 |
Thời
Sự Y Học
BS Nguyễn Văn Thịnh
1. THUỐC MỚI
Hai dược phẩm đầu tiên cần ghi nhớ là varénicline (Champix) và rimonabant
(Acomplia).
VARENICLINE được sử dụng trong
việc điều trị sự cai thuốc lá.Hầu hết các trường hợp nghiện có liên quan
đến một ‘circuit de récompense’ nằm trong các cấu trúc ở sâu trong não
bộ và các tế bào có những thụ thể (récepteur) đặc hiệu với nicotine. Kích
thích các thụ thể này sẽ gây nên phóng thích dopamine là căn nguyên của
sự ‘thỏa mãn’ cơ sở của chứng nghiện thuốc lá.Varénicline tác dụng như
chất chủ vận (agoniste) một phần của các thụ thể này và như vậy làm giảm
sự đòi hỏi nicotine.Varénicline tỏ ra ưu thế hơn bupropion.Varénicline
không ngăn cản sự lên cân sau khi đã bỏ nghiện.
RIMONABANT được sử dụng trong điều
trị chứng béo phì. Dược phẩm này là một chất đối kháng với các thụ thể
của cannabis (kích thích các thụ thể này sẽ đưa đến thèm ăn).Như vậy thuốc
này sẽ làm giảm việc kiếm ăn. Kết quả điều trị khá khiêm tốn, chỉ giảm
được 4,5 kg trong vòng một năm. Ngừng thuốc, thành quả đạt được sẽ nhanh
chóng biến mất
ARIPIPRAZOLE (Abilify) là thuốc chống loạn tấm thần mới nhưng hiệu quả
điều trị hạn chế. Thuốc tác dụng như một chất chủ vận một phần, cho phép
hoạt tính cơ bản dopaminergique và giảm các tác dụng phụ của các thuốc
chống loạn tâm thần.
SERTINDOLE (Serdolect) là một thuốc an thần không điển hình (neuroleptique
atypique) một lần nữa xuất hiện trên thị trường: các chỉ định đã được
xem xét lại và bị hạn chế hơn vì thuốc có thể dẫn tới sự kéo dài khoảng
QT trên điện tâm đồ.
Nhiều thuốc mới chống bệnh Parkinson xuất hiện trên thị trường : RASAGILINE
(Azilect) là một IMAOB với hiệu quả khiêm tốn. STALEVO (kết hợp levodopa
với cabidopa và entacapone) là thuốc kết hợp nhưng tốn kém. DUODOPA là
một levodopa có thể sử dụng trực tiếp qua ống thông(sonde) nơi các bệnh
nhân mở thông hổng tràng (jéjunostomisé).
TOLCAPTONE (Tasmar) làm giảm chuyến hoá của lévodopa nhưng cần tránh vì
độc tính lên gan. ROTIGOTINE (Neupro) dùng qua da (transdermique) nhung
không đem đến tiến bộ nào.
RIVASTIGMINE (Exelon) được đề nghị điều trị bệnh Parkinson liên kết với
chứng sa sút trí tuệ (démence) nhưng không có bằng chứng khả quan.
(LA REVUE DE LA MEDECINE GENERALE 2/2007)
2. MỘT BỆNH
VỀ TÌNH DỤC CÓ THỂ CHE DẤU MỘT BỆNH KHÁC NGHIÊM TRỌNG HƠN
Theo các kết quả của một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các
nhà nghiên cứu của nhiều nước, các rối loạn về tình dục đôi khi làm phát
hiện các bệnh về tim, bệnh tiểu đường, bệnh trầm cảm, bệnh xơ cứng rải
rác (sclérose en plaques) hoặc ngay cả bệnh Parkinson. Công trình nghiên
cứu này được điều hành bởi Bác sĩ Rosemary Basson của Trung tâm Giới tính
học thuộc Đại học Colombie-Britanique ở Vancouver, Canada. Công trình
nghiên cứu nhấn mạnh rằng giới tính (sexe) phải là một bộ phận của Y Khoa
mới chính dạng nhưng đã hầu như bị tách riêng ra với phần còn lại của
Y Học.
Có không ít những rối loạn về tình dục đã được nhân diện như là những
dấu hiệu cảnh cáo khả dĩ của các bệnh lý tiềm ẩn hoặc sắp xảy ra. Người
nam giới bị rối loạn về tính cương (troubles de l’érection) (vấn đề sinh
dục thường xảy ra nhất bắt đầu từ một lứa tuổi nào đó) cũng thường có
nguy cơ gia tăng bị bệnh tim. Ở các phụ nữ, sự thiếu khoái lạc tình dục
che dấu một chứng trầm cảm tiềm ẩn trong gần 26% trường hợp.
Các bệnh nhân và ngay cả các thầy thuốc không tưởng tượng ra rằng rối
loạn tình dục thường là một dấu hiệu của điều gì đó nghiêm trọng hơn.
Bằng cách sử dụng những rối loạn tình dục như là dấu hiệu của những bệnh
lý khác, các thầy thuốc có thể tranh thủ được thời gian quý báu trong
việc điều trị. Nếu các thầy thuốc tìm thấy mối liên hệ giữa sự không có
khoái lạc tình dục và những vấn để tâm thần như trầm cảm hay hợp chứng
sau chấn thương (syndrome post-traumatique) thì bệnh nhân có thể được
điều trị sớm hơn. (LANCET 2007)
3. UNG THƯ
VÚ THOÁI TRÀO Ở HOA KỲ
Lần đầu tiên từ hơn 30 năm nay, số lượng ung thư vú ở Hoa hy đã giảm sút
7% từ năm 2002 đến 2003, làm gián đoạn đồ biểu tiến triển không thay đổi
của ung thư này.Và điều này xảy ra vào lúc rất nhiều phụ nữ mãn kinh ở
Hoa Kỳ đã quyết định ngừng điều trị hormone thay thế (traitement hormonal
substitutif). Làn sóng chống điều trị hormone thay thế xảy ra sau khi
công bố vào tháng 7 năm 2002 một công trình nghiên cứu gây hãi hùng về
các nguy cơ gia tăng ung thu vú do theo đuổi phép điều trị này. Các nhà
khoa học của trung tâm chống bệnh ung thư Anderson ở Dallas thấy rõ mối
liên hệ giữa việc điều trị bằng hormone thay thế với sự gia tăng số trường
hợp ung thư vú.Việc ngưng điều trị hormone thay thế dẫn đến sự sụt giảm
còn quan trọng hơn (12%) đối với các khối u có các thụ thể (récepteurs)
dương tính đối với oestrogènes (nghĩa là những khối u mà sự tăng trưởng
được gia tốc do sự hiện diện của các oestrogènes). Ở Pháp 3-6% các trường
hợp ung thư vú được cho biết nguyên nhân do từ sự điều trị hormone thay
thế. (SCIENCE ET VIE 3/2007)
4. BỆNH TIỂU
ĐƯỜNG CÓ THỂ ẢNH HƯỞNG NGHIÊM TRỌNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC
Càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu chứng tỏ rằng bệnh tiểu
đường là nguyên nhân trực tiếp của những rối loạn tình dục và những trầm
cảm liên kết với bệnh này.
Ngay vào thế kỷ thứ 10, Avicenne đã xác lập một mối quan hệ giữa bệnh
tiểu đường và những rối loạn tình dục. Ông nói đến một sự ‘suy giảm chức
năng tình dục’ như là biến chứng của bệnh tiểu đường. Do nhiều điều cấm
kỵ, sự nghiên cứu trong lãnh vực này chỉ đã được bắt đầu vào khoảng những
năm 1950.
Nhưng những dữ kiện liên quan đến sự giảm hoạt động tình dục của đàn ông
bị bệnh tiểu đường vẫn còn khá ít ỏi. Các rối loạn tính cương theo vài
nghiên cứu ảnh hưởng đến 75% các bệnh nhân tiểu đường. Ở các bệnh nhân
bị tiểu đường rối loạn tính cương xảy ra nhiều hơn bởi vì sự hoạt động
của các cơ trơn, nội mô và sự phân bố thần kinh của vùng chậu bị thương
tổn. Mặt khác, các rối loạn về tính cương có thể là dấu hiệu báo trước
của sự thiếu máu cục bộ cơ tim. Bệnh lý này thuờng liên kết với hợp chứng
chuyển hóa (syndrome métabolique), cao huyết áp, albumine niệu và bệnh
lý võng mạc.
Ai cũng biết rằng các rối loạn tình dục khả dĩ ảnh hưởng đến các quan
hệ, lòng tự tin và chất lượng cuộc sống. Trong trường hợp suy giảm dục
tính và phóng tinh muộn, các liều lượng testostérone và prolactine được
khuyên sử dụng.
Nhưng không chỉ có rối loạn tính cương. Những rối loạn phóng tinh thường
xảy ra trong trường hợp người mắc bệnh tiểu đường, ví dụ phóng tinh lộn
ngược (éjaculation rétrograde) có thể đưa đến vấn đề về khả năng sinh
sản.
Ở phụ nữ, liên hệ giữa bệnh tiểu đường và rối loạn hoạt động tình dục
phức tạp hơn. Một phần là do các công trình nghiên cứu về vấn đề này ít
thực hiện hơn. Tuy nhiên các con số cho thấy rằng ở những phụ nữ bị bệnh
tiểu đường loại I những giao hợp đau đớn thường xảy ra hơn vì lẽ bộ máy
sinh dục ít sung huyết hơn. Ngoài ra những bệnh nhân này dễ mắc phải bệnh
do nấm candida mãn tính.
Không còn nghi ngờ gì nữa về mối liên hệ giữa loạn năng tình dục và chứng
trầm cảm và tác dụng hổ tương giữa hai hiện tượng này có thể dẫn đến một
vòng luẩn quẩn.
Lúc vấn chẩn lâm sàng bệnh nhân bị bệnh tiểu đường, không nên xếp các
rối loạn tình dục vào hàng thứ yếu. Bên cạnh những vấn đề hoàn toàn thân
thể (somatique) tiểu đường cũng có thể là dấu hiệu của chứng trầm cảm.
Ngược lại những rối loạn tình dục và chứng trầm cảm phải khiến thầy thuốc
tìm kiếm nguyên nhân trong bệnh tiểu đường.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 6/3/2007)
5. CÁC TẾ
BÀO MỠ LÀ NƠI TRÚ ẨN CỦA CÁC TRỰC KHUẨN LAO
Làm sao giải thích sự tái xuất hiện của bệnh lao nơi những người đã được
chữa lành bệnh, khi mà cơ thể không còn dấu vết trực khuẩn lao từ bao
năm tháng? Đó là bởi vì trực khuẩn ẩn mình trong một nơi từ trước đến
nay không được nghi ngờ đến: các tế bào mỡ.
Olivier Neyrolles và các cộng sự viên của Viên Pasteur đã có thể chứng
tỏ rằng chỗ ẩn dấu này bảo vệ trực khuẩn lao khỏi bị tác dụng của những
kháng sinh kể cả loại mạnh nhất.
Lúc nằm ngủ yên, trực khuẩn lao có thể nép mình trong các tế bào mỡ qua
nhiều năm tháng và một ngày nào đó nhân cơ hội hệ miễn dịch bị suy yếu
như trong trường hợp bị nhiễm trùng bởi HIV, trực khuẩn lao có thể tỉnh
dậy và hoạt động trở lại. (SCIENCE ET VIE 3/2007)
6. HÚT THUỐC
LÀM LIỆT DƯƠNG, UỐNG RƯỢU LÀM CƯỜNG DƯƠNG
Vào lúc mà ở nhiều nước việc cấm hút thuốc ở những nơi công cộng càng
ngày càng được áp dụng thì việc nhắc lại rằng hút thuốc rất có hại cho
chức năng tính cương là điều đáng lưu ý. Sau đây là kết quả của một công
trình nghiên cứu Úc Đại Lợi, một đất nước có tỷ lệ hút thuốc là đặc biệt
cao. Bên cạnh việc xác nhận tác dụng có hại của thuốc lá lên tính cương
còn có một điều ngạc nhiên rất thú vị, đó là uống một ly rượu nhỏ sẽ bảo
vệ tính cường dương. Cần nhắc lại rằng công trình nghiên cứu Massachusetts
male aging study được tiến hành trên nhóm đàn ông từ 40-70 tuổi sống ở
Boston đã chứng tỏ một sự liên hệ giữa việc nghiện thuốc lá và nguy cơ
tăng gấp đôi bị rối loạn chức năng tính cương.
Một công trình khác, lần này được tiến hành ở Việt Nam trên 4.462 cựu
chiến binh tuổi từ 31 đến 49 tuổi đã phát hiện rằng những người hút thuốc
bị chứng bất lực 1,5 lần nhiều hơn là những người không hút.
Úc Đại Lợi là một hiện trường rất tốt để nghiên cứu tác dụng có hại của
thuốc lá vì tỷ lệ hút thuốc lá ở đây đặc biệt cao. Mức trung bình đàn
ông hút thuốc là 19% (so với 16% trong những vùng tương đương khác). Ở
các thanh niên (trong lứa 20-29 tuổi) tỷ lệ đạt đến 24%. Để thực hiện
công trình nghiên cứu này, tất cả 19.307 người ở lứa tuổi trưởng thành
từ 16 đến 59 tuổi đã được yêu cầu trả lời một bảng câu hỏi được thực hiện
qua đường điện thoại. Hơn ¼ những người trả lời (27,2%) là những người
nghiện thuốc trong số đó 20,9% hút dưới 20 điếu mỗi ngày và 6,3% hơn 20
điếu mỗi ngày. Hầu như cứ mỗi mười người đàn ông thì có một người báo
cáo bị rối loạn chức năng tính cương (9,1%). So sánh với những người không
hút thuốc, nguy cơ bị rối loạn chức năng tính cương là 1,24 đối với những
người hút dưới 20 điếu mỗi ngày và 1,39 đối với những người hút nhiều
hơn. Công trình nghiên cứu cũng đưa ra những yếu tố khác liên kết một
cách đáng kể và độc lập với rối loạn chức năng tính cương: tuổi tác cao
hơn, trình độ học vấn thấp, dùng thuốc tác dụng lên tim.
Ngược lại, cũng trong cùng công trình nghiên cứu này, có vẻ như việc uống
rượu vang có mức độ liên kết với giảm nguy cơ bị rối loạn tính cương.
Thế là sau cùng bí mật về ’french lovers’ đã được phát hiện! Cảm ơn các
bạn Úc Đai Lợi. (LE GENERALISTE 8/3/2007)
7. CUỘC GIẢI
PHẪU GHÉP MẶT THỨ BA
Sau các cuộc giải phẫu được thực hiện ở Amiens (tháng 11 năm 2005) và
ở Trung quốc (tháng 4 năm 2006), một cuộc giải phẫu ghép mặt thứ ba đã
được thực hiện ở Bệnh Viện Henri-Mondor de Créteil (Val-de-Marne) ngày
21 tháng 1 năm 2007.
Một cuộc phẫu thuật ít được quảng cáo bằng phương tiện truyền thông hơn
các cuộc giải phẫu trước bởi vì không có hình ảnh nào của bệnh nhận được
công bố. Nhóm phẫu thuật của G.S Laurent Lantiéri đã giải phẫu cho một
thanh niên 29 tuổi bị một bệnh di truyền có đặc điểm là nhiều khối u hiền
tính làm biến dạng mặt. Bệnh u xơ thần kinh (neurofibromatose) này được
gọi là Maladie de Rechlinghausen, căn bệnh được minh họa trong bộ phim
Elephant man. Như GS Lantiéri đã tuyên bố vào năm 2004, ‘giải phẫu ghép
mặt là một giải pháp cuối cùng, nhằm biến đổi một khuôn mặt dị hợm thành
một khuôn mặt xấu xí’.
Cũng như đối với cuộc phẫu thuật tháng 11 năm 2005, phần dưới của mặt
(tam giác, mũi miệng) được lấy từ những người cho bị chết. Nhưng ở đây
diện tích hơi rộng hơn. Và nhất là động tác giải phẫu rất dễ gây xuất
huyết bởi vì "phải lấy đi các mô bệnh trước khi ghép các mô lành”,
nhà phẫu thuật phát biểu như thế. Vì phẫu thuật chỉ vừa mới được thực
hiện nên dự hậu vẫn còn dè dặt. Và nhiều câu hỏi được đặt ra như sự dung
nạp đối với điều trị giảm miễn dịch, sự tăng sinh trở lại các dây thần
kinh để phục hồi chức năng vận động hoặc sự chấp nhận khuôn mặt mới của
bệnh nhân, là những câu hỏi vào giờ phút này vẫn chưa được giải đáp. Tuy
nhiên nhóm phẫu thuật dự kiến đưa 5 bệnh nhân khác vào danh sách giải
phẫu. Các nhóm phẫu thuật mới cũng đang chuẩn bị để mổ trên những bệnh
nhân bỏng ở Anh và Hoa Kỳ. (SCIENCES ET AVENIR 3/2007)
8. HẠN CHẾ
ĂN CÁ TRONG THỜI KỲ THAI NGHÉN
Cơ quan quan lý dược phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ khuyên đàn bà có thai tránh
việc ăn một vài loại cá, bởi vì chúng có thể chứa nồng độ methylmercury
không an toàn và giới hạn việc ăn các hải sản chỉ còn khoảng 12 ounces
hay 2 lần mỗi tuần.
Các nước khác đã tuân thủ những chỉ dẫn tương tự. Nhưng một báo cáo của
Anh công bố trong Thế Lancet số tháng hai vừa qua, gợi ý rằng đây không
phải là lời khuyên tốt nhất.
Trong một công trình nghiên cứu quan sát trên 8000 phụ nữ có thai và các
con của họ, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng các trẻ em có mẹ ăn dưới
12 ounces hay 340 gr đồ ăn hải sản mỗi tuần có khả năng đến 45% rơi vào
tỷ số thấp nhất 25% của hệ số thông minh (intelligence quotient).
Các nhà nghiên cứu đề nghị các bà mẹ điền các bảng câu hỏi về vấn đề dinh
dưỡng của họ suốt trong thời kỳ thai nghén và sau đó báo cáo thường kỳ
về tình trạng các trẻ cho đến năm 8 tuổi. Sau khi kiểm tra trên hơn 12
chế độ ăn uống và các biến số khác, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng
nếu bà mẹ hấp thụ nhiều hơn acide mỡ omega-3 trong cá thì trẻ sẽ có phát
triển vận động tinh tế tốt hơn, phát triển xã hội tốt hơn.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng không có bằng chứng nào cho thấy việc
hấp thụ 12 ounces đồ ăn hải sản mỗi tuần đã có tác đừng có hại lên sự
phát triển của trẻ em.
‘Nhiều nhà khoa học nghĩ rằng các nguy cơ của methylmercury có trong hải
sản đã bị đánh giá quá mức trong cố gắng bảo vệ trẻ em. BS Joseph Hibbel,
người trực tiếp điều hành công trình nghiên cứu và là nhà nghiên cứu tại
Sở Y Tế Công Cộng Hoa Kỳ đã phát biểu như vậy. (INTERNATIONAL
HERALD TRIBUNE 1/3/2007)
9. TẬP THỂ
DỤC CÓ THỂ GIÚP NGƯỜI HÚT THUỐC TRÁNH BỆNH PHỔI
Những người hút thuốc không thể từ bỏ thói quen vẫn còn có thể tự giúp
mình bằng cách tập thể dục. Một công trình nghiên cứu mới đây nhận thấy
rằng những người luyện tập thể dục ít có khả năng bị bệnh phổi nghiêm
trọng như thường xảy ra cho những người hút thuốc, như bệnh phổi tắc nghẽn
mãn tính (chronic obstructive pulmonary disease). Bài báo được đăng tải
trong số tháng 3 của The American Journal of Respiratory and Critical
Care Medicine.
Để thực hiện công trình nghiên cứu này, Bác sĩ Judith Garcia-Aymerich
và các cộng sự viên của Viện Nghiên Cứu Y Học ở Barcelona đã theo dõi
sức khỏe của 6.800 người hút thuốc và không hút thuốc trong vòng 11 năm.
Trong số những người này, 928 người phát sinh bệnh phổi tắc nghẽn mãn
tính.
Công trình nghiên cứu nhận thấy rằng trong số những người hút thuốc, bệnh
xảy ra khoảng 20% ít hơn nơi những người luyện tập thể dục ở mức độ vừa
hoặc cao.
‘Có thể là việc luyện tập thể lực đều đặn có thể chống lại tác dụng của
việc hút thuốc qua cơ chế chống viêm và chống oxi hoá (INTERNATIONAL
HERALD TRIBUNE 8/3/2007)
10. ĐIỆN
THOẠI CẦM TAY KHÔNG GÂY UNG THƯ
Đó là kết luận của một trong những nghiên cứu dịch tễ rộng rãi nhất về
các nguy cơ ung thư gây nên do sử dụng điện thoại cầm tay.
Một nghiên cứu dich tễ đã theo dõi trong 10 năm trên hơn 420.000 người
Đan Mạch ở tuổi trưởng thành sử dụng điện thoại cầm tay, kể từ năm 1982
đến 1995. Trong số các người sử dụng điện thoại cầm tay này, có 14.249
người đã phát sinh một bệnh ung thư, con số gần dưới 15.001 trường hợp
được dự kiến, được tính trên cơ sở các thông kê trong nước.
Kết luận: điện thoại cầm tay không gia tăng nguy cơ ung thư. Các nhà khoa
học đã so sánh nhóm này với dân đan mạch ở tuổi trưởng thành, về tỷ lệ
các loại ung thư bị nghi là có liên quan với việc sử dụng điện thoại cầm
tay. Các nhà nghiên cứu đã không tìm thấy một sự gia tăng nào về nguy
cơ u não, ung thư máu, neurinome acoustique (u của dây thần kinh thính
giác), u các tuyến nước bọt hoặc nhãn cầu. ‘Bởi vì các tỷ lệ này giống
hệt nhau, do đó chúng tôi đã kết luận rằng không có mối liên hệ giữa việc
sử dụng điện thoại cầm tay và nguy cơ phát sinh ung thư’. Joachim Shuz
thuộc Viện Dịch Tễ Ung Thư Copenhague, Đan Mạch đã giải thích như thế.
Nghiên cứu này không đề cập đến bệnh ung thư của trẻ em, về ảnh hưởng
của sự kiện sử dụng liên tục điện thoại cầm tay, về sự phát sinh các bệnh
khác.
Song hành, OMS sẽ công bố vào giữa năm 2007 một loạt các nghiên cứu về
cùng chủ đề được tiến hành trong 14 quốc gia. Nhưng ở đây phương pháp
có khác: nghiên cứu sẽ so sánh việc sử dung điện thoại cầm tay đối với
những người ung thư cũng như đối với sự kiện sử dụng của những người lành
mạnh. (SCIENCE ET VIE 2/2007)
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
9/3/2007
>>>back>>>
|
 |