 |
Thời
Sự Y Học số 79
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ ĂN THỊT NGƯỜI
ĐỂ SỐNG LÀNH MẠNH
Ăn thịt người? Đó là điều có vẻ không thể tưởng tượng được!
Nếu không có những trường hợp giảm khinh như các nạn đói do tai họa hay
do tình trạng bị cô lập thúc đẩy con người đến chỗ ăn thịt đồng loại để
bảo đảm cho sự sinh tồn của chính bản thân mình, thì việc ăn thịt người
(anthropophagie) sẽ nhanh chóng được gán cho là điên rồ.
Trái lại, nhìn dưới một góc cạnh điều trị, các dược phẩm
được bào chế từ thịt người chẳng mang lại sự giận dữ hay ngại ngùng. Đó
chính là một triết lý - hay có phải nói rằng đó là “một nghệ thuật điều
trị” hay không?, đã ăn sâu vào trong lịch sử. Chính như thế mà các “thầy
thuốc chữa bệnh” (guérisseurs) thời Trung Cổ, dầu đó là thầy thuốc hay
lang băm (charlatans), đã phát hiện nơi mình một tâm hồn “những kẻ ăn
xác chết” (mangeurs de cadavres). Trong khi các người Ai Cập bảo vệ và
tôn kính những người đã khuất trong suốt nhiều thế kỷ, thì Tây Âu thời
trung cổ lại buôn bán phát đạt các xác ướp.
CÁC XÁC ƯỚP CHỮA BỆNH ( MOMIES GUERISSEUSES)
Ngay thế kỷ thứ 10, tư duy y học đã dành cho các xác ướp (momies) những
tính năng trị liệu vô song. Các xác ướp này được xem là có thể chữa tất
cả các chứng bệnh và được bán, với giá rất đắt, dưới mọi thể dạng. Xuất
phát từ sự cướp bóc các ngôi mộ Ai Cập, các xác ướp xuất hiện tại các
hiệu thuốc dưới các dạng khác nhau : các miếng thịt, bột nhão (pâte),
bột hay dầu xuất phát từ thịt được luộc. Bột xác ướp (poudre de momie)
được cấu tạo bởi thịt được ngâm trộn với “ pissasphalte ”, chất mà người
ta tìm thấy ở đáy của các quan tài bằng đá ( sarcophages) và do các chất
dịch chảy ra từ chính xác ướp. Bột được biến hóa thành nhựa thơm (baume),
cao dán (emplâtre) và các dung dịch được pha chế sẵn. Để làm một chế phẩm
khác nhằm làm ngưng sự xuất huyết, người ta đốt các chi của xác ướp, rút
các chất nhựa ra khỏi đầu và cho luộc tất cả trong sọ.
Các thầy thuốc nội và ngoại khoa gán cho bột xác ướp một
hiệu năng gây tê, làm sẹo, cầm máu và sát khuẩn. Ngay cả Avicenne vĩ đại
cũng nghĩ rằng chất này có thể làm giảm các chứng đau họng cũng như ho,
hồi hộp, các vết loét, các gãy xương, các cơn đau nửa đầu (migraines),
v...v. Ông cũng đã không do dự dùng chất này như là một chất đối kháng
trong những trường hợp ngộ độc. Danh sách các bệnh được điều trị không
dừng lại ở đó.
MUMIE KHÔNG THỂ THIẾU ĐƯỢC.
Chính vào thế kỷ thứ 16 mà việc sử dụng các xác ướp trong điều trị đạt
đến tuyệt đỉnh của nó. Các xác ướp của các thiếu nữ còn trinh được xem
là hiệu quả hơn những xác ướp khác bởi vì tinh khiết hơn. Mặc dầu các
khả năng chữa bệnh được gán cho phần thân thể của xác ướp , nhưng các
dây đai nhỏ bằng vải quấn quanh thân, nếu không hiệu quả hơn, thì cũng
không kém phần quý báu.Thật vậy, các dây đai này được các thợ ướp xác
tẩm nhựa trầm hương (myrrhe), lô hội (aloès), nhựa đường (asphalte) và
quế. Để thu lại những sản phẩm quý giá này, xác ướp được gãi để làm phát
xuất ra “ mumie ”, thuật ngữ phát xuất từ tiếng Ba Tư “ mum ” để mô tả
chất bitume thiên nhiên này. Khi đó, người ta gán, đúng hoặc sai, đủ loại
tính năng cho các thành phần này. Nhựa trầm hương (myrrhe) có tác dụng
kích thích, làm hóa sẹo, làm long đờm, chống viêm, sát khuẩn và an thần.
Nhựa lô hội (aloès) hữu ích trong trường hợp các vết thương, vết bỏng,
bệnh ngoài da hay bệnh trĩ. Dầu nhựa đường ( huile d’asphalte) chữa các
chứng đau răng, đau tai và đau dạ dày. Khi được đun nóng và kết hợp với
rượu trắng, dầu nhựa đường này làm bớt đau dây thần kinh tọa cũng như
phong thấp. Sau cùng, chất này còn nổi tiếng có hiệu quả chống bướu giáp,
các thương tổn ở da, ghẻ, chấy rận ! Còn quế thì từ thời Thượng cổ đã
được sử dụng do khả năng làm se (astringent), kích thích và tăng trương
lực. Là thuốc chữa bá bệnh thời Trung cổ, “ mumie ” được xem như là không
thể thay thế được. Paracelse là một người bảo vệ nhiệt tình thuốc trị
bá bệnh này. Khi vua François đệ nhất lên đường hành quân, ông đã không
quên mang theo những gói bột xác ướp mà các thầy thuốc điều trị của ông
thường kê toa trong trường hợp gãy xương, đụng dập hay để làm mạnh máu.
CƠN GIẬN CỦA AMBROISE PARE.
Tuy vậy, thuốc vạn năng này gặp phải vài người chống đối
, nhất là nhà phẫu thuật nổi tiếng Ambroise Paré. Thật vậy, cha đẻ của
nền ngoại khoa hiện đại đứng lên chống lại việc sử dụng “ mumie ”. Trong
Discours de la mumie et de la licorde xuất bản năm 1582, ông lập luận
rằng chất này “ có thể làm hại nhiều hơn là làm lợi, bởi vì đó là thịt
của những tử thi hôi thối ” và rằng “ không những thứ thuốc ác độc này
không lợi gì cho bệnh nhân... mà còn gây cho họ rất đau đớn ở dạ dày,
với mùi hôi thối ở miệng, gây nôn mửa nhiều, là nguyên nhân gây rối loạn
máu và làm cho máu chảy ra khỏi huyết quản hơn là làm dừng nó lại ” .
Trong bài diễn văn của mình, Ambroise Paré cũng nhấn mạnh đến việc buôn
thân người chết và sự lừa đảo gây ra do sự hâm mộ loại thuốc này mang
lại : “ chúng ta thấy người ta cho chúng ta uống một cách lộ liễu và thô
bạo xác hôi thối của các tử tù bị treo cổ, hay của bọn vô lại đê tiện
nhất của dân đen Ai Cập, của những người mắc bệnh giang mai, của những
người mắc bệnh dịch hạch, hay những người bị bệnh hủi : như thể không
có cách nào khác để cứu một người bị rơi từ trên cao, bị đụng dập và bầm
tím, ngoại trừ việc đưa vào trong cơ thể anh ta một người khác : và như
thể không có một cách nào khác để phục hồi sức khỏe ngoài một sự vô nhân
đạo thô bạo hơn ”. Ông cũng nói rằng “ mumie được làm và gia công ở nước
Pháp của chúng ta, ở đây người ta đánh cắp các xác chết trên các giá treo
cổ, rồi thì người ta nạo chúng, lấy bỏ não và lòng ruột trước khi cho
sấy khô ở trong lò. Sau đó người ta bán chúng như là một mumie chính hiệu
và có chất lượng tốt, mà người ta nói là đã mua chúng từ những người lái
buôn bồ đào nha hoặc đã mang chúng lại từ Ai cập ”
GIAN LẬN VÀ BẤT HỢP PHAP
Thật vậy, nhu cầu to lớn do các toa thuốc là cơ sở của một nền thương
mãi bất hợp pháp và gian lận từ phía những thương gia ít đắn đo ngại ngùng.
Sau một thời gian nào đó, các xác ướp trở nên hiếm hơn ; việc tìm kiếm
chúng mất thời gian hơn và tốn kém hơn, vì vậy vài người đành dùng các
xác chết mới xảy ra hơn, thậm chí còn tươi. Việc chế tạo các xác ướp giả
cũng phát đạt. Các thương gia trộm các tử thi rồi đem làm khô trong cát
của sa mạc, để ướp xác một cách đại khái trước khi cho lên tàu đi Pháp.
Việc buôn bán mới này là một mỏ vàng thật sự, được khuyến khích bởi các
thầy thuốc dốt nát thời đó. Các người nô lệ cũng làm ăn ra, các xác ướp
được bọc trong các vải, tẩm nhựa đường nấu chảy và nhựa thông hay tùng.
Trong một cái lò, người ta làm khô các xác chết của những người bị treo
cổ trước khi nhúng chúng vào trong nhựa. Thiếu tử thi phải không ?. Người
ta không do dự biến đổi thành xác ướp, những người chết vì bệnh dịch hạch
hay vì hoại thư … Tất cả các phương thức đều tốt để bịp người mua, vả
lại chính người mua này cũng ít ưu tư về chất lượng món hàng mà anh ta
sẽ đem đi bán lại.
… HAY NGHỆ THUẬT ĂN NGON KHẢ NGHI.
Vẫn ở thế kỷ thứ 16, thịt người nằm trong thành phần của
các món ăn càng ngày càng độc đáo. Như là trường hợp cậu học trò của Paracelse
phát minh rượu mùi xác ướp (liqueur de momie). Để làm rượu mùi độc đáo
này anh ta chế biến với một tử thi của một người đàn ông tóc đỏ, trẻ và
chết một cách đột ngột : những người tù tử tội rất được ưa chuộng !
HIỆU THUỐC SUY ĐỒI
Vài người sử dụng các mảnh xác được làm khô, cắt thành từng dải và đắp
chúng lên bệnh nhân bị chứng co thắt hay hystérie. Mồ hôi của những người
chết được thu góp để chống lại các bệnh trĩ. Sau đó là rượu mùi não (liqueur
de cerveau) chống lại bệnh động kinh hay lại còn có bọt (mousse), thu
được trên các chiếc sọ hay mỡ người để chống lại các bệnh linh tinh. Các
phương thuốc chống lại bệnh than được pha chế từ xác ướp và máu của các
thanh niên. Trong các hiệu thuốc, tất cả các dược phẩm dẫn xuất từ thịt
người này được đặt nằm bên cạnh các xác ướp. Các hiệu thuốc được đứng
bán bởi các dược sĩ (apothicaire), một cách hợp pháp và được đánh thuế
bởi nhà nước. Vào thế kỷ thứ 18, mặc dầu nghành dược được công nhận như
một nghề y cần đến các kiến thức và đào tạo nghiêm túc, nhưng các lọ thuốc
được dán nhãn bởi các dược sĩ tùy theo nguồn gốc của chúng (còn phải biết
xuất phát từ đâu !).Tuy nhiên việc buôn bán các xác ướp bắt đầu suy đồi
và các giá cả bị sụt giảm. Vị giác của xác ướp vẫn còn được mô tả trong
Pharmacopée universelle được xuất bản ở Luân Đôn năm 1747, như là đắng
và nồng. Vào đầu thế kỷ 19, mặc dầu đôi khi còn được sử dụng, nhất là
bởi triều đình Anh, các phép trị liệu trên cơ sở thịt người, trong đó
có “ mumie ”, càng ngày càng trở nên hiếm hoi và cuối cùng biến mất hoàn
toàn. Hiện nay, việc sử dụng các dẫn xuất từ người trong điều trị được
quy định. Các người Ai Cập, mơ ước sự vĩnh cửu và đặt tất cả các hiểu
biết của họ để đạt được điều đó, đã không ngờ rằng họ đã cho ướp xác khi
chết để rồi một ngày nào đó bị ăn bởi các người sống. Nguồn :
SEMPER ( 4/2008 )
2/ UỐNG
NHIỀU NƯỚC KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ CÓ LỢI.
Theo các niềm tin dân gian, uống 1,5 lít nước mỗi ngày
sẽ là tốt cho sức khỏe, vì như vậy cho phép loại bỏ tốt hơn các độc tố,
cải thiện chức năng của các cơ quan, gia tăng sự đả khát hay làm đẹp da.
Tuy vậy không có một nghiên cứu nào đã chứng tỏ những lợi ích như thế,
các nhà sinh học Dan Negolanu và Stanley Goldfarb (đại học Pennsylvanie)
đã kết luận như vậy, sau khi đã duyệt xét tư liệu y học về vấn đề này.
Nguồn : SCIENCE ET VIE ( 6/2008)
3/ ĐAU VÌ HẸP ỐNG THẮT LƯNG : ƯU THẾ CỦA
PHẪU THUẬT.
Giáo Sư Alexandre Carpentier, thầy thuốc chuyên khoa giải phẫu thần kinh
của bệnh viện la Pitié-Salpêtrière, bình luận các kết quả của công trình
nghiên cứu Hoa Kỳ Sport. Công trình này xác nhận mối lợi ích ưu thế của
điều trị ngoại khoa so với điều trị nội khoa đối với chứng bệnh hẹp ống
thắt lưng (canal lombaire rétréci)
Hỏi : Vì lý do gì ống thắt lưng (canal
lombaire) trở nên bị hẹp và đưa đến những bất thường gì?
G.S Alexandre Carpentier : Đó là một bệnh thoái hóa (maladie
dégénérative) có liên quan với tuổi tác, gồm một bệnh hư khớp (arthrose)
xảy ra nơi các khớp giữa các đốt sống (cục u xương được tạo thành trên
bề mặt khớp bị bệnh) cũng như một sự gia tăng thể tích của các dây chằng
chung quanh. Các bất thường về xương và dây chằng này dẫn đến sự giảm
đường kính của ống sống (canal rachidien), là nơi toàn bộ các dây thần
kinh đi qua và kéo dài xuống các chi dưới. Bệnh hư khớp là nguyên nhân
của đau thắt lưng (douleurs lombaires) và sự đè ép của các rễ thần kinh,
các cơn đau trong các chi dưới.
Hỏi : Các cơn đau gây nên bởi sự đè ép các dây thần kinh
này được thể hiện như thế nào ?
G.S A.C : Lúc nghỉ ngơi, người bệnh không cảm thấy một
triệu chứng nào, nhưng sau khi bước vài mét, bệnh nhân cảm thấy đau trong
hai cẳng chân. Cơn đau này có đặc điểm biến mất ngay khi ngồi hoặc khi
gấp mình về phía trước (như là khi người ta đẩy một chiếc xe bò hay khi
vừa đạp pédale vừa nghiêng mình phía trước trên xe đạp). Không được điều
trị, bệnh có thể nặng dần dần : ống thắt lưng (canal lombaire) sẽ càng
ngày càng hẹp lại và các cơn đau (đau thắt lưng và đau rễ thần kinh) sẽ
càng ngày càng mạnh, đi đến chỗ tạo nên một cực hình thật sự khi bước
(mà khoảng cách bước đôi khi giảm xuống còn 10 m !).
Hỏi : Làm sao chẩn đoán một cách chắc chắn?
G.S A.C : Ngày nay, Scanner và IRM có những chỉ định rất
chính xác. Chính sự phù hợp giữa các dấu hiệu lâm sàng và các hình ảnh
cho phép xác định chẩn đoán.
Hỏi : Để điều trị một ống thắt lưng hẹp,
những phương cách khác nhau nào được sử dụng ?
G.S A.C : Trước hết điều trị nội khoa trên cơ sở các thuốc
kháng viêm (anti-inflammatoires), tiêm ngấm (infiltration) tại chỗ corticoides
( được thực hiện bởi một thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp) và những buổi
vận động trị liệu pháp. Những phương thức này cho phép làm giảm các triệu
chứng và vượt qua một giai đoạn khó khăn. Người ta tìm cách làm giảm sự
đau đớn mà không điều trị nguyên nhân.
Hỏi : Những kết quả của phương thức điều
trị nội khoa này ?
G.S A.C : Nơi khoảng 40% các bệnh nhân, có thể có những
cải thiện duy trì trong nhiều tháng thậm chí nhiều năm. Khi các cơn đau
tái xuất hiện trong hơn 6 tháng, với một khoảng cách bước (périmètre de
marche) dưới 200m, khi đó phải nghĩ đến giải phẫu. Thời hạn tối thiểu
này là cần thiết để đảm bảo rằng các cơn đau không hồi phục một cách ngẫu
nhiên hay với điều trị nội khoa.
Hỏi : Phương thức ngoại khoa bao gồm những
gì ?
G.S AC : Giải phẫu, được thực hiện bởi một thầy thuốc chuyên khoa ngoại
thần kinh hay chuyên khoa giải phẫu chỉnh hình, có mục đích mở rộng ống
thắt lưng (canal lombaire) để làm giảm sự đè ép lên các rễ dây thần kinh.
Với động tác giải phẫu này, phẫu thuật viên sẽ lấy đi các cục u hư khớp
(excroissances arthrosiques) và các dây chằng bị dày mà không làm vỡ các
khớp liên đốt sống articulations intervertébrales) và do đó không làm
phương hại tính ổn định của cột sống. Nói chung đó là một phẫu thuật ít
nặng nề đối với bệnh nhân, cần một giờ rưỡi đến hai giờ gây mê tổng quát.
Trong những trường hợp hiếm hoi, trước khi phẫu thuật, nếu trên hình quang
tuyến động (radiographie dynamique) có một đốt sống bị trượt ( glissement),
thì phẫu thuật viên buộc phải thực hiện một cố định cơ học (fixation mécanique)
bằng titane để củng cố cột sống, điều này làm động tác giải phẫu nặng
nề hơn. Ở đây, chúng ta cần nhắc lại các nguy cơ vốn có nơi mọi cuộc phẫu
thuật, nhất là nơi những người bị bệnh tim mạch, bị suy hô hấp, nơi những
bệnh nhân bị đái đường và nơi những người trên 75 tuổi.
Hỏi : Về mặt ngắn hạn, những diễn biến
sau đó của giải phẫu này sẽ như thế nào ?
G.S A.C : Ngày nay, nhờ một bơm morphine được khởi động bởi chính bệnh
nhân suốt trong 24 giờ, các cơn đau sau giải phẫu đã trở nên có thể chịu
đựng được. Người được mổ ngày hôm sau đã đứng dậy và rời bệnh viện năm
ngày sau đó. Trở về nhà, anh ta nhận thấy các cơn đau ở các cẳng chân
biến mất gần như tức thời, điều này cho phép anh ta phục hồi trở lại một
khoảng cách bước đầy thỏa mãn. 60% bệnh nhân được mổ nhận thấy các cơn
đau vùng thắt lưng giảm rất nhiều và 80% có thể bước đi một cách độc lập.
Hỏi : Những kết luận của công trình nghiên
cứu lớn Sport, được công bố trong “ The New England Journal of Medicine
” đã xác nhận những kết quả tốt này hay không ?
G.S A.C : Công trình nghiên cứu này đã được thực hiện trên
654 bệnh nhân đều có ống thắt lưng bị hẹp (canal lombaire rétréci) với
những cơn đau thắt lưng từ ba tháng là ít nhất. Trong số các bệnh nhân
này, 400 đã được mổ (không kèm theo kỹ thuật cố định cơ học) và 254 đã
được điều trị nội khoa. Sau hai năm, các tác giả của công trình nghiên
cứu nhận thấy một sự giảm 50% các cơn đau trong cẳng chân và vùng thắt
lưng nơi những người được mổ so sánh với những người được điều trị nội
khoa, cũng như có một sự cải thiện rõ rệt trong sự đi đứng độc lập. Các
kết luận của công trình nghiên cứu cũng đề cập đến những dấu hiệu chỉ
sự thoả mãn của các bệnh nhân : 71% những bệnh nhân được điều trị ngoại
khoa đã tuyên bố thỏa mãn về kết quả so với 42% các bệnh nhân được điều
trị nội khoa. Sự khác nhau này càng đáng kể khi các bệnh nhân được mổ
có những triệu chứng nghiêm trọng hơn với một ống thắt lưng hẹp hơn. Về
công trình nghiên cứu này, xác nhận một cách khoa học các kết quả được
quan sát bởi chính bệnh nhân, cần phải nhắc lại rằng một thời hạn điều
trị nội khoa 3 tháng rồi mới chuyển qua điều trị ngoại khoa là không đủ.
Phải chờ 6 tháng, với sự đồng ý của BS chuyên khoa thấp khớp.
Hỏi: Sau khi công
bố nghiên cứu này, ý kiến cá nhân của ông như thế nào?
G.S A.C : Tôi nghĩ rằng phương thức giải phẫu, khi có chỉ định đúng, cho
phép có được một kết quả thỏa mãn hơn và dài lâu hơn một điều trị nội
khoa. Nguồn: PARIS MATCH ( 30/4 – 7/5/2008 )
4/
TESTOSTERONE VÀ CHỨNG TRẦM CẢM
Những người già thường bị giảm năng bộ phận sinh dục (hypogonadisme)
và thường bị chứng trầm cảm (dépression). Hai chứng bệnh này có lẽ liên
kết với nhau, như một công trình nghiên cứu được thực hiện nơi 4000 người
già trên 70 tuổi đã chứng tỏ điều đó. Sự liên kết giữa các nồng độ thấp
của hormone nam và một nguy cơ gia tăng bị chứng trầm cảm, là độc lập
với các yếu tố làm dễ khác như sự tăng thể trọng (surpoids) hay chứng
nghiện thuốc lá. Nguồn : SCIENCES ET AVENIR ( 6/2008
)
5/ CÁC
BỆNH TIM MẠCH, NGUYÊN NHÂN TỬ VONG ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI.
Theo OMS, các bệnh mãn tính, các cơn đột quỵ và các bệnh
tim càng ngày càng lấn bước các bệnh nhiễm khuẩn, vốn còn dẫn đầu cách
nay ít lâu.
Con người từ nay có nhiều nguy cơ chết vì một bệnh tim
mạch hơn là một bệnh nhiễm trùng. Đó là kết quả được rút ra từ Statistiques
sanitaires mondiales 2008, được công bố hôm qua bởi OMS và cho thấy rằng
các bệnh và các tử vong trên thế giới đang dần dần thay đổi bộ mặt. Các
căn bệnh giết người cổ điển như bệnh lao, bệnh sida, bệnh sốt rét, các
bệnh nhiễm trùng (sởi, viêm màng não, ỉa chảy trẻ em) đang dần dần nhường
chỗ cho các bệnh mãn tính, các cơn đột quỵ (stroke), các bệnh tim. Các
bệnh này đang đứng đầu trong xếp loại các dữ kiện thống kê thu lượm được
trong 193 nước hội viên của OMS về các nguyên nhân tử vong. Và sự lão
hóa dân số thế giới trong các nước nghèo trong 25 năm sắp đến sẽ còn làm
gia tăng khuynh hướng này. Một tiến triển như vậy
sẽ được giải thích, trong các nước giàu, bởi sự lão hóa và trong các nước
đang phát triển, bởi sự bùng nổ của chứng nghiện thuốc lá, của chứng béo
phì, của sự nhàn cư, kết hợp một cách nghịch lý với sự suy dinh dưỡng
Sự đánh giá vừa qua được thực hiện bởi OMS năm 2004 đã
cho thấy rằng các bệnh tim loại nhồi máu (infarctus) chịu trách nhiệm
12,2% tử vong được quan sát. Tiếp theo sau đó là các cơn đột quỵ (9,7%),
các nhiễm trùng hô hấp thấp (7%), viêm phế quản mãn tính (5,1%). Mặc dầu,
vào năm 2004, sida vẫn luôn luôn là một bệnh giết người quan trọng (3,5%
tử vong thế giới) : nhưng người ta ước tính rằng hơn 33 triệu người bị
nhiễm trùng năm 2007, sự đánh giá này từ nay được hạ xuống.
CÁC TAI NẠN XE CỘ TỪ HÀNG THỨ 9 LÊN HÀNG
THỨ 5.
Thuốc lá (không ngừng xâm chiếm các thị trường mới nơi các nước đang phát
triển) là trung điểm của sự tiến triển của tỷ lệ tử vong trên thế giới,
là một trong những yếu tố phát khởi của tất cả các bệnh mãn tính (nhồi
máu cơ tim, khí phế thủng, viêm phế quản mãn tính). Mỗi năm kỹ nghệ sản
xuất thuốc lá giết chết 1/3 đến 1/2 những người tiêu thụ trung thành nhất.
Mỗi người hút thuốc trung bình đánh mất 15 năm cuộc sống. Số người chết
do thuốc lá, yếu tố nguy cơ quan trọng của các bệnh lý tim mạch, của các
cơn đột quỵ, của các bệnh phổi mãn tính, gồm cả các ung thư phổi, phế
quản, khí quản và lao phổi, vượt quá 5,4 triệu người năm 2004 và theo
dự kiến đạt đến 8,3 triệu vào năm 2030 (hoặc gần 10% của tất cả các tử
vong, trong đó 80% trong các nước đang phát triển).
Các tiên đoán của OMS cho 22 năm sắp đến là như sau : 4 bệnh giết người
chính yếu ( các bệnh tim, các bệnh mạch máu não, các bệnh phổi mãn tính
và các nhiễm trùng phổi) sẽ vẫn trong đội dẫn đầu, với 14% tử vong cho
các bệnh tim và 12,1% cho các bệnh não. Các tai nạn xe cộ, hiện nay đứng
hàng thứ 9 trong các bệnh gây tử vong hàng năm, vào năm 2030 sẽ tiến lên
hàng thứ 5 ( từ 2,2% lên 3,6% của tử vong thế giới). Vào năm 2030, các
tử vong do ung thư, do các bệnh tim mạch, do các tai nạn đường xá sẽ chiếm
khoảng 30% tỷ lệ tử vong toàn bộ. Trái lại, bệnh lao, bệnh gây tử vong
đứng hàng thứ 7 năm 2004, sẽ trụt xuống hàng thứ 20 vào năm 2030. Các
bệnh ỉa chảy do nhiễm khuẩn, đứng hàng thứ 5 năm 2004, sẽ trụt xuống hàng
thứ 23 vào năm 2030.
Một bài học quan trọng rút ra từ các thống kê y tế năm 2008 là các nước
châu Âu bị chậm trễ trong vấn đề tuổi thọ (espérance de vie). Cách nay
50 năm, một đứa trẻ sơ sinh ở châu Âu có thể hy vọng sống 66 năm, trong
khi đó cùng đứa trẻ sơ sinh này ở châu Phi dưới Sahara chỉ sống 38 năm,
ở châu Á 41 năm và ở Nam Mỹ 51 năm. Trong một thế kỷ nữa, tuổi thọ tiến
thêm 27 năm ở châu Á, nhưng chỉ 8 năm ở châu Âu. Sự gia tăng tuổi thọ
từ năm 1950 đến 2005 là 15 năm ở các nước Nam và Tây Âu, những chỉ 4 năm
trong các nước Đông Âu. Sự quá mức tỷ lệ tử vong của những người từ 15
đến 59 tuổi giải thích một phần lớn sự khác nhau giữa Đông và Tây Âu :
ở đàn ông, 50% của sự vượt mức tỷ lệ tử vong được gán cho các bệnh tim
mạch, 20% của tỷ lệ tử vong bổ sung là do các tai nạn và các vết thương.
Ở phụ nữ Đông Âu, lại càng rõ ràng hơn : 80% của sự khác nhau về tuổi
thọ của các phụ nữ Đông Âu với các phụ nữ Tây Âu có thể được giải thích
bởi sự vượt trội tỷ lệ tử vong do các bệnh tim.
Yếu tố quan trọng khác : cuộc đấu tranh chống bệnh sốt rét bắt đầu cho
các kết quả : trên 21 nước châu Phi được nghiên cứu giữa năm 2000 và 2005,
tỷ lệ trẻ em ngủ có mùng đã được nhân lên 5 đến 10 lần trong vòng 5 năm.
Ở Zanzibar, việc cho sử dụng các thuốc chống sốt rét mới đã làm giảm 52%
trong 5 năm, tỷ lệ tử vong của các trẻ em dưới 5 năm. Nguồn :
LE FIGARO ( 21/5/2008 )
6/ BÉO PHÌ ẢNH HƯỞNG LÊN BỆNH ALZHEIMER.
Chứng béo phì (obésité) làm gia tăng nguy cơ bị chứng sa
sút trí tuệ (démence) và bệnh Alzheimer, một bài báo của Obesity Reviews
đã loan báo như vậy. Công trình này được thực hiện bởi Youfa Wang, thuộc
trường y tế công cộng quốc tế của đại học John Hopkins Bloomberg ở Baltimore,
chỉ rõ rằng nguy cơ sa sút trí tuệ gia tăng 42% nơi các người béo phì,
so với nguy cơ mà những người có trọng lượng bình thường gặp phải. Cũng
vậy, nguy cơ này gia tăng 36% nơi những người bị tăng thể trọng (surcharge
pondérale). Nơi các phụ nữ, chứng béo phì làm tăng lên xác suất phát triển
bệnh Alzheimer. Trong khi đó ở đàn ông, chứng béo phì làm gia tăng hơn
nữa chứng sa sút trí tuệ do nguyên nhân mạch máu (démence vasculaire).
Nguồn : LE SOIR ( 17-18/5/2008 )
7/ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG VÀ THỂ DỤC LÀM CHẬM SỰ
XUẤT HIỆN BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG 14 NĂM.
Trong khi số người bị bệnh đái đường bùng nổ khắp nơi trên
thế giới do chứng béo phì và do sự lão hóa, các nhà nghiên cứu vừa chứng
tỏ rằng những biến đổi về lối sống sẽ làm lùi lại lúc khởi đầu của bệnh
đái đường.
Các nước giàu, nhưng cả những nước đang phát triển hiện
nay, đang phải trả giá cao cho bệnh đái đường được gọi là trưởng thành
(diabète de maturité). Ngày nay ở Pháp, gần 3 triệu người bị bệnh đái
đường, chủ yếu là những người lớn tuổi và/hay những người béo phì. Nhưng
từ nay, bệnh này cũng được nhận thấy nơi các người trẻ trưởng thành. Để
giải thích một tiến triển như vậy, ngoài một tố bẩm di truyền (prédisposition
génétique), còn thêm vào một lối sống nhàn hạ và tĩnh tại và một chế độ
ăn uống quá nhiều calorie. Tuy vậy, tiến triển này không phải là không
tránh được. Một thử nghiệm phòng ngừa bệnh đái đường được phát động bởi
các thầy thuốc Trung Quốc năm 1986 vừa được công bố trong tạp chí Anh
The Lancet. Thử nghiệm đặc biệt này, với thời gian kéo dài 20 năm, chứng
tỏ rằng có thể đẩy lùi lúc khởi đầu của bệnh, chỉ bằng thể dục và chế
độ ăn uống. Từ nay, đã đến lúc các thầy thuốc có thể đề nghị với bệnh
nhân các cách thức không phải dùngthuốc này để tránh cho các bệnh nhân
khỏi bị rơi vào bệnh đái đường .
Bệnh đái đường được đặc trưng bởi một nồng độ đường trong
máu trên 1,26 g/L, lúc nhịn đói. Sự tăng đường huyết này, về lâu về dài,
chịu trách nhiệm những biến chứng : suy thận, mù loà, các bệnh tim mạch.
Có hai dạng đái đường : dạng được gọi là thanh niên (juvénile), bắt đầu
sớm, đặc trưng bởi sự phá hủy tự miễn dịch của tụy tạng và cần một điều
trị suốt đời bằng insuline. Dạng kia, được gọi là loại 2 hay trưởng thành
(maturité), thường gặp hơn cả, bắt đầu khoảng 50-60 tuổi và không nhất
thiết cần phải điều trị bằng insuline.
Vào tháng năm 2001, các thầy thuốc Phần Lan, bằng cách
cho những người bị tiền đái đường (prédiabétique) (nghĩa là những người
đã có những nồng độ đường bất thường trong máu) một chế độ ăn uống làm
ốm (régime amaigrissant) và những hoạt động vật lý trong 2 năm, lần đầu
tiên đã chứng tỏ rằng có thể làm giảm hơn 50% nguy cơ trở nên bị bệnh
đái đường. Vài tháng sau đó, các thầy thuốc Hoa Kỳ của đại học Rockville
cũng xác nhận lợi ích của thể dục và chế độ ăn uống để ngăn cản sự xuất
hiện của một bệnh đái đường chính thức.
CÁC KẾT QUẢ GÂY ẤN TƯỢNG.
Người Trung Hoa, cũng như dân các nước đang mới nổi khác,
do lối sống càng ngày càng ít hoạt động và do chế độ ăn uống theo kiểu
phương Tây, đang đương đầu với một trận dịch đái đường quy mô lớn. Guanguey
Li và nhóm nghiên cứu của ông thuộc đại học Bắc Kinh, cộng tác với các
chuyên gia của Trung tâm kiểm tra các bệnh Atlanta và của Tổ chức y tế
thế giới ở Genève, đã thực hiện một thí nghiệm chưa từng có từ trước đến
nay. Thí nghiệm này được tiến hành cách nay hơn 20 năm và các kết quả
được công bố hôm nay.
Năm 1986, 577 người Hoa từ 20 đến 70 tuổi (tuổi trung bình 47 tuổi), tất
cả được xem là ở trong tình trạng tiền đái đường (prédiabétique), đã được
chia thành 4 nhóm. Trong vòng 6 năm, đến năm 1992, các người thuộc nhóm
đầu tiên ( nhóm chứng) chỉ được theo dõi đơn thuần, các người thuộc nhóm
thứ hai theo cho một chế độ ăn uống (giảm đường, mỡ, rượu, gia tăng rau
xanh), những người thuộc nhóm thứ ba theo một chương trình thể dục ( gia
tăng hoạt động vật lý ít nhất 30 phút mỗi ngày) và sau hết những người
thuộc nhóm thứ tư vừa theo chương trình thể dục, vừa theo chế độ ăn uống.
Các kết quả gây ấn tượng. So với nhóm chứng, những người thực hiện đồng
thời chương trình thể dục và đồng thời tuân theo chế độ ăn uống trong
6 năm, có nguy cơ bị bệnh đái đường giảm một nửa. Sau 20 năm, nguy cơ
này vẫn còn rõ rệt thấp hơn đối với họ, với 43% nguy cơ ít hơn. Trong
suốt 20 năm theo dõi, nguy cơ này là 7% mỗi năm đối với nhóm “ can thiệp
” so với 11% đối với nhóm chứng.
Sau 20 năm, 80% những người thuộc nhóm “can thiệp” (thể
dục hay/và chế độ ăn uống) đã trở nên bị bệnh đái đường, so với 95% những
người thuộc nhóm chứng. Rõ ràng là đã có thể làm chậm lại 14 năm sự xuất
hiện một bệnh đái đường đối với 20% người thuộc nhóm “can thiệp”. Sự việc
đã theo một chương trình chế độ ăn uống-thể dục đã cho phép làm chậm lại
trung bình 3,6 năm lúc xuất hiện bệnh. Trái lại, không có sự khác nhau
nào về nguy cơ tim mạch được ghi nhận giữa các nhóm “can thiệp” khác nhau.
Công trình nghiên cứu này là lý thú vì lẽ một mặt, nó chứng tỏ rằng chúng
ta có thể làm chậm lại sự xuất hiện bệnh đái đường chỉ bằng cách biến
đổi lối sống, nhưng mặt khác, việc giảm nguy cơ bệnh đái đường kéo dài
lâu sau thời kỳ “ can thiệp ” nói riêng, giáo sư Jaanna Linsttrom (khoa
y tế công cộng, Phần Lan) đã đánh giá như vậy trong một bài xã luận.Trong
thử nghiệm này, các can thiệp về mặt chế độ ăn uống và hoạt động vật lý
là có mức độ nơi những người có nguy cơ cao trở nên bị bệnh đái đường.
Nhà chuyên gia về đái đường của Phần Lan đánh giá rằng các thay đổi về
lối sống phải được thực hiện sớm hơn nhiều. Để đạt được điều đó, theo
ông, cần phải nhắm những người có nguy cơ cao bị bệnh đái đường, nhưng
cũng nhắm vào toàn bộ dân chúng . Nguồn : LE FIGARO
( 23/5/2008 )
8/ THIẾU
VITAMINE D NƠI CÁC LÃO NIÊN BỊ BỆNH TRẦM CẢM
Witte Hoogendijk và các cộng sự viên (Amsterdam) đã nghiên
cứu các nồng độ vitamine D và hormone cận giáp (hormone parathyroidienne)
trên một nhóm những người già bị bệnh trầm cảm (dépression). Thật vậy,
những công trình trước đây đã đặt mối liên hệ giữa rối loạn khí chất này
với các rối loạn của các nồng độ 25(OH)D (25-hydroxyvitamine D) và hormone
cận giáp (HPT: hormone parathyroidienne). Các nhà nghiên cứu này đã đánh
giá mức độ trầm cảm của 1.282 lão niên tuổi từ 65 đến 95 tuổi, cũng như
các nồng độ 25(OH)D và HPT của họ. Các nhà nghiên cứu cũng đã có tính
đến các yếu tố như tuổi tác, giới tính, nghiện thuốc lá, BMI (body mass
index), các bệnh mãn tính.
Các kết quả cho thấy rằng, so sánh với các người kiểm chứng, các nồng
độ 25(OH)D 14% thấp hơn nơi 169 người bị chứng trầm cảm thể nhẹ và 14%
thấp hơn nơi 26 người bị chứng trầm cảm thể nặng. Các nồng độ HPT lần
lượt là 5% và 33% cao hơn. Mức độ nghiêm trọng của chứng trầm cảm được
liên kết một cách đáng kể với sự giảm các nồng độ huyết thanh của vitamine
D và một sự gia tăng của nồng độ HPT. Nguồn: LE JOURNAL
DU MEDECIN (23/5/2008 )
9/ CHO BÚ SỮA MẸ CHỒNG BỆNH
HEN PHẾ QUẢN.
Các nhà nghiên cứu của đơn vị Inserm 924 của Sophia-Antipolis
đã phát hiện lần đầu tiên các cơ chế giải thích tác dụng bảo vệ của sự
cho bú sữa mẹ chống lại bệnh hen phế quản trẻ em. Một công trình nghiên
cứu trên chuột đã cho phép họ xác lập rằng việc một dị ứng nguyên hô hấp
(allergène respiratoire) đi qua trong sữa mẹ làm giảm hơn 60% đáp ứng
dị ứng. Các con chuột cho con bú đã được cho tiếp xúc với các dị ứng nguyên,
được làm phân tán trong không khí bằng khí dung. Sau tiếp xúc, việc các
chuột mẹ cho các chuột con bú vẫn diễn ra một cách bình thường. “ Chúng
tôi đã nhận thấy dị ứng nguyên được hít vào xuất hiện vào trong sữa mẹ
3 đến 4 giờ sau khi được cho tiếp xúc. Ngoài ra chúng tôi đã nhận thấy
rằng, một khi trở nên trưởng thành, các chú chuột con đã được cho bú sữa
mẹ, đề kháng với sự kích thích gây hen phế quản ”, Valérie Verhasselt,
một trong những người phụ trách công trình nghiên cứu đã giải thích như
vậy. Như thế phản ứng dị ứng đã giảm 60 đến 80% so với các chú chuột được
cho bú bởi các chuột mẹ không được cho tiếp xúc với dị ứng nguyên này.
“ Công trình nghiên cứu này có thể cho phép xác định những chiến lược
phòng ngừa mới, căn cứ trên những biến đổi về cách cho bú và chất lượng
của các sữa nhân tạo ” , Valérie Verhasselt đã nói thêm như vậy. Nguồn
: READER’ S DIGEST ( 6/2008 )
10/ BẢNG TỔNG KẾT VỀ CÁC LỢI ÍCH CỦA VIỆC
NGƯNG THUỐC LÁ VỪA ĐƯỢC CÔNG BỐ LẦN ĐẦU TIÊN Ở PHÁP
Cai thuốc lá làm giảm nguy cơ bị một bệnh nặng. Thông báo
dịch tễ học hàng tuần nay, trong một số đặc biệt dành cho ngày thế giới
không thuốc lá, đã đưa ra một bảng tổng kết về các lợi ích do việc cai
thuốc lá. Ngừng hút thuốc lá làm giảm không chỉ nguy cơ chết vì một bệnh
ung thư ( thuốc lá có liên quan trong 13 khối u ác tính khác nhau) mà
còn nguy cơ chết vì nhồi máu cơ tim, vì tai biến mạch máu não, vì phình
động mạch chủ bụng (anévrisme de l’aorte abdominale), vì viêm phế quản
mãn tính tắc nghẽn (bronchite chronique obstructive) và vì viêm động mạch
của các chi dưới.
Từ 5 đến 9 năm sau khi đã ngừng thuốc lá, những người trước đây đã hút
thuốc sẽ được giảm các nguy cơ đối với ung thư phổi, nhất là nếu họ dừng
hút thuốc trước năm 50 tuổi. Trái lại, khả năng là nạn nhân của một ung
thư thanh quản vẫn cao hơn nơi những người từng hút thuốc lá, ngay cả
sau khi đã ngừng hút một thời gian dài. Ngược lại, những người đã ngừng
hút thuốc từ ít nhất 20 năm, không bị ung thư xoang miệng hoặc hầu nhiều
hơn những người không hút thuốc.
BÌNH ĐẲNG VỚI NHỮNG NGƯỜI KHÔNG HÚT THUỐC SAU 15-20
NĂM.
Chứng nghiện thuốc lá là nguồn gốc của 22% tỷ lệ tử vong
do các bệnh tim mạch.Tuy nhiên, việc giảm các nguy cơ bị các tai biến
về tim đã rõ rệt 2 đến 4 năm sau khi cai thuốc lá. Và sau 15 đến 20 năm,
những người trước đây hút thuốc lấy lại sự bình đẳng với những người không
hút thuốc. Hai đến năm năm kiêng thuốc lá cũng cho phép nhận thấy sự cải
thiện rõ rệt đối với các tai biến mạch máu não.
Sau hết, các triệu chứng viêm phổi mãn tính (ho mãn tính
với khạc đờm) mờ nhạt dần đi trong một đến hai tháng sau khi cai thuốc.
Nguồn: LE FIGARO (27/5/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(31/5/2008)
Copyright,
2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn
Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |