 |
Thời
Sự Y Học Số 24
B.S NGUYỄN VĂN THỊNH
1/ CAO HUYẾT ÁP : NGUYÊN NHÂN NẰM
TRONG NÃO BỘ.
Một nhóm nghiên cứu các nhà khoa học người Anh đã nhận diện trong não
bộ một protéine được xem là nguyên nhân của cao huyết áp, trong khi đó
nói chung nguyên nhân của chứng cao huyết áp thường được quy cho do thận
hoặc các động mạch. Đây là kết quả của một công trình nghiên cứu được
đăng tải trên báo Hypertension.Các nhà nghiên cứu của Đại Hoc Bristol
đã phân lập protéine JAM-1 trong não bộ và đã khám phá rằng protéine này
giam hãm các bạch cầu, gây phản ứng viêm làm trở ngại tuần hoàn máu và
làm giảm tiếp vận oxygène đến não bộ. Theo các nhà nghiên cứu, cao huyết
áp là một bệnh viêm mạch máu của não bộ, hay nói đúng hơn là một bệnh
có nguồn gốc huyết quản.
“ Hiện nay các nghiên cứu cơ bản này sẽ mở ra khả năng điều trị những
bệnh nhân cao huyết áp không đáp ứng với các thuốc chống cao áp cổ điển,
bằng những thuốc làm giảm viêm huyết quản và làm gia tăng lưu lượng máu
đến não bộ. Giáo sư Julian Paton, người điều khiển dự án, đã giải thích
như vậy.” Thách thức mới là cần hiểu loại viêm nào là nguyên nhân để biết
cần sử dụng những loại thuốc nào”. Ông nói thêm như thế và nhấn mạnh rằng
JAM-1 có thể chỉ ra những hướng mới để điều trị bệnh cao huyết áp.
Giáo sư Jeremy Pearson, phụ trách British Heart Foundation, đã chào đón
khám phá này: “Công trình nghiên cứu gây ấn tương này thật là quan trọng
bởi vì đã đưa ra những nguyên nhân bất ngờ của cao huyết áp”.
Tuy nhiên, đối với Giáo sư MacGregar, chủ tịch Hiệp Hội Cao Huyết Áp Anh,
thì những công trình này còn rất sơ bộ và cần phải được xác nhận. Cao
huyết áp đặc biệt có thể đưa đến nhồi máu cơ tim và gây tổn hại thận.
Yếu tố nguy cơ tim mạch này gia tăng với tuổi tác. Ở Pháp cứ 3 người thì
có một người bị cao huyết áp và trên thế giới có hơn 600 triệu người bị
chứng bệnh này. (LE FIGARO 16/4/2007)
2/ NHỮNG HẠN CHỀ CỦA TIÊM CHỦNG CHỐNG BỆNH
THỦY ĐẬU
Ở Hoa Kỳ, chính quyền đã khuyên tiêm chủng đại trà chống bệnh thủy đậu
(varicelle).
Ngày nay, họ khám phá rằng thời gian miễn dịch sau khi chủng ngắn và khuyên
cần được tái tiêm chủng cho tất cả mọi người. Thuốc chủng chống bệnh thủy
đậu ở Hoa Kỳ đã được khuyên sử dụng triệt để cho tất cả các nhũ nhi bắt
đầu từ năm 1995.
Trái lại ở Pháp, việc chủng ngừa chỉ được đề nghị cho một vài nhóm có
nguy cơ, như các trẻ bi suy giảm miễn dịch hay bệnh tật và các thiếu niên
đã không bao giờ bị bệnh này.
Một công trình nghiên cứu vừa được công bố mới đây trong New England Journal
of Medi - cine tiết lộ rằng tính miễn dịch có được với thuốc chủng này
không hẳn sẽ là vĩnh viễn vì lẽ sau 10 năm, một số người được tiêm chủng
cuối cùng vẫn mắc phải bệnh thủy đậu.
Điều này không phải là không có hậu quả. Thật vậy,khi ban thủy đậu phát
ra trong thời kỳ thơ ấu thì bệnh hiền tính hơn nhiều so với lúc phát bệnh
ở tuổi trưởng thành. Sự tiêm chủng đại trà làm chậm lại tuổi xuất hiện
của bệnh thủy đậu, do đó có nguy cơ gây bệnh nặng hơn.
Công trình nghiên cứu này của New England Journal of Medicine đã khiến
cho giới phụ trách y tế Hoa Kỳ khuyên kể từ nay cần phải được tái tiêm
chủng chồng bệnh thủy đậu cho các trẻ từ 4 đến 6 tuổi.
387 TỬ VONG 20 NĂM
Bệnh thủy đậu là một bệnh thông thường, có nguồn gốc siêu vi khuẩn và
rất phổ biến, gây bệnh cho 700.000 người mỗi năm ở Pháp, chủ yếu trong
những năm đầu của đời sống.
Bệnh thủy đậu gây sốt vừa, nổi ban ngứa ở da và mệt mỏi trong khoảng 8
ngày. Một khi lành bệnh, bệnh nhân được miễn dịch chống lại nhiễm trùng
nhưng sự nhiễm trùng này có thể được phục hoạt và đôi khi gây bệnh zona.
Trong vài trường hợp hiếm hoi, các biến chứng nghiêm trọng có thể xảy
ra. Theo một nghiên cứu được công bố vào tháng 9/2003 trong Thông Báo
Dịch Tể Hàng Tuần, tỷ lệ nhập viện phòng hồi sức trước 14 tuổi là 2,6
trường hợp trên 100.000 trẻ em bị bệnh thủy đậu và tỷ lệ tử vong khoảng
0,4 trên 100.000 trường hợp mỗi năm.
Mặt khác, một nghiên cứu được thực hiện bởi trung tâm theo dõi các tử
vong của Inserm tiết lộ rằng trong suốt 20 năm qua, 387 trường hợp tử
vong gây nên bởi thủy đậu và các nạn nhân chủ yếu là những người trưởng
thành.
Việc tiêm chủng có hệ thống các nhũ nhi ở Hoa Kỳ ngay từ năm 1995 trước
hết đã cho phép ghi nhận một sự giảm sút rõ rệt số trường hợp bị thủy
đậu, số các biến chứng và các phí tổn do bệnh này gây ra. Mặc dẩu sự thành
công của chương trình tiêm chủng, các vụ dịch thủy đậu vẫn đều đặn xảy
ra, điều nghịch lý là lại xảy ra trong các trường học, nơi tỷ lệ chủng
ngừa đạt mức rất cao. Điều này có thể được giải thích như sau: cần phải
có một sự tiếp xúc với siêu vi trùng thủy đậu để nâng cao đều đặn tính
miễn dịch. Những nồng độ kháng thể đặc hiệu đã chứng tỏ rằng 15% trẻ mặc
dầu được tiêm chủng đã không được bảo vệ đầy đủ và có thể bị nhiễm trùng.
Để đánh giá thời gian miễn dịch sau khi tiêm chủng, các nhà nghiên cứu
Hoa Kỳ, trong công trình Varicella Active Surveillance Project, đã quyết
định quan sát 350.000 trẻ ở California (được tiêm chủng hay không) trong
vòng 10 năm (từ 1995 đến 2004) và lập danh sách tất cả các trường hợp
thủy đậu có triệu chứng lâm sàng xảy ra nơi các trẻ này.
Các kết quả được công bố ngày 15 tháng 3 vừa rồi trong New England Journal
of Medicine thật là đặc biệt lý thú. Một mặt, sự giảm sút quan trọng số
trường hợp thủy đậu ở các trẻ được chủng ngừa và không được chủng ngừa.
Năm 2003 và 2004, 420 bệnh nhân đã được nghi nhận, so với 2.794 trường
hợp xảy ra vào năm 1995. Tuy nhiên cũng có vẻ như là vào những năm 2002,2003
và 2004, số trường hợp thủy đậu không giảm trong khi đó số trẻ được tiêm
chủng lại gia tăng.
Năm 1996, 1% các trường hợp thủy đậu xảy ra nơi các trẻ được tiêm chủng,
so với 60% vào năm 2004. Mặt khác, theo công trình nghiên cứu này, tỷ
lệ gây bệnh thủy đậu đạt mức cao nhất xảy ra vào khoảng 5 tuổi năm 1995,
từ nay xuất hiện chậm hơn, vào khoảng 10 tuổi Đối với trẻ không được tiêm
chủng, mức cao nhất này xảy ra vào khoảng 12 tuổi, còn đối với trẻ được
tiêm chủng thì khoảng 6-7 tuổi. Sau cùng, bệnh thủy đậu xảy ra ở trẻ được
tiêm chủng cũng như không được tiêm chủng, vào năm 2004 nghiêm trọng hơn
là vào năm 1995, bởi vì bệnh xảy ra lúc bệnh nhân ở lứa tuổi cao hơn.
“Người Mỹ từ nay khuyên tái tiêm chủng. Nhưng không ai có thể nói là sự
bảo vệ miễn dịch thu được có vĩnh viễn hay không, dầu cho có tái tiêm
chủng chăng nữa. Cần phải tiền hành những nghiên cứu khác để giải quyết
vấn đề này.”Bs Michel Rosenheim (chuyên viên dịch tễ của Bệnh Viện Pitié-Salpetrière)
đã giải thích như vậy. Điều này một lần nữa chứng tỏ rằng cần phải suy
nghĩ nhiều trước khi phát động chủng ngừa đại trà. Cần phải dự kiến các
hiệu quả tai hại và tất cả tình huống trước khi có một quyết định như
vậy” (LE FIGARO 11/4/2007)
3/ HAI CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN KẾT VIỆC
SỬ DỤNG HORMONE VỚI GIA TĂNG NGUY CƠ UNG THƯ
ATLANTA. Các nghiên cứu từ hai lục địa đã ghi nhận nhiều tin xấu hơn về
việc điều trị thay thế bằng hormone (hormone replacement therapy) và đưa
ra bằng chứng chắc chắn nhất đến nay có được là điều trị thay thế bằng
hormone có thể làm gia tăng nguy cơ bị ung thứ vú và liên kết với tỷ lệ
bị ung thư buồng trứng hơi cao hơn so với người không sử dụng.
Các con số mới do chính phủ Mỹ đưa ra cho thấy tỷ lệ ung thư vú đã ổn
định năm 2004 sau khi giảm rõ năm 2003 (là năm sau khi hàng triệu phụ
nữ ngưng dùng hormone vì một công trình nghiên cứu quy mô lớn đã liên
kết việc sử dụng thuốc này với các tỷ lệ mắc phải bệnh tim, đột quy và
ung thư vú cao hơn). Các chuyên gia đã nói rằng tỷ lệ ung thư vú ổn định
chứng tỏ rằng sự giảm sút tỷ lệ ung thư năm 2003 là điều có thật chứ không
phải do tình cờ.
Từ năm 2001 đến 2004, tỷ lệ ung thư vú giảm hầu như 9%, một sự giảm đột
ngột, các nhà nghiên cứu đã báo cáo trong The New England Journal of Medicine.
Khuynh hướng này lai càng rõ nét hơn đối với dạng ung thư thường xảy ra
nhất: các ung thư mà sự tăng trưởng được duy trì bởi các hormones.Tỷ lệ
này giảm 15% nơi các phụ nữ tuổi từ 50 đến 69,nhóm bệnh nhân chủ yếu được
điều trị thay thế bằng hormone. Đồng thời, một nghiên cứu trên khoảng
1 triệu phụ nữ ở Anh cho thấy rằng 20% trong số những người sử dụng hormone
sau tuổi mãn kinh có khả năng phát triển và chết vì ung thư buồng trứng
hơn là những phụ nữ không bao giờ sử dụng hormone thay thế. Công trình
nghiên cứu này được công bố on-line trên The Lancet
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 20/4/2007)
4/ MÃN KINH : ĐIỀU TRỊ LÀM GIA TĂNG UNG
THƯ BUỒNG TRỨNG
Một công trình nghiên cứu rộng rãi của người Anh chứng tỏ rằng điều trị
thay thế bằng hormone (THS=traitement hormonal substitutif) làm gia tăng
nhẹ nguy cơ bị ung thư buồng trứng. Hầu như mỗi tuần đều có một công trình
khoa học phát hiện một lợi ích hay một nguy cơ mới của điều trị chứng
mãn kinh bằng các hormone thay thế kết hợp oestrogènes và progestérone.
Tuần này, chính tạp chí Anh, The Lancet, công bố trên site Internet những
kết quả của một điều tra phát hiện rằng điều trị thay thế bằng hormone
làm gia tăng nguy cơ ung thư buồng trứng. Đặc biệt các tác giả tính toán
rằng ở Anh điều trị mãn kinh là nguyên nhân của thêm 1300 trường hợp ung
thư buồng trứng và của 1000 tử vong trong vòng 15 năm (theo một phân tích
mới của MWS (Million Women Study).
Điều trị thay thế bằng hormone, nhằm chống lại các cơn bừng (bouffées
để chaleur) và ngăn ngừa chứng loãng xương (ostéoporose), đã được chỉ
định rộng rãi cho đến năm 2002, là năm một thử nghiệm điều trị ở Hoa Kỳ
đã kết luận rằng các nguy cơ cao hơn là lợi ích trong việc điều trị thay
thế bằng hormone. Nguy cơ chủ yếu được đưa ra là nguy cơ ung thư vú.
Công trình nghiên cứu MWS đã theo dõi trong hơn 6 năm, 948.575 phụ nữ
mãn kinh ở Vương Quốc Anh, không có tiền sử ung thư hay cắt bỏ 2 bên buồng
trứng (trong đó 30% sử dụng THS vào lúc thực hiện công trình nghiên cứu
và 20% là những người trước đây đã sử dụng). Trong quá trình theo dõi,
2.273 trường hợp mới ung thư buồng trứng xuất hiện và 1.591 tử vong do
ung thư buồng trứng đã được thống kê. Phân tích thống kê đã cho phép thấy
rằng nguy cơ ung thư buồng trứng 20% cao hơn ở những người sử dụng THS
so với những người không sử dụng; nguy cơ tử vong 20% cao hơn.
Sử dụng càng lâu thì nguy cơ càng đáng kể. Trên 10 năm sử dụng, nguy cơ
này gia tăng 31% Nhưng loại điều trị dường như không có ảnh hưởng, mặc
dầu sự kết hợp progestatifs với oestrogènes có vẻ như làm giảm một ít
mối nguy cơ này. Ngoài ra nguy cơ này sẽ biến mất ngay khi dừng sử dụng
hormone.
Trong vòng 5 năm, số những trường hợp mới ung thư buồng trứng là 2,6 trên
1000 phụ nữ điều trị với THS và 2,2 đối với các phụ nữ khác, hoặc thêm
một ung thư trên 2.500 phụ nữ được điều trị thay thế bằng hormone. Mặc
dầu nguy cơ tính theo trị số tuyệt đối là khiêm tốn, nhưng các tác giả
đưa ra một lời cảnh cáo toàn bộ chống lại việc sử dụng THS.
Thật vậy các nhà nghiên cứu đánh giá rằng loại điều trị này sẽ làm gia
tăng toàn bộ 63% nguy cơ của 3 loại ung thư (vú,buồng trứng và nội mạc
tử cung). Nguy cơ ung thư buồng trứng do sử dụng THS đã là đối tượng của
những nghiên cứu rất mâu thuẫn cho đến ngày hôm nay. Công trình này nếu
được xác nhận, sẽ làm sáng tỏ một nguy cơ vẫn còn rất thấp”. Christian
Jamin, BS chuyên khoa phụ khoa đã phát biểu như vậy.
CÁC NGUY CƠ BỊ ĐÁNH GIÁ THẤP
Trong nhiều năm, điều trị thay thế bằng hormone đã được đề nghị cho hầu
hết các phụ nữ đi khám bệnh vào lúc mãn kinh. Các lợi ích đã được đánh
giá quá cao và ngược lại các nguy cơ lại bị đánh giá thấp. Từ năm 2002,
các thầy thuốc có khuynh hướng uyển chuyển trong chỉ định đối với các
bệnh nhân, tùy theo tầm quan trọng của các cơn bừng và nguy cơ của chứng
loãng xương. Đặc biệt ở Pháp, các thầy thuốc sử dụng nhiều hơn những hormone
gọi là thiên nhiên (hormone naturelle) (các oestrogènes được sử dụng bằng
đường qua da và progesté -rone micronisée). Điều trị theo cách này ít
có tác dụng có hại hơn so với lối điều trị ở Hoa Kỳ Nhưng thiếu những
công trình nghiên cứu lớn để xác nhận điều này (LE
FIGARO 24/4/2007)
5/ MỐI LIÊN HỆ GIỮA BỆNH TRẦM CẢM VÀ BỆNH
TIỂU ĐƯỜNG ĐƯỢC PHÁT HIỆN NƠI NGƯỜI GIÀ
Một nhóm nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã phát hiện ở người già một mối liên hệ
giữa sự hiện diện của các triệu chứng của bệnh trầm cảm và sự xuất hiện
bệnh tiểu đường loại 2.
Mercedes Carnethon (Northwestern University để Chicago) và các cộng sự
viên đã công bố hôm thứ hai 23/4 các kết quả theo dõi của hơn 4.500 người
tham dự vào một công trình nghiên cứu được gọi là “cardiovascular Health
Study”.
Mỗi năm, từ năm 1989 đến 1999, các nhà nghiên cứu đã cho trắc nghiệm tình
trạng trầm uất ở những người trên 65 tuổi. Ở những người này lúc đầu không
có triệu chứng nào của bệnh tiểu đường đã được phát hiện. Như vậy các
nhà nghiên cứu đã có thể chứng tỏ rằng những người có những dấu hiệu của
bệnh trầm cảm (dẫu là không thường xuyên hay dai dẳng) đã phát sinh một
cách khá rõ một bệnh tiểu đường phải cần điều trị bằng thuốc.
Nguy cơ trở nên bệnh tiểu đường là 50% đến 60% cao hơn đối với những người
có các dấu hiệu của bệnh trầm cảm. Cơ chế liên kết chứng trầm cảm và sự
phát sinh bệnh tiểu đường đến nay vẫn không giải thích được. (LE
MONDE 26/4/2007)
6/ CẮT BỎ TÚI MẬT BẰNG ĐƯỜNG ÂM ĐẠO
Một nhóm phẫu thuật của New York-Presbyterian/Columbia University Medical
Center đã áp dụng một kỹ thuật mới để cắt bỏ túi mật. Kỹ thuật này được
gọi là NOTES (Natural Orifice Translumenal Endoscopic Surgery: giải phẫu
nội soi qua một lỗ tự nhiên).
Phẫu thuật được thực hiện với một ống nội soi (endoscope) được đưa vào
bằng đường âm đạo và dưới sự kiểm soát của nội soi ở bụng (laparoscopie
abdominale).
Kỹ thuật mới này được đề nghị nhằm làm giảm sự đau đớn hậu phẫu và thu
nhỏ các sẹo giải phẫu cũng như đảm bảo sự hồi phục nhanh hơn sau mổ. Tuy
nhiên kỹ thuật vẫn còn trong giai đoạn thí nghiệm. Lúc trình bày kỹ thuật
này ở Hội Nghị hàng năm của Society of American Gastrointestinal Endoscopic
Surgeons tại Las Vegas vào weekend tuần vừa rồi, bác sĩ Marc Bessler đã
tuyên bố rằng những phẫu thuật qua một lỗ tự nhiên là một bước tiến bộ
cuối cùng của kỹ thuật ngoại khoa xâm nhập tối thiểu (techniques chirurgicales
minimalement invasives). Kỹ thuật này sẽ loại bỏ một phần lớn các khó
chịu do kỹ thuật cổ điển gây nên.”
Ngoài phẫu thuật cắt bỏ túi mật, kỹ thuật NOTES cũng thích hợp để cắt
bỏ ruột thừa, thăm dò ổ bụng và làm sinh thiết”
(LE GENERALISTE 26/4/2007)
7/ CHOCOLAT LÀM GIẢM
HUYẾT ÁP
Ăn chocolat đen có thể có hiệu quả trong việc hạ huyết áp như các thuốc
giảm áp thông thường. Một xem xét lại các công trình nghiên cứu đã nhận
thấy như vậy.
Mặt khác, trà có vẻ không có hiệu quả trong tác dụng này. Bài báo nói
rằng một chế độ ăn uống giàu trái cây và rau xanh có lợi cho sức khỏe
một phần là do thực vật chứa những chất hoá học được gọi là polyphenols
giúp kiểm soát huyết áp.
Từ hơn 3000 bài báo, các nhà nghiên cứu đã chọn những công trình nghiên
cứu rộng rải nhất và sử dụng các kỹ thuật thống kê để phối hợp các dữ
kiện.
4 trong 5 nghiên cứu về chocolate đã nhận thấy huyết áp bị giảm lúc ăn
chocolat đen.
Bài báo này được công bố vào số tháng 4 của The Archives of Internal
Medicine.
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 26/4/2007)
8/ KHUYÊN TẬP THỂ DỤC ĐỂ CHỐNG VIÊM KHỚP
NƠI PHỤ NỮ
SYDNEY. Theo một nghiên cứu mới của Úc, tập thể dục không những bảo vệ
tim và giữ gìn những đường nét thân thể lúc lớn tuổi mà còn đảm bảo sự
phòng ngừa chống lại bệnh viêm khớp nơi các phụ nữ. Một phụ nữ cao tuổi
tập thể dục càng nhiều thì khả năng tránh đau khớp càng lớn. Viêm khớp
là một trong những bệnh lý phổ biến nhất ở các nước phương Tây
Theo nghiên cứu này, chỉ cần tập thể dục 1 giờ 15 phút mỗi tuần cũng đủ
để tạo ra sự khác nhau trong 3 năm tiếp theo sau đó.
"Tôi không nghĩ rằng những kết quả này có nghĩa là phải trở nên một
kẻ cuồng say tập thể dục”. Kristiann Heesch của Đaị Học Queenland ở Úc
đã giải thích như thế.
Điều được gợi ý là ta có thể rút ra một mối lợi lớn bằng cách tản bộ và
theo đuổi một hoạt động hàng ngày có mức độ. Các thầy thuốc đã luôn luôn
khuyến khích những người già tập thể dục để duy trì sự mềm dẻo của các
khớp xương, sự phát triển của hệ cơ và tránh khỏi bị lên cân. Mặc dầu
sự tương quan trực tiếp giữa luyện tập vật lý và sự giảm đau khớp dường
như là điều có thật, nhưng những lý do của mối liên hệ này vẫn chưa được
rõ ràng.
Có thể là hoạt động vật lý tác dụng dương tính lên các khớp.
Có thể là tập thể dục làm giảm sự nhạy cảm của các thụ thể giác quan (capteurs
sensoriels) nơi người cảm nhận ít đau đớn hơn bác sĩ John Hardin thuộc
văn phòng khoa học của Fondation pour l’arthrite đã đưa ra ý kiến như
vậy. (METRO 20/4/2007)
9/ CÚM GIA CẦM : TAMIFLU CẢI THIỆN TỶ LỆ
TỬ VONG HƠN CÁC CORTICOIDES
Các bệnh nhân nạn nhân của bệnh cúm gia cầm được điều trị sớm với thuốc
chống siêu vi Tamiflu để chống lại suy hô hấp có nhiều khả năng sống còn
hơn là những bệnh nhân được điều trị bằng corticoides. Đó là kết luận
sơ khởi của một hội nghị các chuyên viên quốc tế theo sáng kiến của Tổ
Chức Y Tế Thế Giới. O.M.S nhấn mạnh rằng các corticoides đã không chứng
tỏ được hiệu quả, căn cứ trên các kết quả được quan sát ở các bệnh nhân
ở Việt Nam và Nam Dương.
« Cứ 9 bệnh nhân được điều trị với corticoides thì có 8 trường hợp tử
vong » Frédérick Hayden, một chuyên gia của OMS đã nhấn mạnh như vậy.
Ông nói thêm: « Các bệnh nhân được điều trị với những liều lượng corticoides
cao và kéo dài đã chịu những tác dụng phụ nghiêm trọng ».
Trong khi đó những bệnh nhân được điều trị sớm với Tamiflu đã có thể được
cứu sống như có thể thấy ở Ai Cập, là nơi 20 bệnh nhân trên 34 đã sống
sót. Tính đến hôm nay, trên 291 người bị nhiễm bởi virus cúm gia cầm trên
thế giới, đã có 172 trường hợp tử vong.
Tất cả các nước phương Tây đã tích trữ thuốc chống siêu vi trùng Tamiflu
để đối phó với một trận dịch toàn cầu cúm gia cầm có thể xảy ra. (LE
FIGARO 24/4/2007)
10/ SIDA : MỘT THUỐC MỚI TRONG TRƯỜNG HỢP
THẤT BẠI ĐIỀU TRỊ
Một dược phẩm antirétroviral mới, RALTEGRAVIR của Hãng Bào Chế Merck,
nếu kết hợp với các thuộc chống siêu vi khác, có thể đóng một vai trò
quan trọng đối với các bệnh nhân bị thất bại trong điều trị (Lancet
14/4).
Đó là thuốc đầu tiên của một loại thuốc mới, các inhibiteurs d’intégrase.
Thật vậy, có 3 loại enzymes (transcriptase réverse, protéase, intégrase)
cần thiết cho sự tăng sinh của virus.
Trừ phi xuất hiện những phản ứng phụ bất ngờ hoặc những vấn đề đề kháng
virus; Raltegravir có thể đóng một vài trò lớn trong những trường hợp
các bệnh nhân gặp khó khăn trong điều trị. (LE
FIGARO 14-15/4/2007)
B.S NGUYỄN VĂN THỊNH
(29/4/2007)
>>>back>>>
|
 |