 |
Thời
Sự Y Học Số 25
BS Nguyễn Văn Thịnh
1/ GHÉP ĐĨA LIÊN ĐỐT SỐNG
ĐIỀU TRỊ CHỐNG THOÁT VỊ
Các thầy thuốc Trung Quốc đã thành công ghép các đĩa liên đốt sống (disques
interverté -braux) trên các bệnh nhân bị bệnh thoát vị đĩa đốt sống (hernie
intervertébrale). Đây là một tiến bộ có tính chất quyết định.
Đó là một kỳ công đầu tiên trên thế giới. Ghép một đĩa liên đốt sống lấy
trên một người cho là điều từ trước đến nay chưa bao giờ thành công. Nhóm
của Dike Ruan thuộc Bệnh viện toàn khoa hải quân Bắc Kinh đã ghép thành
công các đĩa đốt sống trên 5 bệnh nhân từ 41 đến 56 tuổi bị thoát vị đĩa
đốt sống cổ. Những bệnh nhân này đã không cần phải điều trị chống loại
bỏ (traitement anti-rejet) bởi vì không có tiếp vận máu (tức là không
có các tế bào miễn dịch) đến trung tâm các đĩa liên đốt sống. Mãi cho
đến ngày nay, phẫu thuật ngoại khoa là nhằm lấy đi các đĩa liên đốt sống
bị hư hỏng và hợp nhất hai đốt sống kề cận lại với nhau. Thế mà sự « vá
viu » này thường làm gia tốc sự thoái hóa các đĩa đốt sống kế cận còn
các đĩa giả nhân tạo thì luôn luôn không có hiệu quả. Do đó nảy sinh ra
ý nghĩ ghép đĩa đốt sống lấy ở các người cho bị chết.
Từ tháng 3 năm 2000 đến tháng giêng năm 2001, các thầy thuốc Trung Quốc
đã thực hiện 5 phẫu thuật ghép đĩa đốt sống đầu tiên, rồi đã chờ đợi trước
khi công bố các kết quả để đảm bảo sự thành công hoàn toàn của phẫu thuật.
Không có bệnh nhân nào bị phản ứng loại bỏ (réaction de rejet) và tất
cả thấy rằng chứng đau dữ dội ở cổ biến mất.
(SCIENCE ET VIE 5/2007)
2/ NGHIỀN TỎI GIẢI PHÓNG HIỆU LỰC ĐIỀU TRỊ
Để đảm bảo tỏi được nấu chín có cùng tính chất có lợi như tỏi sống, cần
phải ép tỏi trước khi đưa lên chảo rán. Đó là điều mà những công trình
của Claudio Galmarini thuộc phân khoa Nông Học của Cuyo(Argentine) tiết
lộ. Theo ông ta, tác dụng cơ học của sự nghiền ép làm phóng thich một
enzyme gây nên sự tạo thành thiosulfinates, những chất chống đông có lợi
cho tim. Tỏi vẫn còn bảo tồn được hiệu quả có lợi trong 10 phút đầu sau
khi được nấu chín. Sau đó, nhiệt làm mất tác dụng dần dần các thiosulfinates.
(SCIENCES ET VIE 5/2007)
3/ TIGETTE XÉT NGHIỆM NHANH TÌM SHIGELLOSE
Trong các nước đang phát triển nằm trong vùng nhiệt đới, shigellose, một
trong những dạng lâm sàng đáng sợ nhất của viêm ruột non do vi khuẩn (entérite
bactérienne), là một tai ương quan trọng. Trên bình diện thế giới, bệnh
gây nên 1 triệu tử vong mỗi năm.
Điều quan trọng là phải biết loại vi khuẩn nào mà ta gặp phải để chọn
điều trị thích hợp nhất. Trong các nước nghèo, một xét nghiệm vi khuẩn
học cổ điển tiếc thay khó thực hiện được trong thực tế. Từ đó nảy sinh
lợi ích có được những xét nghiệm chẩn đoán dễ dàng thực hiện và đáng tin
cậy. Các nhà nghiên cứu của Viện Pasteur đã hiệu chính một kỹ thuật dựa
trên immunochromatographie cho phép nhận dạng dạng viêm ruột non thông
thường nhất gây nên bởi Shigella flexneri của nhóm 2a. Kỹ thuật này được
thực hiện với một tigette được đưa vào trong một ống nghiệm chứa bệnh
phẩm cần phân tích.
Một kỹ thuật tương tự đã cho phép chẩn đoán nhanh chóng bệnh dịch hạch,
bệnh dịch tả và viêm màng não do vi khuẩn. Với xét nghiệm này chẩn đoán
được thực hiện trong vòng 15 phút. Để hợp thức hóa xét nghiệm chẩn đoán
này, các nhà nghiên cứu của Viện Pasteur Paris và Hồ Chí Minh đã cùng
nhau hợp lực. Một xét nghiệm tương tự đã được phát triển để chẩn đoán
Shigella dysenteriae nhưng còn cần phải được xác nhận kiểm chứng trên
hiện trường.
Các nhà nghiên cứu tiếp tục công trình để có thể chỉ cần một tigette duy
nhất là có khả năng chẩn đoán các vi khuẩn thường gặp nhất trong vùng
nhiệt đới.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 27/4/2007)
4/ UNG THƯ VÚ VÀ PROGESTATIFS.
Các phụ nữ đã sử dụng trong hơn 4 năm rưỡi một progestatif duy nhất (không
được kết hợp với oestrogènes), bằng đường miệng, trong điều trị thay thế
bằng hormone (traitement hormonal substitutif) và trước thời kỳ mãn kinh
sẽ có nguy cơ bị ung thư vú gia tăng 1,44 lần. Một công trinh nghiên cứu
được thực hiện bởi Françoise Clavel-Chapelon và được công bố trong British
Journal of Cancer đã xác nhận như thế. Mặt khác, nguy cơ giảm đi khi ngừng
thuốc, dầu cho thời gian điều trị là bao lâu chăng nữa. (SCIENCES
ET AVENIR 5/2007)
5/ TẠI SAO TUỔI THỌ GIA TĂNG Ở LOÀI NGƯỜI
TRONG CÁC NƯỚC CÔNG NGHIỆP HOÁ ?
Từ 150 năm trở lại đây, tuổi thọ (espérance de vie) lúc sinh tiếp tục
gia tăng.
Năm 1850, trung bình tuổi thọ là 40 tuổi, năm 1950 tăng lên 65 tuổi và
ngày nay biến thiên từ 75 đến 80 tuổi. Yếu tố đầu tiên là sự giảm tỷ lệ
tử vong của trẻ em. Nhưng từ 50 năm nay có một hiện tượng khác: đó là
sự gia tăng tuổi thọ ở tuổi trưởng thành.
Ở Nhật Bản, đối với mỗi phụ nữ 65 tuổi, xác suất sống vượt quá 80 tuổi
là 50 lần cao hơn so với xác suất vào năm 1950. Ở Nhật Bản, cách nay 25
năm có 1000 bách niên giai lão còn giờ đây số người này là 28.000.
Ở Pháp, cách nay 35 năm có 1000 người sống đến 100 tuổi và bây giờ là
15.000 người.
Phải chăng sự gia tăng tuổi thọ sẽ có một giới hạn nào đó? Chắc là như
thế nhưng hiện nay chúng ta không biết được sự giới hạn đó là gì. Sự gia
tăng tuổi thọ này phải chăng chủ yếu là do tiến bộ của y học, của vệ sinh,
của những biến đổi về mặt dinh dưỡng, môi trường sống, lối sống của chúng
ta ? Chắc là do một sự kết hợp của các yếu tố này. Nhưng điều lý thú,
đó là một kết quả bất ngờ: việc kéo dài liên tục tuổi thọ này đã không
được tích cực tìm kiếm bởi y học. (POUR LA SCIENCE 5/2007)
6/ YAOURT LÀM DỄ PHÁT SINH UNG THU TIỀN
LIỆT TUYỂN.
Ở Pháp, trong khi 3 sản phẩm sửa dùng hàng ngày được khuyên sử dụng, một
nhóm nhà nghiên cứu năm 2006 đã phân tích mối liên hệ giữa sự tiêu thụ
do ăn sửa và ung thư tuyến tiền liệt trên 2776 người đàn ông từ công trinh
nghiên cứu lâm sàng Suvimax về các chất bổ sung dinh dưỡng, được thực
hiện từ 1994 đến năm 2002. Các kết quả, được công bố trong British Journal
of Clinical Nutrition, gợi ý rằng những người đàn ông ăn nhiều đồ ăn sữa,
và chủ yếu là yaourt, trên 3 lần mỗi ngày, sẽ có nguy cơ bị ung thư tiền
liệt tuyến cao hơn những người khác. Mỗi lọ được ăn thêm mỗi ngày tuồng
như làm gia tăng nguy cơ 60%. Nguyên nhân dường như là do nồng độ tăng
cao chất calcium được ăn vào. Năm 2004, một tổng hợp 11 công trình nghiên
cứu dịch tể được tiến hành từ 1984 đến 2003 cũng đã tìm thấy mối liên
hệ này. Nhưng những công trình khác cũng phát hiện những kết quả mâu thuẫn.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2007)
7/ BỆNH LẬU VÀ UNG THƯ BÀNG QUANG
Bệnh lậu (gonococcie hay blennorragie), là một nhiễm trùng được lây truyền
bằng đường sinh dục, có tần số gây bệnh gia tăng từ vài năm nay, với số
giống gốc (souches) lậu cậu đề kháng với kháng sinh gia tăng. Theo một
công trình nghiên cứu trên 51.000 người đàn ông, nguy cơ bi ung thư bàng
quang sẽ 2 lần cao hơn trong trường hợp có tiền sử bệnh lậu.
Phản ứng viêm tại chỗ và sự tồn lưu của cặn nước tiểu sau khi tiểu tiện
giải thích sự liên kết giữa nhiễm trùng thường gây đau đớn này và nguy
cơ xuất hiện u bàng quang.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2007)
8/ MỘT HƯỚNG ĐIỀU TRỊ CHỐNG BỆNH SỐT XUẤT
HUYẾT
Lần đầu tiên các nhà nghiên cứu của Institut de recherche pour le dévelopement
đã phát hiện những cơ chế sinh học chịu trách nhiệm bệnh Dengue. Tuồng
như một bước quan trọng đã được thực hiện nhằm điều trị bệnh sốt xuất
huyết này.
Bắt đầu từ một công trình nghiên cứu trên chuột, một nhóm nhà nghiên cứu
quốc tế đã nhận diện được những enzymes là nguyên nhân gây nên thoát huyết
tương ra ngoài mạch máu, một đặc điểm của bệnh Dengue. Nhưng những phân
tử khả dĩ cản tác dụng của những enzymes này cũng đã được xác định.
Như thế đây là lần đầu tiên một hướng điều trị chống lại bệnh này được
mở ra. Hiện tại các nghiên cứu đang được tiến hành để xác định xem có
thể phát triển các điều trị chống lại các bệnh sốt xuất huyết khác như
Sốt Ebola,Fièvre de Marburg hay Fièvre à Hanta virus.
Hiện nay không có điều trị lẫn thuốc chủng chống lại bệnh Dengue. Bệnh
này được lấy truyền bởi muỗi loại Aedes.Phép phòng ngừa duy nhất là chống
lại vecteur truyền bệnh này bằng cách loại trừ muỗi.
9/ ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN SIÊU VI TRÙNG C BẰNG
3 THỨ THUỐC KẾT HỢP?
Việc xuất hiện các thuốc đặc hiệu hơn chống siêu vi trùng C đem lại hy
vọng chữa lành cho những bệnh nhân hiện nay đề kháng với điều trị.
Viêm gan C là một trong những nguyên nhân đầu tiên của ung thư và ghép
gan. Loại viêm gan này trở nên khó chữa lành hơn khi virus thuộc vào giống
gốc (souche) phổ biến nhất ở Tây Phương,được gọi là kiểu gène 1(génotype
1). Tuy nhiên một niềm hy vọng về điều trị được mở ra cho các bệnh nhân
với những kết quả của các thử nghiệm giai đoạn III (tính hiệu quả) của
một thuốc chống siêu vi trùng mới,được thực hiện trên 74 bệnh nhân.
"Với telaprevir, năm nay chúng tôi sẽ biết là chúng tôi có thể chữa
lành gần 80% bệnh nhân mang virus kiểu gène 1 thay vì 50-55% như hiện
nay hay không.” Jean-Pierre Zarski thuộc CHU Grenoble đã nói rõ như thế.
"Trong trường hợp này chúng tôi sẽ kết hợp telaprevir với phép điều
trị cổ điển (bằng 2 thứ thuốc kết hợp) trong 3 tháng đầu điều trị”
Siêu vi trùng của viêm gan C đã được khám phá nơi những người được truyền
máu năm 1989 và từ đó những tiến bộ chống lại bệnh này đã không ngừng
tiến triển. Trước hết điều trị được thực hiện bằng tiêm interféron alpha,
một chất chống siêu vi khuẩn được sản xuất bởi các tế bào. Hiệu quả của
interféron alpha được nhân lên hơn gấp ba lần nhờ sự tăng cường vào năm
1998 bởi một thuốc chống siêu vi khác là ribavirine. Hiệu quả lại còn
được cải thiện hơn với sự xuất hiện của interféron pégylé năm 2001. Interféron
này là một dạng được biến đổi để làm chậm lai sự huỷ hoại trong cơ thể.
Hiện nay, hơn 85% các bệnh nhân mang các kiểu gène 2 hoặc 3 của virus
được chữa lành sau 6 tháng điều trị.
Sau cùng, cuối năm 2003, một chất ức chế (inhibiteur) siêu vi trùng viêm
gan C làm biến mất virus ra khỏi máu trong vài ngày thay vì nhiều tuần
trên những bệnh nhân mang kiểu gène 1. Thuốc này được chế tạo nhằm phong
tỏa một enzyme quan trọng của siêu vi trùng, protéase NS3. Enzyme này
chịu trách nhiệm về sự tăng sinh của siêu vi trùng và vô hiệu hoá các
phương tiện phòng ngự của tế bào chống lại virus.Telaprevir được chế biến
theo cùng nguyên tắc: thuốc ngăn cản tác dụng của enzyme này và phục hồi
các khả năng phòng ngự bị tê liệt. Đó là enzyme chống lại protéase (antiprotéase)
đầu tiên được thương mãi hóa.
Từ nay các nhà lâm sàng hồi hộp chờ đợi:” Còn cần phải biết việc sử dụng
thuốc chống siêu vi này trên bệnh nhân có dẫn đến sự xuất hiện các virus
đề kháng hay không. Nhưng các virus đề kháng này tuồng như sẽ bị loại
bỏ với điều trị kết hợp 3 thứ thuốc(trithérapie) kết hợp telaprevir,interféron
pégylé và ribavirine. Chúng ta hy vọng rằng vài phản ứng phụ ngoài da
sẽ không xảy ra nhiều lắm”. Jean-Pierre Zarski nói thêm như vậy
(LA RECHERCHE 5/2007)
10/ MUỐI VÀ NGUY CƠ TIM MẠCH
Nếu giảm ăn muối làm giảm nguy cơ bị cao huyết áp và cao huyết áp có thể
dẫn đến bệnh tim, thế thì ăn ít muối có cải thiện sức khỏe tim của chúng
ta hay không?
Một công trình nghiên cứu được công bố online trong The British Medical
Journal, theo dõi 2 nhóm người trong hơn 1 thập niên sau khi những người
này được yêu cầu giảm ăn muối trong 48 tháng. Có hơn 3000 người tham dự,
từ 30 đến 50 tuổi, và tất cả đều nằm trong tình trạng có nguy cơ đặc biệt
gây cao huyết áp.
Hai nhà nghiên cứu,được lãnh đạo bởi Nancy Cook thuộc Brigham and Women’s
Hospital, đã nhận thấy rằng những người đã giảm nhiều lượng muối ăn vào
thì có nguy cơ bị bệnh tim mạch giảm 20%. Nguy cơ tử vong của họ cũng
được giảm đến 1/5.
Những nghiên cứu trước đây đã nhận thấy rằng ăn ít muối trong khẩu phần
liên kết với huyết áp thấp hơn, nhưng các nhà nghiên cứu đã nới rằng để
xác định điều này có ý nghĩa như thế nào đối với bệnh tim là điều khó
hơn. (INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 3/5/2007)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(6/5/2007)
>>>back>>>
|
 |