 |
Thời
Sự Y Học số 77
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CÁC BỆNH TIM MẠCH : MỘT
VẤN ĐỀ KHÔNG PHẢI CHỈ QUAN HỆ ĐẾN ĐÀN ÔNG
Mặc dầu từ nhiều năm nay người ta biết rằng không phải là như vậy, nhưng
bệnh tim mạch vẫn tiếp tục là vấn đề đi đôi với nam giới trong đầu óc
của nhiều người. Một ý nghĩ cần phải khẩn trương uốn nắn về mặt y tế công
cộng.
Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ nhắc lại rằng các bệnh động mạch vành là nguyên nhân
đầu tiên gây tử vong ở Hoa kỳ nơi các phụ nữ cũng như nơi đàn ông. Thực
vậy mỗi năm ở Hoa Kỳ hơn một nửa triệu phụ nữ chết vì các bệnh tim mạch,
hai lần nhiều hơn số tử vong do toàn bộ các ung thư. Ung thư vú, mặc dầu
thường làm lo lắng các phụ nữ hơn, vì những lý do tâm lý dễ hiểu, tuy
vậy giết chết 12 lần ít hơn so với các bệnh tim mạch.
Khoảng 5 phụ nữ thì có một bị một bệnh lý tim mạch nào đó. Và nếu các
ông có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim cao hơn và dễ là nạn nhân của một nhồi
máu cơ tim ở một lứa tuổi ít cao, các phụ nữ tuy vậy vẫn không hề được
tránh khỏi về phương diện này. Hàng năm có 9.000 phụ nữ dưới 45 tuổi và
250.000 phụ nữ trên 65 tuổi là nạn nhân của một nhồi máu cơ tim.
Thật ra các phụ nữ trung bình bị nhồi máu cơ tim 6 hoặc 7 năm chậm hơn
so với các ông, nhưng sau 65 tuổi sự khác biệt này có khuynh hướng mất
đi.
Trên quy mô hành tinh 8,5 triệu phụ nữ chết mỗi năm vì hậu quả của một
bệnh tim mạch, trong khi đó 3 triệu người chết vì tai biến mạch máu não.
Tai biến mạch máu não là nguyên nhân đầu tiên gây tàn tật trong hầu hết
các nước kỹ nghệ hóa.
Vào năm 1996, các bệnh tim mạch nơi các phụ nữ đã mang lại 2.569.333 ngày
nhập viện (đối với hơn 33 triệu dân). Trong các nước đang phát triển,
một nửa các phụ nữ trên 50 tuổi chết vì bệnh tim hoặc các tai biến mạch
máu não.
TIỀN LƯỢNG U TỐI HƠN
Ngoài ra tiên lượng bệnh u tối hơn đối với phái yếu trong một số các trường
hợp : 38% các phụ nữ, so với 25% các ông, chết trong năm sau khi xảy ra
một nhồi máu cơ tim. Sự bất lợi của các phụ nữ lại càng rõ nét hơn về
việc xảy ra tái phát trong vòng sáu năm sau một lần nhồi máu cơ tim đầu
tiên ( 38% so với 18%).
Đối với các tai biến mạch máu não, mối bất lợi cũng ở phía các phụ nữ
: khoảng 60% các tử vong hàng năm do tai biến mạch máu não xảy ra nơi
các phụ nữ.
Các phụ nữ nhạy cảm với cùng những yếu tố nguy cơ của đàn ông (cao huyết
áp, tăng cholestérol huyết, đái đường, nghiện thuốc lá, chế độ ăn uống
không thích hợp, gia tăng thể trọng, nhàn rỗi không hoạt động và các tiền
sử gia đình), nhưng đối với phụ nữ cần phải thêm vào chứng mãn kinh và
sự sử dụng thuốc ngừa thai bằng đường miệng nơi các phụ nữ hút thuốc lá
hay cao huyết áp. Ngoài ra, dường như sự gia tăng triglycérides tự bản
thân tạo nên một yếu tố nguy cơ ở phụ nữ rõ ràng hơn so với đàn ông.
Cũng cần ghi nhận rằng các phụ nữ thường có bệnh cảnh lâm sàng của bệnh
nhồi máu cơ tim ít điển hình hơn so với đàn ông (đau lưng, đau cổ và những
định vị khác, hơn là các cơn đau sau xương ức cổ điển). Việc cần thiết
làm nhạy cảm dư luận về vấn đề các bệnh tim mạch nơi các phụ nữ đã thúc
đẩy Hiệp hội Tim Hoa Kỳ phát động phong trào “Go Red For Women” (http://www.goredforwomen.org).
Hiệp hội Tim Hoa Kỳ đặc biệt đã hiệu chính một công cụ đánh giá tương
tác on line, “nhằm giúp đỡ các phụ nữ chăm sóc tình trạng sức khỏe tim
của họ”. Hoạt động của phong trào lên đến cao điểm với sự thành lập một
ngày quốc gia được gọi là “National Wear Red Day”. Các ông và các bà vào
ngày đó có thể ủng hộ một cách tượng trưng hoạt động của phong trào bằng
cách mang các bộ đồ quần áo màu đỏ.
Có nhiều hoạt động khác nhằm làm nhạy cảm các phụ nữ về mối nguy cơ mà
họ thường không hay biết. Trong số nhiều thí dụ khác, cần ghi nhận hoạt
động của National Coalition for Women with Heart Disease (http://www.womenheart.org/).
Nguồn: LA SEMAINE MEDICALE (17/4/2008)
2/ BỆNH NHỒI
MÁU CƠ TIM : CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ ÍT TỐT HƠN Ở CÁC PHỤ NỮ
Nhồi máu cơ tim (infarctus du myocarde) ở phụ nữ được thể hiện bởi các
triệu chứng khác với đàn ông. Ở phụ nữ, căn bệnh này được chẩn đoán và
điều trị ít tốt hơn. Bệnh nhồi máu cơ tim từ lâu đã được xem là một bệnh
của đàn ông, một tai họa của nam giới. Còn các phụ nữ thì được cho là
được bảo vệ nhờ các hormone nữ. Thực tế mà các thầy thuốc đang nghiên
cứu lại rõ ràng khác hẳn. Một công trình nghiên cứu trên 25.000 người
đã bị nhồi máu cơ tim trong 14 nước, được công bố tuần này trên site Internet
của tạp chí Heart, tiết lộ rằng các triệu chứng của nhồi máu cơ tim ở
phụ nữ và đàn ông không tương tự nhau.
Vì các thầy thuốc đã học chẩn đoán bệnh nhồi máu cơ tim qua các cơn đau
điển hình xảy ra ở nam giới, do đó họ dễ không nhận biết hơn triệu chứng
đau của chứng bệnh tim này khi xảy ra ở phụ nữ. Trước tuổi 65, bệnh nhồi
máu cơ tim xảy ra ở đàn ông 4 lần nhiều hơn so với phụ nữ. Sau tuổi 65,
tình hình đảo ngược lại cho đến khi số trường hợp trở nên quan trọng hơn
nơi các phụ nữ, điều này là do tuổi thọ gia tăng ở các phụ nữ. Một công
trình nghiên cứu khác cùng chủ đề, được thực hiện ở Pháp với 75.000 trường
hợp nhồi máu cơ tim, đã phát hiện năm qua rằng ở phụ nữ việc điều trị
ít tích cực hơn và tỷ lệ tử vong cao hơn.
Nhồi máu cơ tim điển hình được đặc trưng bởi một cơn đau ngực sau xương
ức khá đột ngột, thường xảy ra lúc gắng sức, tính chất như bị đè ép bởi
một mỏ cặp (étau), lan tỏa về phía tay trái và hàm dưới, kèm theo cảm
giác khó chịu, toát mồ hôi, lo âu. Các triệu chứng này có thể dữ dội ít
hoặc nhiều hoặc trái lại không điển hình. Nhưng các triệu chứng này luôn
luôn thể hiện huyết khối (thrombose) của một động mạch vành phân bố mạch
cơ tim. Mục đích của điều trị cấp cứu là lấy đi vật chướng ngại nơi động
mạch bị bít tắc, hoặc bằng liệu pháp tan huyết khối (thrombolyse) (tiêm
cấp cứu bằng đường tĩnh mạch một loại thuốc có khả năng làm tan cục máu
đông) hoặc bằng cách làm giãn cấp cứu động mạch với sự thiết đặt một stent
(một thiết bị y khoa nhỏ hình lò xo) để giữ cho lòng của động mạch được
mở ra. Điều trị nhằm giới hạn sự thoái hóa của một phần cơ tim và các
di chứng.
Công trình nghiên cứu được công bố trên site của tạp chí Heart, đã khảo
sát trên hơn 25.000 trường hợp nhồi máu cơ tim (19.117 đàn ông và 7.638
phụ nữ) lấy từ 14 nước từ năm 1999 đến 2006. Đối với mỗi trường hợp, người
ta kiểm kê các triệu chứng, các kết quả của các thăm khám phụ, đặc biệt
là tất cả bệnh nhân đều được chụp mạch (angiographie) cho phép thấy được
các động mạch bị bít tắc và các điều trị đã được thực hiện.
MỘT TỶ LỆ TÁI PHÁT CAO HƠN
Công trình nghiên cứu so sánh này đã phát hiện nhiều thông tin quan trọng.
Một mặt, các triệu chứng xảy ra nơi các phụ nữ khi họ đến bệnh viện là
khác với các triệu chứng của đàn ông ; ở phụ nữ, cơn đau ngực hoàn toàn
điển hình thường ít thấy hơn, nhưng ngược lại các triệu chứng như nôn
và đau trong hàm dưới thường xảy ra hơn. Ngoài ra, về mặt điều trị, ở
nữ giới, ngay với sự bít tắc động mạch vành ở mức độ như nhau, lại thường
ít được làm angioplastie hơn lúc đến bệnh viện. Hơn nữa, các phụ nữ so
với nam giới thường ít được kê toa hơn các thuốc bêtabloquant, các statines
hoặc những inhibiteurs de l’enzyme de conversion, các thuốc nhằm tránh
tái phát. Sau hết, tỷ lệ tử vong, tái phát hay tai biến mạch máu não sáu
tháng sau nhồi máu cơ tim, hơi cao hơn đối với các phụ nữ.
Công trình nghiên cứu quốc tế này xác nhận một phân tích rộng rãi được
thực hiện ở Pháp năm vừa qua và được công bố vào tháng hai 2007 trong
tạp chí Circulation. Công trình này nhằm vào 70.000 nhập viện vì nhồi
máu cơ tim ở Pháp. Sự so sánh giữa đàn ông và phụ nữ ở Pháp đã cho thấy
rằng tỷ lệ tử vong là cao hơn đối với phụ nữ và tỷ lệ phụ nữ được làm
angioplastie là 10% thấp hơn so với nam giới. Và điều này, ngay cả ở cùng
lứa tuổi như nhau. “Bệnh khác nhau nơi phụ nữ và đàn ông, với các cơn
đau ít điển hình hơn, thường liên kết với khó thở, G.S Gabriel Steg, đồng
tác giả của công trình nghiên cứu (bệnh viện Bichat, Paris), đã giải thích
như vậy. Tất cả các công trình này chứng tỏ rằng ở cùng lứa tuổi, các
phụ nữ kém được điều trị hơn khi họ bị một nhồi máu cơ tim và rằng từ
nay chúng ta phải cảnh giác hơn”. Nguồn : LE FIGARO
(10/5/2008)
3/ MỘT
VÀI ĐIỀU TRỊ HORMONE THAY THẾ LÀM TĂNG NGUY CƠ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Các điều trị hormone thay thế (THS : traitements hormonaux substitutifs)
để chống lại các triệu chứng khó chịu của thời kỳ mãn kinh có làm gia
tăng nguy cơ bị tai biến mạch máu não hay không ? Sự gia tăng này được
xác nhận bởi một công trình nghiên cứu được công bố hôm thứ hai 28 tháng
tư, trong tạp chí Archives of Internal Medicine và đề cập về những điều
trị khác nhau được sử dụng ở Pháp.
Ảnh hưởng của THS lên nguy cơ ung thư vú đã làm tuôn chảy rất nhiều mực.
Từ nhiều năm qua, một sự gia tăng của nguy cơ tim mạch (nhồi máu cơ tim
và tai biến mạch máu não) đã được làm sáng tỏ. Bác sĩ Francine Grodstein
và các đồng nghiệp của ông thuộc Trường y tế công cộng của Harvard ( Boston)
đã phân tích các dữ kiện theo dõi được thu lượm từ năm 1976 đến 2004 nơi
hơn 120.000 nữ y tá Hoa Kỳ (“Nurses Health Study”) Các phụ nữ này tuổi
từ 30 đến 55 khi công trình theo dõi bắt đầu.
Các tác giả đã nhận thấy một gia tăng nguy cơ 39% với điều trị bởi các
oestrogène duy nhất và 27% khi các oestrogènes được liên kết với progestérone.
Đối với các phụ nữ tuổi từ 50 đến 54 tuổi, sự gia tăng nguy cơ được thể
hiện bởi 2 trường hợp bổ sung tai biến mạch máu não trên 10.000 phụ nữ
theo điều trị hormone thay thế trong một năm. Nhóm nghiên cứu của Hoa
Kỳ xác nhận rằng, ở những bệnh nhân trẻ tuổi nhất, nguy cơ tai biến mạch
máu não có thể quy cho THS là ít quan trọng và rằng có thể giảm thiểu
nguy cơ này bằng những điều trị với liều lượng ít hơn và thời gian điều
trị ngắn hơn. Thật vậy các tác giả đã nhận thấy “ một khuynh hướng rõ
rệt có nguy cơ gia tăng bị tai biến mạch máu não với các liều lượng oestrogène
conjugué gia tăng ”.
Ở PHÁP ÍT NGUY CƠ HƠN
Đối với giáo sư Marie-Germaine Bousser (bệnh viện Lariboisière, Paris),
chuyên gia về các tai biến mạch máu não, công trình nghiên cứu này “xác
nhận những dữ kiện trước đây nhận thấy một sự gia tăng nhẹ nguy cơ. Khi
cùng hiện diện, các yếu tố nguy cơ như tuổi tác và sự sử dụng oestrogène
tác động tăng cường nhau. Tuy nhiên, cần phải uyển chuyển. Nguy cơ gia
tăng tai biến mạch máu não không phải là một chống chỉ định tuyệt đối
đối với THS”.
Các kết quả của các công trình nghiên cứu Anh Mỹ không thể suy diễn cho
tình hình ở Pháp. Các điều trị được sử dụng ở Pháp khác với Anh Mỹ không
những về dược phẩm được sử dụng mà còn cả về liều lượng của chúng và có
vẻ ít có nguy cơ hơn. Nguồn :
LE MONDE (2/5/2008 )
4/ CHOCOLAT CHỐNG NGUY CƠ
TIỀN SẢN GIẬT
Các công trình nghiên cứu mới đây đã gợi ý rằng chocolat là khá thuận
lợi cho sức khỏe tim mạch. Triche và các cộng sự viên đã muốn biết có
một mối liên hệ giữa chocolat và nguy cơ tiền sản giật hay không. Họ đã
thực hiện một công trình nghiên cứu trên 2.291 phụ nữ có thai và đã sinh
con, giữa tháng 9 năm 1996 và tháng giêng năm 2000. Sự tiêu thụ chocolat
(tự báo cáo) đã được định mức đối với các tam cá nguyệt thứ nhất và thứ
ba của thời kỳ thai nghén, cũng như nồng độ théobromine (méthylxanthine
chính của chocolat) trong cuống rốn. Theo các kết quả, 3,7% trong số 1.681
phụ nữ đã bị tiền sản giật. Các nồng độ théobromine của máu cuống rốn
cũng như sự tiêu thụ chocolat tỷ lệ nghịch với nguy cơ tiền sản giật.
So với các phụ nữ tiêu thụ ít hơn 1 suất chocolat mỗi ngày, các phụ nữ
ăn hơn năm suất mỗi ngày có nguy cơ bị tiền sản giật được giảm xuống.
Dĩ nhiên các dữ kiện này cần được xác nhận bởi các công trình nghiên cứu
khác. Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN (13/5/2008)
5/ BỆNH
SỐT RÉT, NGƯỜI BẠN ĐỒNG MINH TỐT NHẤT CỦA BỆNH SIDA
Ở phụ nữ có thai, nhiễm trùng bởi ký sinh trùng sốt rét làm gia tăng nguy
cơ truyền virus bệnh sida vào phôi thai. Các nhà nghiên cứu Pháp và Cameroun
vừa chứng tỏ một trong các cơ chế của hiện tượng này. Elisabeth Menu là
nhà nghiên cứu nữ trong đơn vị điều hòa các bệnh nhiễm trùng bởi rétrovirus
ở Viện Pasteur Paris và phụ trách nghiên cứu ở Inserm.
Hỏi : Làm sao bà đã quan tâm đến mối liên hệ giữa bệnh
sốt rét và bệnh sida ?
Elisabeth Menu : Đó một quan sát khác thường được thực hiện ở Cameroun
trong lúc tiến hành một công trình nghiên cứu về phòng ngừa sự truyền
virus sida từ bà mẹ sang trẻ em vào lúc sinh. Chúng tôi đã chứng nhận
rằng số các phụ nữ truyền virus sida cho đứa con là quan trọng hơn vào
một vài mùa trong năm. Mặt khác, điểm cao của sự truyền này có cùng tính
chu kỳ với các đỉnh cao của lượng nước mưa được đo, với một chênh lệch
ba tháng. Như vậy, một cái gì đó, do mưa mang lại, đã làm gia tăng sự
truyền HIV từ người mẹ sang đứa con. Chúng tôi đã nghĩ đến bệnh sốt rét.
Mặt khác, nhiều công trình nghiên cứu đã xác lập rằng nhiễm trùng bởi
ký sinh trùng sốt rét làm gia tăng lượng HIV trong máu của những người
huyết thanh dương tính.
Hỏi : Hậu quả của mối tương tác giữa ký sinh trùng sốt
rét và virus sida ?
Elisabeth Menu : Chúng tôi đã chứng tỏ in vitro rằng ký sinh trùng sốt
rét có thể làm phát khởi một sự tăng sinh mạnh mẽ virus sida trong các
tế bào nhau (placenta).Thế mà sự việc có nhiều virus hơn trong nhau dẫn
đến nguy cơ gia tăng nhiễm trùng thai nhi bởi virus.
Hỏi : Bà đã làm thế nào để chứng tỏ điều đó ?
Elisabeth Menu : Chúng tôi đã làm nhiễm trùng in vitro các tế bào của
nhau (các lá nuôi, trophoblastes) với virus sida. Rồi chúng tôi đã đặt
các tế bào nhau bị nhiễm trùng này tiếp xúc với một protéine của ký sinh
trùng sốt rét. Protéine này có thể được biểu hiện ở bề mặt của những hồng
cầu bị nhiễm ký sinh trùng. Sau đó protéine này cho phép các hồng cầu
bám vào các lá nuôi của nhau. In vitro, chúng tôi đã chứng tỏ rằng protéine
của ký sinh trùng này, lúc liên kết với các lá nuôi bị nhiễm bởi virus
sida, làm gia tăng sự tăng sinh của HIV trong các tế bào này.
Hỏi : Bằng cơ chế nào ?
Elisabeth Menu : Chúng tôi nghĩ rằng việc gắn protéine này của ký sinh
trùng làm phát khởi sự sản xuất bởi các tế bào của nhau, một chất được
gọi là TNF-alpha.Thật vậy, chúng tôi đã tìm thấy nhiều chất này chung
quanh các tế bào của chúng tôi . Thế mà TNF-alpha được biết là làm gia
tăng sự tăng sinh của virus sida. Nguồn : LA RECHERCHE
(5/2008)
6/ CÀ
PHÊ KHÔNG ẢNH HƯỞNG LÊN TRÁI TIM BỊ BỆNH
Trong các nước công nghiệp hóa, các bệnh tim mạch là một trong những nguyên
nhân chính của tử vong. Các công trình nghiên cứu khác nhau đã được tiến
hành để tìm mối liên hệ giữa việc tiêu thụ cà phê và sự phát triển của
các bệnh tim mạch. Sự liên hệ của cà phê trong việc xuất hiện các bệnh
lý này đã không có thể được chứng minh, ngay cả bởi các công trình nghiên
cứu quy mô lớn. Ngoài ra, tiên lượng sau nhồi máu cơ tim đã không bị ảnh
hưởng bởi việc tiêu thụ cà phê.Về mặt lâu dài, các nghiên cứu viễn cảnh
cũng đã không chứng tỏ được sự liên hệ giữa caféine và các bệnh tim mạch.
Còn về vai trò bảo vệ của cà phê thì như thế nào? Năm 2006, một công trình
nghiên cứu của Women’s Health Study, được tiến hành trên hơn 41.000 phụ
nữ tiêu thụ cà phê, đã kết luận rằng nguy cơ tử vong nơi những người tiêu
thụ cà phê là thấp hơn so với những người không tiêu thụ. Hiệu quả có
lợi này có thể là do một tác dụng chống oxy hóa của một vài thành phần
trong cà phê, làm kềm hãm quá trình viêm và như thế làm giảm các nguy
cơ tim mạch. Một công trình nghiên cứu Thụy Điển được thực hiện trên 7.500
đàn ông đã tìm thấy lại những nguy cơ được biết rõ của suy tim : tuổi
tác, bệnh sử gia đình nhồi máu cơ tim, bệnh đái đường, các cơn đau ngực,
chứng nghiện thuốc lá, lạm dụng rượu, chỉ số khối lượng cơ thể (BMI :
body mass index) cao và cao huyết áp. Cà phê được nhận thấy liên kết đồng
thời với một nguy cơ thấp bị bệnh đái đường và một nguy cơ thấp tử vong
do nguyên nhân tim mạch nơi một người bị bệnh đái đường. Ngoài ra, một
công trình được thực hiện năm 2006 đã cho thấy rằng việc cho caféine nơi
những bệnh nhân bị suy tim làm gia tăng sự chịu đựng của họ đối với sự
gắng sức. Nguồn: LE MAGAZINE DES GLEMS ( 4/2008 )
7/ SỮA
CÓ TỐT CHO XƯƠNG KHÔNG ?
Nhiều tiếng nói đã cất lên bày tỏ sự nghi ngờ về tính hữu ích của các
sản phẩm sữa. Sai lầm : uống sữa giúp chống lại một cách hiệu quả bệnh
loãng xương (ostéoporose).
Đó là điều không thể chối cãi : sữa và các sản phẩm sữa giàu calcium.
Thế mà calcium là nhân tố khoáng chính của bộ xương. Từ đó chúng ta có
thể suy ra rằng calcium là tốt cho xương hay không ? Đó là điều mà chúng
ta thường quen nghe nói. Tuy vậy mối quan hệ giữa các sản phẩm sữa và
sức khỏe của xương không hẳn đã được nhất trí. Nhất là trường hợp đối
với vai trò của các sản phẩm sữa trong cuộc đấu tranh chống lại bệnh loãng
xương (ostéoporose). Chứng loãng mô xương này xảy ra một cách không tránh
khỏi khi tuổi tác gia tăng và được phát khởi chủ yếu bắt đầu từ tuổi mãn
kinh ở phụ nữ. Và bệnh loãng xương trở nên một chủ đề ngày càng đáng quan
tâm.
Hiện nay nhiều cơ quan chính thức có nhiệm vụ đưa ra những lời khuyến
nghị về y tế cộng đồng công nhận tầm quan trọng của calcium và của vitamine
D (vitamine cần thiết để sử dụng calcium) trong sức khỏe của xương.Và
những cơ quan này ủng hộ việc cung cấp đầy đủ các sản phẩm sữa. Nhưng
càng ngày càng có nhiều tiếng nói cất lên chống lại vị trí đặc quyền dành
cho sữa. Đến độ có vài người cho rằng sữa không được là một thành phần
của dinh dưỡng của con người. Và nói thêm rằng chỉ có một thiếu số dân
chúng của hành tinh là đưa các sản phẩm sữa vào trong chế độ dinh dưỡng,
như vậy gợi ý rằng chúng ta có thể không cần đến nó.
Có những lý lẽ nổi bật hơn, như một vài nhóm dân của Bắc Âu mặc dầu tiêu
thụ cao các sản phẩm sữa và do đó calcium, vẫn bị nhiều bệnh loãng xương
hơn vài nhóm dân của miền Nam, nơi đây sự cung cấp calcium thấp hơn. Như
vậy có phải tiếp tục khuyến khích sự tiêu thụ sữa, thí dụ nơi phụ nữ,
bắt đầu từ tuổi mãn kinh, với hy vọng làm chậm lại sự mất xương? Vâng,
nếu tin theo các kết quả của một công trình nghiên cứu mới được thực hiện
bởi Bệnh viện đại học Genèves.
SỰ MẤT XƯƠNG ĐƯỢC LÀM CHẬM LẠI
Trong thí nghiệm được tiến hành, 36 phụ nữ thời kỳ mãn kinh, trung bình
59 tuổi, đã theo một chế độ ăn uống cung cấp một lượng calcium cố định
( 600mg/ngày). Người ta sẽ thêm vào lượng cố định này hoặc 600 mg calcium
khác (từ 500 ml sữa lấy bớt mỡ), hoặc không thêm một lượng calcium bổ
sung nào. Mỗi người tham dự đã theo hai chế độ dinh dưỡng này (600 mg
và 1.200mg). Trước và sau mỗi thời kỳ của hai chế độ dinh dưỡng, kéo dài
6 tuần, những phân tích máu và nước tiểu đã được thực hiện để theo dõi
tiến triển của chuyển hóa xương. Các kết quả được công bố mới đây trong
British Journal of Nutrition, cho thấy một cách rõ ràng rằng sau thời
kỳ của chế độ dinh dưỡng với 500 ml sữa bổ sung, sự mất xương được làm
chậm lại một cách đáng kể. Đối với các tác giả này, sữa tạo nên một phương
thức dinh dưỡng có giá trị để chống lại sự biến đổi xương xảy ra nơi các
phụ nữ mãn kinh. Nguồn: LE SOIR (10/5/2008)
8/ KHẢ NĂNG
ĐỔI MỚI CỦA CÁC TẾ BÀO MỠ
Mỗi năm cơ thể của chúng ta chế tạo ra cùng số lượng tế bào mỡ (cellules
adipeuses) mà nó đã bị mất đi. Đó là lý đó tại sao, sau khi đã bị gầy
ốm thì khó mà duy trì trở lại trọng lượng của mình.
Qua giai đoạn trẻ thơ, mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời mình, vẫn duy trì
cùng số lượng các tế bào biệt hóa trong việc tích trữ mỡ ( hay là các
tế bào mỡ, adipocytes). Các tế bào này có khả năng tự đổi mới theo nhịp
10% mỗi năm, một công trình nghiên cứu được công bố hôm qua trong tạp
chí Nature tiết lộ như vậy. Nhóm các nhà nghiên cứu được lãnh đạo bởi
Kirsty Spalding, thuộc Viện Karolinska ở Stockholm, đã chứng nhận như
vậy trong lúc nghiên cứu các tế bào mỡ phát xuất từ thủ thuật hút mỡ (liposuccion)
hoặc phẫu thuật tái tạo thành bụng (reconstruction abdominale).
“ Tổng số các tế bào mỡ trong cơ thể là ổn định, các tế bào mới được sản
xuất để cân bằng với sự biến mất của cùng số lượng các tế bào chết ” ,
Peter Arner, đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh như vậy.
Do đó, việc giảm cân quan trọng ở tuổi trưởng thành chỉ làm giảm khối
lượng các tế bào mỡ hiện có.
“ Các tế bào mỡ mới được sinh ra trong và sau khi bị sụt cân cần được
làm phong phú bởi lipide, Peter Amer ghi nhận như vậy. Điều này giải thích,
ít nhất một phần, tại sao rất khó mà duy trì trọng lượng mà chúng ta đã
đạt được sau khi đã bị ốm ”
HAI LẦN NHANH HƠN
Các nhà nghiên cứu cũng đã chứng nhận rằng các tế bào mỡ bắt đầu phát
triển sớm hơn nơi những người béo phì (vào khoảng 2 tuổi) so với những
người có một trọng lượng bình thường (từ 5 đến 6 tuổi) và rằng sự gia
tăng hai lần nhanh hơn đối với những người béo phì nhưng dừng lại cũng
sớm hơn (16 tuổi rưỡi so với 18 tuổi nơi những người khác).
Công trình nghiên cứu này xác nhận các thống kê cho thấy rằng phần lớn
các người trưởng thành béo phì vẫn là như thế từ lúc ấu thơ : chỉ 10%
các trẻ có một trọng lượng bình thường đã trở nên béo phì, và hơn 3/4
các trẻ béo phì đã vẫn là như thế.
Các dữ kiện này (một số tế bào mỡ được xác định ngay từ tuổi ấu thơ và
một sự đổi mới đều đặn) theo các nhà nghiên cứu, hẳn phải tạo khả năng
cho việc xác định những mục tiêu mới để điều trị chứng béo phì : tác động
ngay từ tuổi ấu thơ, để giới hạn số các tế bào mỡ, hay trong tuổi trưởng
thành, để kềm hãm việc thay thế các tế bào chết bằng những tế bào mới.
Nguồn : LE FIGARO ( 5/5/2008 )
9/ CHO BÚ SỬA
MẸ LÀM TRẺ THÔNG MINH HƠN
Việc cho con bú sau khi sinh sẽ làm cho các đứa trẻ trở nên thông minh
hơn. Đó là điều được tiết lộ từ một công trình nghiên cứu được công bố
trong Archives of General Psychiatry. Các nhà nghiên cứu của Đại học McGill
của Montréal đã theo dõi 14.000 trẻ em trong hơn 6 năm để thử xác định
xem việc cho bú có một tác dụng lên khả năng nhận thức (capacité cognitive)
của chúng hay không. Các kết quả gợi ý rằng việc cho bú sữa mẹ lâu dài
và duy nhất làm gia tăng thương số thông minh (quotient intellectuel)
và hiệu năng học vấn tốt hơn. Công trình nghiên cứu của BS Michael Kramer
là công trình nghiên cứu rộng rải nhất về chủ đề này. Nguồn : LE
SOIR ( 9/5/2008 )
10/ NGHIỆN THUỐC
LÁ : 5 NĂM SAU KHI NGỪNG HÚT, CỨ MỖI NĂM NGƯỜI CÓ MỘT NGƯỜI ĐƯỢC CỨU SỐNG
Các phụ nữ ngừng hút thuốc làm giảm một cách quan trọng nguy cơ tử vong
do các bệnh tim mạch trong 5 năm, theo một công trình nghiên cứu rộng
rãi được công bố trong Jama.
Nguy cơ tử vong do ung thư liên kết với thuốc lá giảm khoảng 20%. Nguy
cơ của tất cả các nguyên nhân tử vong giảm 13% năm năm sau khi các phụ
nữ ngừng hút thuốc. Hay hơn nữa : 20 năm sau khi đã từ bỏ thuốc lá, nguy
cơ tử vong liên kết với thuốc lá tương tự với nguy cơ của những phụ nữ
đã không bao giờ hút thuốc, ngoại trừ trường hợp ung thư phổi, “ đối với
ung thư này sự giảm nguy cơ cần nhiều thời gian hơn », theo bác sĩ Stacey
Kenfield, y tế cộng đồng của Đại học Havard, tác giả chính của các công
trình này.
Các nhà nghiên cứu đã phân tích các dữ kiện y khoa phát xuất từ một công
trình nghiên cứu trên 104.519 người tham dự. Thời kỳ theo dõi trải dài
từ 1980 đến 2004. Đối với các tử vong sau khi bị ung thư phổi, nguy cơ
đã lùi lại 21% năm năm sau khi các phụ nữ của công trình nghiên cứu đã
ngừng hút thuốc, so sánh với các phụ nữ vẫn hút thuốc. Nguy cơ này đã
giảm 87% giữa 20 đến 30 năm sau khi ngừng hút thuốc để rồi 30 năm sau
khi ngừng hút nguy cơ giống hệt với các phụ nữ đã không bao giờ đụng đến
thuốc lá.
Theo những con số của OMS, 5 triệu người chết non mỗi năm được quy cho
là do thuốc lá. Theo dự đoán của cơ quan này, từ nay đến 2030 sẽ có 10
triệu tử vong hàng năm được quy cho thuốc lá. Công trình nghiên cứu này
cũng chứng tỏ rằng khoảng 64 % các tử vong trong số những người hút thuốc
và 28% nơi những người đã từng hút thuốc, được quy cho nguyên nhân duy
nhất là thuốc lá. Các tác giả cũng nêu lên rằng các dữ kiện của công trình
nghiên cứu khiến nghĩ rằng thuốc lá chịu trách nhiệm một sự gia tăng nguy
cơ tử vong do ung thư đại tràng nhưng không phải là ung thư buồng trứng.
Nguồn : LE SOIR (8/5/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(17/5/2008)
Copyright,
2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn
Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |