này, được điều
trị với phép trị liệu chuẩn, sẽ có một tỷ lệ sinh tồn trung bình 14 tháng,
thì những bệnh nhân được điều trị bằng một vaccin thực nghiệm, trung bình
đã sống được 33 tháng sau khi chẩn đoán. Chính một thụ thể (récepteur)
hiện diện trên những tế bào ung thư ( mà sự đột biến là nguyên nhân của
sự tăng trưởng của ung thư) là cái đích của vaccin thực nghiệm. Yếu tố
quan trọng khác : vaccin đã làm chậm lại sự tái phát của khối u sau khi
được cắt bỏ bằng phẫu thuật. Khối u này trung bình chỉ tái xuất hiện 16,6
tháng sau giải phẫu nơi các bệnh nhân được tiêm chủng, so với 6 tháng
nơi những bệnh nhân khác.
Lúc trình bày với báo chí về thử nghiệm này, B.S Mark Gilbert, thuộc MD
Anderson Cancer Center (Texas) đã chỉ rõ rằng Thượng Nghị Sĩ Edward Kennedy,
hôm qua được mổ thành công một glioblastome nằm ở phần trên của bán cầu
đại não trái, “ông cũng có thể được cho sử dụng vaccin này”. Tại Avant
Immunotherapeutic, hãng thuốc sản xuất vaccin, người ta chỉ rõ rằng “không
có một tiêu chuẩn loại bỏ vì lý do tuổi tác nào, ngăn cản sự tham dự của
Edward Kennedy vào thử nghiệm này, nếu như khối u đúng là do một đột biến
(mutation) loại 3 của thụ thể bia (récepteur cible)” (có nhiều loại đột
biến khác nhau).
Một vaccin cạnh tranh, Oncophage, được sản xuất bởi phòng bào chế Antigenics,
có trụ sở ở Lexington (Maryland), cũng đã ra đời. Các kết quả của một
thử nghiệm lâm sàng đã được trình bày năm vừa qua tại hội nghị American
Association of Neurological Surgeons ở Washington. BS Andrew Parsa, của
Đại Học Californie (San Fransisco) đã cho tham dự một nhóm 12 bệnh nhân
bị glioblastome vào một thử nghiệm giai đoạn 1, nhằm xác lập độ an toàn
của vaccin và tính hiệu quả sơ khởi của nó. Vaccin này, được chế tạo nhằm
chống lại nhiều kháng nguyên đặc hiệu của glioblastome của mỗi bệnh nhân,
đã cho phép 6 bệnh nhân sống thêm gần 9 tháng ( thời gian trung bình sống
sót thường được quan sát trong ung thư này là 6,5 tháng kể từ lần tái
phát đầu tiên).
Tại phòng bào chế Antigenics, hôm qua người ta cho biết rằng “ nếu khối
u được mổ của Edward Kennedy đã được làm đông lạnh và bảo quản, người
ta có thể chế tạo một vaccin chống lại glioblastome của ông ta ” . Những
thử nghiệm khác về liệu pháp gène cũng đang được tiến hành. Nguồn
: LE FIGARO (4/6/2008)
6/ SỮA CHOCOLAT
TỐT CHO BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 2 ?
Một chế độ ăn uống giàu flavanols, một chất chống oxy hóa được tìm thấy
trong fève de cacao, có một tác dụng thuận lợi lên sự loạn chức năng huyết
quản (dysfonction vasculaire) nơi những bệnh nhân bị bệnh đái đường loại
2. Đó là điều được rút ra từ một công trình nghiên cứu được thực hiện
bởi Balzer (Đức) và nhóm nghiên cứu của ông. Các nhà nghiên cứu đã muốn
trắc nghiệm tính khả thi của một chế độ ăn uống dựa trên sự tiêu thụ hàng
ngày cacao giàu chất flavanols, cũng như hiệu quả của nó trên chức năng
huyết quản nơi những người bị bệnh đái đường. Công trình nghiên cứu được
thực hiện đã chứng tỏ rằng sự sử dụng cacao giàu flavanols mang lại một
sự gia tăng rõ rệt các chất flavanols trong máu và của FMD
(flow-mediated dilatation), một chỉ dấu về khả năng giãn của các mạch
máu. Balzer kết luận rằng cacao giàu flavanols có một tác dụng thuận lợi
lên sự loạn chức năng huyết quản của những bệnh nhân bị bệnh đái đường.
Có thể khám phá này sẽ mở đường cho việc phát triển các loại thuốc dựa
trên các flavanols này. Nồng độ được sử dụng trong nghiên cứu này thật
ra hơi cao hơn nồng độ hiện diện trong chocolat. Đó là chưa kể chocolat,
ngoài flavanols, cũng chứa các chất mỡ và đường, điều này buộc phải sử
dụng một cách chừng mực. Nguồn: LE JOURNAL DU MEDECIN
(6/6/2008)
7/ HÃY ĂN NHIỀU HƠN VÀO BUỔI SÁNG.
Nếu chúng ta muốn tránh lên cân vào lứa tuổi trung niên, thì nên ăn nhiều
hơn vào buổi sáng và ăn ít hơn vào buổi chiều. Đây là điều chứng thực
của nhóm nghiên cứu của L.Purslow (Anh). Nhà nghiên cứu nữ đã quan tâm
đến các dữ kiện của 5.764 đàn ông và phụ nữ trong lứa tuổi 40 đến 75.
Những người này được theo dõi trong 3,7 năm. Hầu như tất cả đều lên cân
trong thời gian theo dõi. Những tỷ lệ lên cân là thấp nhất nơi những người
hấp thụ phần lớn calories hàng ngày vào buổi sáng . Những người hấp thụ
22% đến 50% lượng calories của họ vào buổi ăn sáng trung bình lên 0,79
kg vào cuối thời kỳ theo dõi. Những người không hấp thụ hơn 11% lượng
calories mỗi ngày vào buổi ăn sáng có thể trọng gia tăng trung bình 1,23
kg. Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN (6/6/2008)
8/ NĂM 2007 CÓ 3 TRIỆU NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC ĐIỀU
TRỊ CHỐNG BỆNH SIDA TRONG THẾ GIỚI THỨ BA
Cuối năm 2007, trong các nước “có lợi tức thấp hoặc trung bình”, các bệnh
nhân nhận được điều trị chống lại virus của sida (VIH)
là gần 1 triệu trường hợp nhiều hơn vào cuối năm 2006, một bản báo cáo
của OMS và của Onusida đã chỉ rõ như vậy. Điều này mang số bệnh nhân được
điều trị lên khoảng 3 triệu, hoặc 7 lần nhiều hơn cách nay 4 năm. Mục
tiêu của sáng kiến “ 3 triệu từ nay đến năm 2005 ”, nhằm vào các nước
của thế giới thứ ba, đã đạt được nhưng với 2 năm bị chậm trễ.
Các cơ quan của Liên Hiệp Quốc nhấn mạnh sự gia tốc toàn bộ các mũi tiến,
kể cả trong những lãnh vực phòng ngừa và phát hiện. “ Vào cuối năm 2007,
người ta ước tính rằng 200.000 trẻ em theo một điều trị kháng rétroviral,
so với 127.000 năm 2006 và 75.000 năm 2005 ”, văn kiện nói rõ như vậy.
Vào năm 2007, 33% các phụ nữ có thai với huyết thanh dương tính đã nhận
các antirétroviraux để ngăn ngừa sự lây truyền VIH cho các con của họ,
so với 10% năm 2004. Số các phụ nữ có thai được xét nghiệm tìm VIH đã
lên 18% trên thế giới, so với 16% năm 2006 và 10% năm 2005.
Năm 2007, với 2,5 triệu các lây nhiễm mới, tình hình còn lâu mới chế ngự
được.
TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA.
Theo OMS và Onusida, “ chỉ 31% những người cần được điều trị trong các
nước có lợi tức thấp hay trung bình, là được hưởng một điều trị như thế
vào năm 2007 ” . Ngoài ra, đa số những người sống với VIH/sida mà không
hay biết về tình trạng của họ và không tiếp cận với những dịch vụ phòng
ngừa và điều trị.
Bảng báo cáo chủ trương tăng cường vai trò của lãnh vực y tế trong phòng
ngừa VIH, bằng cách làm gia tốc “ sự thực thi những can thiệp đã có hiệu
quả như cắt bao quy đầu, các chiến lược làm giảm các nguy cơ, sự sử dụng
túi dương vật, sự phát hiện tìm VIH trong các sản phẩm máu và sự kết hợp
vai trò phòng ngừa trong các chương trình có liên quan đến bệnh lao phổi,
và đến sức khỏe bà mẹ và sinh sản ”. Về việc cắt bao quy đầu, một công
trình được công bố ngày 2/ 6 , trong tạp chí Plos Medicine, thực hiện
tại một quận ở Ouganda, chứng tỏ rằng việc cắt bao quy đầu không dẫn đến
những biến chứng phụ trên những người có huyết thanh dương tính. Nguồn
: LE MONDE (3/6/2008)
9/ BỆNH MẮT HỘT ĐANG THOÁI LUI
Là nguyên nhân đứng đầu của mù lòa do nhiễm khuẩn, bệnh mắt hột (trachome)
có thể được loại bỏ bởi một liều kháng sinh duy nhất, các nhà nghiên cứu
người Anh và Tanzania đã tuyên bố như vậy trong tạp chí The New England
Journal of Medicine. Bệnh mắt hột là một bệnh dịch địa phương (endémique)
trong 56 nước đang phát triển. Bệnh được gây nên bởi một vi khuẩn Chlamidiae
trachomatis.Vi khuẩn này gây nhiễm các tế bào của các niêm mạc mí mắt.
Sự viêm nhiễm được gây ra, tạo nên các vết sẹo và sự cọ sát chúng lên
mắt, cuối cùng dẫn đến mù lòa. Một chiến dịch của OMS đã mang lại nhiều
thay đổi từ 10 năm qua và đã làm giảm số người bị nhiễm trùng từ 100 triệu
xuống còn 43 triệu người. Tổ chức y tế thế giới quy định lau mặt đều đặn
với nước sạch và dùng đến một kháng sinh bằng đường miệng, azithromycine,
được sản xuất bởi phòng bào chế Pfizer. Khi một ngôi làng ở Tanzania với
dân số 1000 người, dùng một liều thuốc, tỷ lệ nhiễm trùng đã sụt giảm
trong 2 năm từ 9,5% xuống còn 0,1%. Một liều thứ hai đã cho phép làm biến
mất bệnh mắt hột khỏi ngôi làng này. Tính hiệu quả này có vẻ là một điềm
rất lành trong việc làm tiệt căn bệnh mắt hột, được ấn định vào năm 2020
bởi OMS. Nguồn : SCIENCES ET AVENIR (6/2008)
10/ CHÚNG TA KHÔNG ĐƯỢC BÌNH ĐẲNG TRƯỚC
UNG THƯ PHỔI
3 nhóm nghiên cứu đã chứng tỏ điều đó : những biến dị di truyền trên nhiễm
sắc thể 15 làm gia tăng đến 80% nguy cơ phát triển ung thư giết người
này.
3 công trình nghiên cứu quốc tế độc lập vừa nhận diện trên nhiễm sắc thể
15 một chỉ dấu di truyền (marqueur génétique) liên kết với ung thư phổi,
ung thư gây chết người nhất trên thế giới. Mỗi nhóm nghiên cứu đã sàng
lọc toàn bộ bộ gène (génome) của những người lành mạnh hay bị một ung
thư phổi. Kết quả : những người mang vài biến dị di truyền trên hai bản
sao của nhiễm sắc thể 15, có một nguy cơ phát triển một ung thư phổi 80%
cao hơn so với những người không có các biến dạng di truyền này. Những
người chỉ mang biến dị di truyền trên một bản sao có nguy cơ phát triển
ung thư phổi 30% cao hơn. “ Dĩ nhiên còn có nguy cơ do chứng nghiện thuốc
lá nơi những người hút thuốc ”, Diana Zelenika, thuộc trung tâm génotypage
quốc gia, đồng tác giả của một trong những công trình nghiên cứu đã phát
biểu như vậy.Trong vùng bị biến dị của nhiễm sắc thể có nhiều gènes mã
hóa các thụ thể đối với nicotine (récepteurs à la nicotine). Hai giả thuyết
có thể giải thích sự liên hệ của chúng trong ung thư. “ Những thụ thể
này có thể có một tác dụng gián tiếp bằng cách làm gia tăng sự phụ thuộc
đối với nicotine, một cách trực tiếp, bằng cách gây nên sự ung thư hóa
của biểu mô khí quản mang những tế bào này ” . Nguồn : SCIENCE
ET AVENIR (6/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(13/6/2008 )
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |