 |
Thời
Sự Y Học số 100
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ LỊCH SỬ CỦA CÁC RỐI LOẠN
ĂN UỐNG : CHỨNG CHÁN ĂN (ANOREXIE)
Trái với điều mà người ta tưởng, chứng chán ăn tâm thần (anorexie mentale)
không nhất thiết được thôi thúc bởi những quy tắc về sắc đẹp mà xã hội
áp đặt lên chúng ta. Chứng chán ăn tâm thần này có nguồn gốc trong những
quá trình tâm lý vô thức trong đó việc kiểm soát ăn uống trở nên một ám
ảnh thật sự. Người ta không tìm thấy bệnh này theo cùng một cách như nhau
trong tất cả các văn hóa, cũng như trong tất cả các thời kỳ, nhưng ngày
nay, chứng bệnh này gia tăng đều đặn trong những xã hội của các nước công
nghiệp và trở nên một trong những tai ương trong thời đại chúng ta. Mặc
dầu chứng chán ăn không phải là tương đương với nhịn đói nói riêng, song
le lịch sử của chứng bệnh này khó tách rời với nó.
NHỮNG THẦY TU KHỔ HẠNH
Những mô tả đầu tiên về những thái độ chán ăn đã có từ đầu thời kỳ Cơ
đốc giáo. Thật vậy, những nhà khổ hạnh cơ đốc căn cứ trên lời của thánh
Paul : “ Khi tôi yếu là khi tôi mạnh ” nên đã miệt mài theo đuổi sự nhịn
ăn. Vào thế kỷ thứ tư sau công nguyên, thánh Siméon Stylite, thầy tu từ
Syrie, đã trải qua 4 năm của cuộc đời trên đỉnh của một cột trụ mà không
bao giờ ngủ. Mặc dầu các du khách tiếp tế đều đặn cho ông thực phẩm, vị
thầy tu này nổi tiếng vì đã nhịn ăn gần như hoàn toàn. Một thế kỷ sau,
Ordo monasteri, tập hợp những quy tắc tu sĩ được chấp thuận bởi thánh
Augustin, chủ trương 5 ngày nhịn đói mỗi tuần.
PHUƠNG PHÁP RỜI RẠC
Ngay thế kỷ thứ bảy sau công nguyên, những trường hợp chán ăn ngoài khung
cảnh tôn giáo cũng đã được mô tả. Tuy nhiên, mối liên hệ giữa ý niệm chán
ăn tâm thần (anorexie mentale) hiện nay với sự chán ăn được mô tả vào
thời kỳ đó nêu lên một số vấn đề về phương pháp học bởi vì độ tin cậy
của những nguồn lịch sử thường bị hoài nghi và khái niệm mất kinh (aménorrhée)
(điển hình của chứng chán ăn) hoàn toàn vắng bóng trong những nguồn lịch
sử này, điều này làm cho sự so sánh giữa hai ý niệm trở thành khó hơn.
Ngoài ra, điều quan trọng cần biết là ý niệm bệnh lý tâm thần chưa được
thiết lập vào thời Trung Cổ.
CÁC NỮ THÁNH CHÁN ĂN (SAINTES ANOREXIQUES)
Giữa thế kỷ thứ 13 và 16, các tài liệu nói về nhiều nữ thánh có thái độ
ăn uống lạ kỳ. Trường hợp đầu tiên được ghi chú là trường hợp của Catherine
Benincasa, được biết nhiều hơn dưới tên Sainte Catherine de Sienne (1347-1380).
Vào khoảng 23 tuổi, bà hầu như đã không ăn gì cả; bà dinh dưỡng bằng nước
uống và những miếng cỏ đắng nhỏ, mà bà mút và khạc hoặc mửa ra. Chết năm
33 tuổi, bà là thí dụ được biết đến nhất của cái điều mà người ta gọi
ngày nay là “sự chán ăn thánh thiện” (anorexie sainte). Một so sánh đáng
ngạc nhiên: Catherine mặc dầu da bọc xương nhưng rất tích cực hoạt động
và mong muốn nuôi dưỡng kẻ khác, đây là những nét đặc trưng của bệnh cảnh
của chứng chán ăn tâm thần (anorexie mentale). Tuy nhiên cần phải nhận
xét rằng, mặc dầu có các điểm chung giữa những thái độ huyền bí này và
chứng chán ăn nói riêng, nhưng những ý định là khác nhau tùy theo các
thời đại và những môi trường văn hóa hoặc tôn giáo. Chúng ta cũng cần
ghi nhận rằng các nữ thánh được nêu lên không phải tất cả đều là các thiếu
nữ hoặc thanh nữ. Việc nhịn ăn đối với họ biểu hiện một khía cạnh quan
trọng của sự sùng đạo thời trung cổ bởi vì sự tồn tại không cần dinh dưỡng
có nghĩa là có những dạng thức ăn tinh thần khác bù trừ lại những hậu
quả của sự nhịn ăn. Chúng ta hãy lấy thí dụ trường hợp của thánh Véronique
( 1660-1727) từ chối ăn trong những thời kỳ 3 ngày và tự cho phép mình
nhai 5 hạt cam ngày thứ sáu để tưởng nhớ năm vết thương của chúa Jésus.
BẮT ĐẦU CHẨN ĐOÁN
Trong khi y học suốt trong thời kỳ trung cổ đã không lưu ý bao nhiêu về
những trường hợp chán ăn, thì các thầy thuốc của những thế kỷ thứ 17 và
18, với một tinh thần khoa học hơn, đã bắt đầu quan tâm đến những hành
vi kỳ lạ này. Họ nghiên cứu những trường hợp mà họ gọi là inediaprodigiosa
( sự nhịn ăn kỳ diệu) hay cả anorexia mirabilis (sự chán ăn kỳ diệu).
Sự mô tả đầu tiên về căn bệnh này có thể quy cho Richard Morton (1637-1698),
thầy thuốc của James II d’Angleterre. Ông này năm 1689 đã mô tả một thể
tàn lụi vật lý (un dépérissement physique) nguồn gốc thần kinh mà ông
đặt tên là “bệnh lao thần kinh” (phtisie nerveuse). Năm 1694, trong cuốn
Khái luận về các bệnh suy mòn (Traité des consomptions) ông dựng lên bệnh
cảnh lâm sàng chi tiết của chứng bệnh này, với “sự thiếu ăn ngon, từ chối
không chịu ăn, mất kinh, tăng hoạt động và gầy mòn suy kiệt”. Công trình
nghiên cứu này được thực hiện từ hai trường hợp: một thiếu nữ 16 tuổi
và một thanh niên 18 tuổi. Ông còn thêm rằng tình trạng này được gặp nơi
những “người đã sống trong tình trạng trinh tiết”!
TRINH NỮ DIỆU KỲ
Thí dụ, một quan điểm mới nảy sinh, đó là một sự nhịn ăn kéo dài không
còn được xem như là một việc làm thánh thiện nữa, mà đôi khi trở nên một
dấu hiệu của quỷ ám, mà chúng ta đã biết những hậu quả của việc làm này
trong thời kỳ ngự trị của Toà án dị giáo (L’inquisition). Bắt đầu từ thời
điểm đó, những trường hợp nhịn ăn còn tồn tại chỉ là những thiếu nữ thuộc
giai cấp bình dân kén ăn, gợi ý tưởng của sự trong trắng. Khi các mối
nguy cơ bị lên giàn hỏa thiêu không còn nữa, những trường hợp chán ăn
thánh thiện (anorexie sainte) lại bắt đầu tái xuất hiện, nhưng từ nay
giới hữu trách y tế tỏ ra nghi ngờ về những hành vi như vậy. Làm “trinh
nữ diệu kỳ” (vierge miraculeuse) không phải là không nguy hiểm, vì một
cuộc chiến tranh thật sự chống lại sự chán ăn gian lận được bắt đầu. Khi
một thiếu nữ bị khám phá ăn lén, cô ta có khả năng bị bản án tử hình.
CHÁN ĂN GIAN LẬN
Thế kỷ thứ 19 còn chứng kiến vài trường hợp những phụ nữ nhịn ăn nổi tiếng.
Năm 1807, cô Ann Moore người Anh, kẻ phạm tội ăn năn hối cải, bắt đầu
một câu chuyện chán ăn nhanh chóng trở thành nổi tiếng. Khi đó, một sự
quan sát theo dõi việc chán ăn này được thiết đặt. Sau một tuần, Ann Moore
ngã bệnh, một chiếc mền tẩm đầy nước tiểu được tìm thấy dưới giường cô
(điều này có nghĩa là cô đã ăn uống), và người ta bắt gặp cô hít những
chiếc khăn tay tẩm nước và giấm. Cô bị buộc thú nhận là đã lừa phỉnh và
tên cô trở thành đồng nghĩa với “sự gian trá” (supercherie). Trong những
năm 1870, giới hữu trách y tế đã phải đương đầu với trường hợp của Sarah
Jacob, một cô gái xứ Galle 12 tuổi, đã bắt đầu nhịn ăn 3 năm trước đó.
Sarah mỗi ngày chỉ ăn một miếng táo có kích thước một quả anh đào. Trở
nên nổi tiếng, Sarah phải đối mặt với một ủy ban điều tra gồm 4 nữ y tá.
Những cô y tá này lục soát căn hộ, cấm chị của Sarah không được vào trong
căn phòng của cô này và bắt đầu theo dõi. Sau 36 giờ, những dấu vết nước
tiểu xuất hiện trên chiếc áo ngủ của cô thiếu nữ. Sarah yếu lã đi vào
ngày thứ sáu. Bố mẹ cô cấm các cô y tá không được cho Sarah ăn uống vì
sợ rằng người ta hoài nghi lời nói của họ. Sarah chết vào ngày thứ 10.
Bằng cách khám phá những vụ bịp bợm này, khoa học và đạo đức học đã thắng
thuyết huyền bí (mysticisme) và một chán ăn kỳ diệu chỉ còn là một kỷ
niệm xa xăm. Chán ăn tâm thần đi vào trong lãnh vực y khoa và giã từ vĩnh
viễn lãnh vực tôn giáo.
NGUỒN GỐC TÂM THẦN
Chính từ hậu bán của thế kỷ thứ 19 mà thuật ngữ chán ăn tâm thần được
dùng theo nghĩa mà chúng ta biết ngày nay. Hầu như đồng thời, hai thầy
thuốc đã thực hiện những mô tả lâm sàng đầu tiên về những trường hợp chán
ăn và gán cho chúng một nguồn gốc tâm thần. Năm 1873 thầy thuốc tâm thần
Charles Lasègue (Paris 1816-1883), công bố sự mô tả những kết quả được
rút ra từ công trình nghiên cứu trên 8 bệnh nhân được điều trị vì “anorexie
hystérique”. Về phía bên kia biển Manche, sir William Gull (1816-1890),
công bố vào năm 1874 một mô tả về bệnh chán ăn tâm thần (anorexa nervosa),
trong khi từ năm 1869, ông đã báo cáo những trường hợp “apepsie hystérique”
nơi các thiếu nữ đã rất gầy ốm và từ chối ăn uống. Tuy vậy, bệnh chán
ăn này vẫn còn được điều trị trong suốt những năm dài như là một vấn đề
vật lý. Jean-Martin Charcot (1825-1893), một trong những người thầy của
Freud, chủ trương nhập viện và cách ly để buộc bệnh nhân chán ăn phải
ăn vì buồn chán. Còn Sigmund Freud vĩ đại, ông này liên kết chứng chán
ăn với hystérie và xem chứng chán ăn như là một triệu chứng phụ không
đáng được chú ý đến, mặc dầu ông có một trong những trường hợp nổi tiếng
nhất trong số các bệnh nhân của ông : hoàng hậu Áo quốc Elisabeth- Sissi
(1837-1898). Chỉ bắt đầu từ những năm 1950 người ta mới trở lại ý nghĩ
về một nguồn gốc tâm lý của chứng chán ăn tâm thần và sau cùng bệnh nhân
được điều trị vì căn nguyên này. (SEMPER 9/20008)
2/ BỆNH PARKINSON : CHO VITAMINE
D BỔ SUNG?
B.S Marian Evatt, thuộc đại học Emory, Atlanta, tiết lộ rằng đa số bệnh
nhân bị bệnh Parkinson có một nồng độ vitamine D trong máu rất thấp. Thế
mà vùng não bộ chịu trách nhiệm bệnh Parkinson lại giàu các thụ thể (récepteur)
đối với vitamine D, điều này gợi ý rằng bệnh Parkinson thật sự cần đến
yếu tố này. Cơ thể chủ yếu chế tạo vitamine D từ các tia tử ngoại, và
một ít vitamine D này đến từ thức ăn ( cá ngừ, cá saumon). (PARIS
MATCH 30/10- 5/11/2008)
3/ MỘT VACCIN MỚI CHỐNG LẠI
BỆNH ALZHEIMER ĐANG ĐƯỢC THỬ NGHIỆM
Một vaccin, không phải nhằm để ngừa bệnh mà để điều trị bệnh Alzheimer,
có thể sẽ có để sử dụng trong 5 năm sắp đến. Ba thử nghiệm lâm sàng giai
đoạn II đang được tiến hành trên thế giới, và đặc biệt ở Pháp với một
dược phẩm được phát triển bởi hãng Wyeth et Elan Pharmaceuticals. Tổng
cộng hơn 300 bệnh nhân bị mắc phải một dạng nhẹ đến trung bình của bệnh
Alzheimer được đưa vào trong những thử nghiệm. Dự án này đã được trình
bày mới đây ở Montpellier, trong một colloque nhằm điểm lại tình hình
tất cả các thử nghiệm về các thuốc hiện nay đang được trắc nghiệm để chống
lại bệnh Alzheimer.
Não bộ của những bệnh nhân bị Alzheimer có hai đặc điểm chính: một mặt,
các mảng peptide bêta-amyloide tích tụ chung quanh các tế bào thần kinh;
mặt khác, các protéine “Tau” tập trung ở bên trong các nơ ron và nhiên
hậu giết chết các tế bào thần kinh này. Vaccin chống bệnh Alzheimer có
mục đích phá hủy các peptide bêta-amyloide. Nguyên tắc là tiêm vào cơ
thể những mảnh tổng hợp của peptide bêta-amyloide, để có thể chế tạo những
kháng thể chống lại peptide này, nhằm loại bỏ nó đi.
Vào đầu những năm 2000, một công trình thử nghiệm vaccin rộng lớn đã mang
lại một niềm hy vọng lớn, cho đến khi công trình này phải bị đình chỉ
bởi vì những phản ứng não nghiêm trọng. Trên 300 bệnh nhân bị bệnh Alzheimer
thể trung bình, 18 người chết vì bị viêm não. “Nhưng những sinh thiết
của não bộ của những người bị chết đã phát hiện sự giảm, thậm chí biến
mất của những thương tổn liên kết với bệnh Alzheimer và đặc biệt là những
mảng amyloide, giáo sư Françoise Forette (bệnh viện Broca, Paris) đã giải
thích như vậy. Mặc dầu vaccin ứng viên được thử nghiệm hiển nhiên không
phải là vaccin tốt, nhưng hướng nghiên cứu này vẫn rất đáng chú ý.” Từ
đó, một dạng vaccin mới đã được hiệu chính bởi các phòng bào chế Wyeth
và Elan Pharmaceuticals. Vaccin này chỉ chứa 6 acide aminé (thay vì 42
như vaccin trước), được chọn lọc để ngăn ngừa nguy cơ viêm não-màng não.
Những kết quả đầu tiên sẽ thu được trong 3 năm nữa.
Trong một phương pháp tiến hành tương tự cũng nhằm phá hủy các mảng amyloide,
các hãng bào chế khác dựa vào những mũi tiêm trực tiếp các kháng thể (gây
miễn dịch thụ động). Công ty Baxter vừa loan báo bắt đầu một công trình
nghiên cứu giai đoạn II nơi 360 bệnh nhân, với một immunoglobuline được
cấu tạo bởi một hỗn hợp các kháng thể đã được thương mãi hóa trong điều
trị những tình trạng thiếu hụt miễn dịch. Một thử nghiệm giai đoạn III
cũng đang được tiến hành với một kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal),
Bapineuzumab (Elan Pharmaceuticals), liên kết đặc hiệu với protéine bêta-amyloide.
Công trình nghiên cứu bao gồm 1.200 bệnh nhân trong các nước khác nhau.
Nếu như những lợi ích được xác nhận, Bapineuzumab có thể xuất hiện trên
thị trường ngay năm 2011.
SỰ THÂN TRỌNG CỦA CÁC CHUYÊN GIA
Tổng cộng, có không dưới 15 thử nghiệm lâm sàng thăm dò hướng vaccin hay
sự tạo miễn dịch thụ đông (immunisation passive). Những thuốc này có lẽ
sẽ mở ra kỷ nguyên những “disease-modifying drugs”, một thế hệ mới các
thuốc chống bệnh Alzheimer, có khả năng làm chậm lại, thậm chí làm ngưng
những thương tổn não bộ của căn bệnh này. Bởi vì những thuốc đã được thương
mãi hóa chỉ nhằm bù những thiếu hụt của các chất dẫn truyền thần kinh,
nhưng hiệu quả rất khiêm tốn. Những nhà nghiên cứu khác hy vọng biến đổi
tiến triển của bệnh bằng cách phong bế sự tích tụ những protéine “Tau”
trong các nơ ron. Mùa hè năm nay, những kết quả của một thử nghiệm giai
đoạn II với một thuốc chống “Tau” (médicament anti-tau), Rember (méthylthioninium),
đã gây ấn tượng mạnh trong hội nghị quốc tế. Sau 19 tháng, những bệnh
nhân được điều trị bởi thuốc này luôn luôn ổn định trên bình diện thần
kinh, trong khi những bệnh nhân với điều trị placebo, tiếp tục suy đồi
(LE FIGARO 29/10/2008)
4/ PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ: THUỐC LÁ
LÀ YẾU TỐ NGUY CƠ NƠI PHỤ NỮ
“Women ‘s Health Initiative” vừa công bố những kết quả của một theo dõi
trong 8 năm, dành cho các phình động mạch chủ bụng (anévrisme de l’aorte)
nơi 161.808 phụ nữ mãn kinh. Ngoài tuổi tác ra, chính thuốc lá đã là yếu
tố quyết định nhất, nhân nguy cơ lên 9 lần nơi các phụ nữ hút thuốc, so
với những phụ nữ không hút thuốc. (PARIS MATCH 30/10-5/11/2008)
5/ TÌM KIẾM TRÊN INTERNET KÍCH
THÍCH CÁC NƠ RON
Các nhà khoa học đã khám phá rằng, những người tuổi trung niên hoặc cao
tuổi hơn, khi họ thực hiện những tìm kiếm đều đặn trên internet, họ sẽ
gây nên sự kích thích nhiều hơn những trung tâm chủ chốt của não bộ kiểm
soát quá trình quyết định và lý luận phức tạp. Các tác giả của công trình
nghiên cứu đã làm việc với 24 người tuổi từ 56 đến 76, bình thường về
phương diện thần kinh. Một nửa trong số những người này có kinh nghiệm
trong việc tìm kiếm trên internet trong khi 50% những người kia không
có kinh nghiệm này. Những người tham gia công trình nghiên cứu này đọc
hay theo đuổi những tìm kiếm trên mạng, trong khi não bộ của họ được chụp
hình ảnh chức năng nhờ résonance magnétique.
Scanner đã ghi những thay đổi trong các circuit của não bộ trong thời
gian của những hoạt động này. Những nhà nghiên cứu đã ghi nhận một khác
biệt lớn nơi những người thực hiện những tìm kiếm trên Internet. Nơi những
người này có một sự tăng lên hoạt động trong những vùng trán và thái dương,
cũng như trong những hồi não đai (circonvolutions cingulaires) của não
bộ. “Khám phá của chúng tôi gây ấn tượng mạnh nhất là những người thực
hiện những tìm kiếm trên internet có vẻ như đã huy động nhiều hơn các
circuit nơ ron, vốn không được kích thích”, tác giả chính của công trình
đã nhấn mạnh như vậy. Những điều quan sát này cho thấy rằng những hoạt
động nhằm tìm kiếm trên internet có thể góp phần kích thích những chức
năng não bộ, những nhà nghiên cứu mà các công trình được công bố trong
American Journal of Geriatric Psychiatry đã giải thích như vậy. (LE
SOIR 16/10/2008)
6/
NHỮNG THUỐC KHÁNG ĐÔNG CÓ HIỆU QUẢ HƠN
Các cục máu đông tĩnh mạch là mục tiêu của những thuốc kháng đông thế
hệ mới. Cuộc cách mạng đang diễn tiến. Huyết khối tĩnh mạch (thrombose
veineuse) không được chú ý đến bởi vì đó là một bệnh “có tiếng động thấp”
(une maladie à bas bruit).
Các triệu chứng của nó không dễ giải thích và những nguyên nhân cũng không
rõ ràng như huyết khối động mạch (thrombose artérielle), được biết đến
nhiều hơn bởi vì những yếu tố nguy cơ của nó là rõ ràng (cao huyết áp,
đái đường, cholestérol, thuốc lá).
Huyết khối tĩnh mạch thường được liên kết với những chuyến bay dài hay
với sự nhập viện. “Những nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu (thrombose veineuse
profonde) rộng hơn. Có những bệnh nhân được phẫu thuật, nhất là những
bệnh nhân chịu một cuộc giải phẫu chỉnh hình như đặt khớp giả đầu gối
hay háng, nhưng cũng ở những bệnh nhân được nhập viện vì một viêm phổi,
một ung thư hay một suy tim ”, giáo sư Cedric Herman, trưởng khoa huyết
học của UCL (Bruxelles) đã giải thích như vậy. “Nhưng những phụ nữ ngừa
thai bằng hormone thay thế (contraception oestroprogestative), các phụ
nữ có thai và những bệnh nhân có những bất thường về đông máu cũng có
nguy cơ” .
Loại huyết khối này khởi phát bởi vì những thương tổn mạch máu của các
thành tĩnh mạch mong manh hay những biến đổi của thành phần máu làm gia
tăng tính đông máu của nó và đưa đến một cục máu đông. Cục máu đông này,
khi tách rời ra và đi ngược lên phổi, có thể gây nên nghẽn mạch phổi (embolie
pulmoniare), có khả năng gây chết người.
“Một nửa các bệnh nhân được đặt khớp háng giả phát triển một huyết khối
tĩnh mạch (thrombose veineuse), thường nhất là không có triệu chứng, nhưng
cũng có thể diễn biến thành tệ hại nhất, Cédric Hermans đã giải thích
như vậy. Một nửa triệu người châu Âu mỗi năm chết vì biến chứng của huyết
khối tĩnh mạch. Tỷ lệ tử vong của bệnh này là 10 lần cao hơn những tai
nạn đường xá và ở bệnh viện cứ 10 tử vong thì một có liên quan với huyết
khối tĩnh mạch. Những biện pháp thông thường để ngăn ngừa là mang bas
de contention hay sử dụng các thuốc, phổ biến nhất là héparine. Nhưng
héparine có những nhược điểm: một tính hiệu quả không được đầy đủ, những
nguy cơ bị dị ứng, sự bất dung nạp thuốc, cần phải tiêm dưới da mỗi ngày,
khả năng bị những biến chứng xuất huyết.
Chính vì vậy mà nghiên cứu đã tìm kiếm một loại thuốc khác.
“Đó là tấn công vào chính cơ chế của sự đông máu và nhất là của tác dụng
của thrombine bảo đảm sự biến hóa các sợi fibrine. Những chất cản của
yếu tố Xa trong quá trình đông máu dường như đặc biệt đầy hứa hẹn. Khoảng
6 loại thuốc hiện đang được trắc nghiệm lâm sàng , nhưng đứng đầu phải
là rivaroxaban, vừa được chấp thuận bởi ủy ban châu Âu các dược phẩm để
dùng cho người. Thuốc này hình như hiệu quả hơn và không cho những tác
dụng phụ. (LE SOIR 6/9-7/9/2008)
7/ UNG THƯ VÚ : NHỮNG CHIẾN DỊCH
PHÒNG NGỪA
Vài yếu tố là căn nguyên của bệnh ung thư vú đã được xác lập rõ ràng,
nhưng các phụ nữ không hay biết chúng, trong khi đó 49.000 phụ nữ (Pháp)
bị gây bệnh mỗi năm.
Ngày nay, ở Pháp ung thư vú gây nên 49.000 trường hợp mới mỗi năm. Cứ
bảy người phụ nữ thì có một sẽ mắc phải bệnh này trong suốt cuộc đời của
họ. Người ta có thể ngăn cản một cuộc tàn sát tập thể như thế hay không?
Mặc dầu chiến dịch phát hiện được tổ chức, cho phép chẩn đoán căn bệnh
sớm hơn ngày xưa, nhưng không ngăn cản được nó. Thế mà, theo nhiều chuyên
gia, bằng những thay đổi lối sống, ta có thể ngăn ngừa, trong một mức
độ nào đó, nguy cơ bị ung thư vú. Đầu tháng 11, các chuyên gia của Société
de sénologie et de pathologie mammaire sẽ họp ở La Baule về đề tài “phòng
ngừa ung thư vú : huyền thoại hay hiện thực?” Một số chuyên gia đã kêu
gọi các chiến dịch đại chúng nhằm làm cho các phụ nữ biết về những chiến
lược lớn sẽ được thiết đặt để cố gắng dự phòng”. Theo GS Pierre Kerbrat
(Centre Eugène-Marquis, Rennes), thí dụ, 13.000 trường hợp ung thư vú
mới có thể tránh được trong Liên Hiệp Châu Âu mỗi năm, nếu chúng ta thành
công làm ốm tất cả các phụ nữ béo phì. Theo ông, cũng có thể thu giảm
30 đến 40% số những trường hợp mới mỗi năm nếu tất cả các phụ nữ tập thể
dục 30 phút mỗi ngày, sáu lần mỗi tuần.
Sự gia tăng số những trường hợp ung thư vú trong 25 năm qua được liên
kết với chiến dịch phát hiện có hệ thống, làm gia tăng số những trường
hợp được phát hiện, nhưng đồng thời cũng được liên kết với sự tiến triển
của lối sống. Ung thư vú là một bệnh phức tạp và nhiều yếu tố nguy cơ
gia đình, di truyền, hormone, thuốc men, dinh dưỡng... đã được nhận diện
đối với bệnh này. Không phải tất cả những yếu tố này đều có thể được tiếp
cận với một chiến lược phòng ngừa. “Nhưng trong một vài trong số những
yếu tố này, có đủ những điều chắc chắn để cho các thông điệp phòng ngừa
rõ ràng đối với các phụ nữ”, G.S Brigitte Seradour (Marseille) đã nhấn
mạnh như vậy. Một điều tra được công bố năm 2006 trên 10.000 học sinh,
sinh viên châu Âu từ 18 đến 30 tuổi đã nhấn mạnh mức độ không hay biết
về vấn đề này và do đó biện minh sự cần thiết của một thông tin chính
xác.
CHUYỂN HÓA BỊ BIẾN ĐỔI
Cách dinh dưỡng là một yếu tố được xác lập của ung thư vú, nhưng rất ít
được biết đến. Một cách tổng quát, chứng béo phì làm gia tăng nguy cơ
của nhiều ung thư, đặc biệt là những ung thư tùy thuộc vào các hormone
như ung thư vú nơi phụ nữ hay ung thư tuyến tiền liệt nơi đàn ông. “ Chứng
béo phì làm biến đổi sự chuyển hóa của các hormone sinh dục và làm gia
tăng nồng độ œstrogène nơi phụ nữ. Thế mà, thời gian tiếp xúc của phụ
nữ với các œstrogène càng dài, thì nguy cơ bị ung thư vú càng quan trọng
”. Chứng béo phì làm gia tăng gấp đôi nguy cơ bị ung thư vú. Trong cùng
bối cảnh, người ta đã chứng tỏ rằng sự tiêu thụ mỡ động vật, cũng như
sự tiêu thụ các acide béo trans (thành phần cấu tạo của nhiều chế phẩm
trong công nghiệp thực phẩm) là một trong những yếu tố nguy cơ riêng biệt.
Sự tập thể dục đều đặn (năm lần mỗi tuần) có một tác dụng bảo vệ, hoặc
do chống lại chứng béo phì, hoặc do một tác dụng trực tiếp lên sự tiết
các hormone. Những công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ đã phát hiện một tác
dụng phòng ngừa của sự tập thể dục đều đặn lên sự tái phát của ung thư
vú. Ngoài ra, ít phụ nữ biết rằng một sự tiêu thụ rượu, ngay ở mức độ
vừa, làm gia tăng nguy cơ 20% đến 30%. Nói chính xác hơn, nguy cơ gia
tăng 10% khi mức độ tiêu thụ trung bình rượu gia tăng mỗi ngày 10g, dầu
đó là loại rượu gì đi nữa.
Có thai lần đầu tiên muộn, càng ngày càng nhiều do lối sống, và sự không
cho bú sữa mẹ là hai yếu tố nguy cơ rất được chứng minh. Mặc dầu không
có vấn đề áp đặt những chuẩn mực lên sự lựa chọn cá nhân nhưng điều quan
trọng là phải thông tin cho các phụ nữ về những chủ đề mà họ không hay
biết gì cả. Cũng không có vấn đề xét lại quyền uống thuốc ngừa thai. Nhưng
họ phải biết rằng một phân tích méta được công bố trong Lancet năm 1996
đã kết luận rằng các phụ nữ uống thuốc ngừa thai có một nguy cơ bi ung
thư vú hơi cao hơn, so với những phụ nữ không uống thuốc và nguy cơ này
vẫn tồn tại 10 năm sau khi đã ngừng uống thuốc. Cũng vậy, từ nay, điều
trị chứng mãn kinh bằng hormone thay thế được xem như là một yếu tố nguy
cơ của ung thư vú, nhất là khi điều trị trong hơn năm năm (LE
FIGARO 23/10/2008)
8/ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
CŨNG ẢNH HƯỞNG LÊN THAI NHI
Theo một công trình nghiên cứu Thụy Sĩ, sự tiếp xúc của người mẹ tương
lai với sự ô nhiễm cũng ảnh hưởng lên thai nhi, và chi phối cách mà đứa
bé thở sau này. Chúng ta đã biết rằng sự tiếp xúc với ô nhiễm của các
trẻ em ở tuổi học đường được liên kết với một sự tăng trưởng kém hơn của
các lá phổi, nhưng người ta không biết ở mức độ nào, sự tiếp xúc của người
mẹ với sự ô nhiễm có một hậu quả lên phổi của thai nhi, đang trên đà phát
triển.
Philipp Latzin và những cộng sự viên (Thụy Sĩ) đã đánh giá lần đầu tiên
những hậu quả của sự ô nhiễm không khí lên một tập hợp 241 trẻ sơ sinh.
Ba chỉ dấu (indicateur) đã được lựa chọn : nồng độ ozone (03), dioxyde
d’azote (N02) và các phần tử (particules) có một đường kính PM10, treo
lơ lửng trong không khí. Khoảng cách từ nhà của bà mẹ và các đường xá
xe cộ tấp nập và chức năng hô hấp của các trẻ sinh đủ tháng (được đánh
giá lúc 5 tuần) cũng đã được đo.
Thì ra rằng việc tiếp xúc với các phần tử PM10 trong thời kỳ thai nghén
thực sự được liên kết với một sự biến đổi các tham số hô hấp của các trẻ
sơ sinh. Không khí càng ô nhiễm, thì tần số hô hấp, lưu lượng khí thở
vào và thể tích không khí/phút càng gia tăng. Sự gia tăng quan trọng hơn
khi chỗ ở của người mẹ nằm cách dưới 150 m một con đường rộng 6 m, được
xem như là một trục lộ lưu thông tấp nập.
So sánh với các trẻ sơ sinh của những bà mẹ ít tiếp xúc nhất với không
khí bị ô nhiễm, những trẻ đã bị tiếp xúc với ô nhiễm nhất phải thở 48
lần/phút thay vì 42 lần/phút. Như vậy tác động của sự ô nhiễm là đáng
kể ở một giai đoạn mặc dầu còn rất sớm của sự phát triển của các lá phổi.
Điều này hẳn nhắc lại “giả thuyết của Baker”, gợi ý rằng điều gì xảy ra
trong tử cũng có một ảnh hưởng lâu dài lên trên sức khỏe của mỗi cá nhân.
Nếu giả thuyết này là chính xác, “những ảnh hưởng sớm lên hệ hô hấp này
sẽ có hậu quả là một sự gia tăng các bệnh đường hô hấp ở tuổi trưởng thành”,
các tác giả đã gợi ý như vậy. (LE JOURNAL DU MEDECIN
10/10/2008)
9/ ĐIỀU TRỊ BỆNH LOÃNG XƯƠNG: MỘT
MŨI TIÊM MỖI NĂM ĐỂ CÓ MỘT LỢI ÍCH QUAN TRỌNG
Mỗi năm chỉ cần tiêm truyền một liều duy nhất acide zolédronique 5mg sẽ
làm giảm nguy cơ gãy xương và cải thiện mật độ xương (densité osseuse)
nơi những phụ nữ mãn kinh bị bệnh loãng xương (ostéoporose).
Ngày nay, bệnh loãng xương gây bệnh cho hơn 1,5 triệu phụ nữ, hoặc nhiều
hơn tỷ lệ ung thư vú, tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim hợp lại.Trong
các nước công nghiệp, gần 50% các phụ nữ trên 50 tuổi sẽ bị một gãy xương
đốt sống (fracture vertébrale), một gãy xương háng hay cổ tay. Tỷ lệ gãy
xương háng ở châu Âu sẽ gia tăng gần 30% trong hai thập niên đến. Nhưng
bệnh loãng xương cũng là một vấn đề của các ông : cứ 4 người thì có một
người bị chứng bệnh này và ở Bỉ có 90.000 đàn ông và 300.000 phụ nữ trên
50 tuổi bị chứng bệnh loãng xương này. Điều trị có hiệu quả … với điều
kiện phải chịu điều trị. Với điều trị bằng bisphosphonates bằng đường
miệng, mỗi ngày hay mỗi tuần một lần, thì vào tháng thứ sáu tỷ lệ bệnh
nhân còn theo đuổi điều trị chỉ còn 56,3% ( nữ) và 41% (nam) các bệnh
nhân, và sau một năm tỷ lệ này là 46,5% (nữ) và 27,8% (nam). Việc thiếu
tuân thủ điều trị là có nguy cơ cao : sự thiếu tôn trọng này làm giảm
một nửa khối lượng xương đạt được và nhân lên gấp 4 nguy cơ bị gãy xương.
Nguy cơ những gãy xương đốt sống mới xảy ra được thu giảm 19% nơi bệnh
nhân kiên trì trong điều trị trong khi gia tăng 35% nơi bệnh nhân không
kiên trì.
Acide zolédronique (Aclasta) thuộc họ các bisphosphonate. Đó là một chất
cản sự tiêu xương gây nên bởi các hủy cốt bào (ostéoclastes), đã chứng
tỏ tính hiệu quả trong việc làm giảm nguy cơ gãy xương trên 3 vị trí :
đốt sống, háng và ngoại biên. Acide zolédronique được phân biệt với những
thuốc bisphosphonate khác ở chỗ là chỉ cần truyền dịch mỗi năm một lần.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 24/10/2008)
10/ MỘT
THUỐC ĐỘC ĐƯỢC GỌI LÀ MELAMINE
4 nhũ nhi bị chết ở Trung Quốc sau khi mélamine được thêm vào trong các
thực phẩm. Điểm tình hình về chất độc này.
MELAMINE LÀ GÌ ?
Đó là một résine, cũng được gọi là cyanuramide, có công thức hoá học 1,3,5-triazine-2,4,6-triamine
và C3H6N6. Được hiệu chính trong những năm 1930, mélamine được sử dụng
nhất là trong việc chế tạo các chất dẻo (matières plastiques) và colles.
Đó là thành phần chính của Formica.
TẠI SAO PHẢI THÊM MELAMINE ?
Dường như sữa gây nhiễm độc đã được pha loãng với nước. Vì vậy, để tôn
trọng nồng độ tối thiểu protéine theo quy định, các nhà công nghiệp đã
thêm mélamine vào. Thật vậy, hợp chất giàu azote này “đánh lừa” dễ dàng
việc kiểm tra nồng độ protéine, vì việc kiểm tra này được căn cứ trên
định lượng các hợp chất azotes.
NHỮNG TÁC DỤNG CỦA MELAMINE LÊN SỨC KHỎE NHƯ THỂ
NÀO ?
Cơ quan kiểm tra Hoa Kỳ FDA cho rằng sự hấp thụ mélamine 0,63 mg mỗi kg
thể trọng mỗi ngày là có thể chấp nhận được. Trên mức này, mélamine có
thể gây nên sự kết tủa của các tinh thể trong các mô của thận. Điều này
có thể dẫn đến những biến chứng như suy thận cấp tính và đôi khi tử vong.
Vào giữa tháng năm và tháng tám 2008 , 4 em bé bị chết ở Trung Quốc và
gần 50.000 trẻ em đã phải được nhập viện. Vào đầu tháng mười, gần 11.000
trẻ em bị nhập viện ở Trung Hoa Lục Địa, ở Macao, và ở Hồng Kông, trong
đó khoảng 100 trong tình trạng nặng.
SẢN PHẨM NÀO BỊ LIÊN QUAN ?
Nhất là các sữa maternisés cho các nhũ nhi với những nồng độ 2.500 mg/kg.
Nhưng những sản phẩm dẫn xuất ( kem lạnh, kem bột để uống cà phê), biscuit,
kẹo (White Rabbit), mứt kẹo (Cadbury) cũng bị liên hệ. Năm 2007, mélamine
đã được tìm thấy ở Hoa Kỳ trong các thức ăn dùng cho động vật, được nhập
cảng từ Trung Quốc. 400 con mèo và chó đã bị chết. Thức ăn để nuôi cá
cũng chứa mélamine.
CÒN Ở PHÁP ?
Viện quốc gia theo dõi y tế đã thiết lập một cơ quan theo dõi đặc biệt
và yêu cầu những người làm công tác y tế báo cáo mọi trường hợp nghi ngờ
nơi những trẻ em dưới 15 tuổi có những dấu hiệu gợi ý những sỏi thận mà
không biết nguyên nhân. Tính đến hôm nay, không còn một trường hợp nào
đã được ghi nhận. (SCIENCES ET AVENIR 11/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(7/11/2008)
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |