 |
Thời
Sự Y Học (April 23, 2007)
BS Nguyễn Văn Thịnh
1/ TRÀ XANH BẢO
VỆ CHỐNG BỆNH SIDA?
Các nhà khoa học đã nhận diện một cấu chất trong trà xanh
có khả năng đua tranh với siêu vi khuẩn HIV bằng cách ngăn cản tác dụng
của siêu vi khuẩn này lên hệ miễn dịch.Chất cấu thành của trà xanh nêu
trên là épigallocatéchine gallate (EGCG). EGCG đến tọa vị trước các thụ
thể (récepteurs) CD4 của các T4 và như vậy ngăn cản virus HIV liên kết
với hệ miễn dịch. Theo M.Willamson, sự việc uống trà xanh có thể làm giảm
nguy cơ bị nhiễm trùng bởi HIV và giới hạn sự khuếch tán của siêu vi khuẩn.
Tuy nhiên các nhà nghiên cứu cho biết rằng nước trà xanh không phải là
một điều trị chống bệnh Sida và dầu sao đó cũng không phải là một phương
cách chắc chắn đề phòng ngừa nhiễm trùng HIV.
Đúng hơn nếu trà xanh kết hợp với các thuốc điều trị thường dùng có thể
góp phần tạo cho các bệnh nhân có huyết thanh dương tính một cuộc sống
có chất lượng hơn. Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng nghiên cứu của họ
đang còn ở trong một giai đoạn rất sớm sủa: còn cần phải thực hiện các
nghiên cứu trên động vật trước khi có thể rút ra những kết luận về một
hiệu quả bảo vệ khả dĩ của trà xanh. Các nhà nghiên cứu cũng nhắc lại
rằng các nghiên cứu chỉ quan tâm đến khả năng in vitro của một thành phần
hóa học của trà xanh trong việc phong tỏa sự nối kết giữa HIV với những
CD4 của người. Nhưng đã nhiều lần được chứng tỏ rằng các chất có khá năng
in vitro ngăn cản một nhiễm trùng do HIV lại không có thể như vậy trong
tình huống thực tế. (LE JOURNAL DU MEDECI 17/4/2007)
2/ TỶ LỆ TỬ
VONG DO UNG THƯ VÚ GIẢM RÕ RỆT HƠN Ở NHỮNG PHỤ NỮ DƯỚI 70 TUỔI
Giữa năm 1990 và 2003, tỷ lệ tử vong do ung thư vú đã giảm
24% ở Hoa Kỳ. Sự suy giảm này rõ rét nhất ở các phụ nữ dưới 70 tuổi có
một ung thư dương tính đối với các thụ thể nhạy cảm oestrogènes (récepteurs
aux oestrogènes).
Năm 1989, tỷ lệ tử vong do ung thư vú lên đến 33 trường hợp đối với 100.000
phụ nữ mỗi năm. 15 năm sau, tỷ lệ hạ xuống 25/100.000/năm, hoặc một sự
giảm sút 24%.
«Mặc đầu sự giảm sút xảy ra trong hầu hết các nhóm nghiên cứu, nhưng rõ
rệt nhất là ở các phụ nữ dưới 70 tuổi có khối u dương tính đối với các
thụ thể nhạy cảm oestrogènes. Ở trong nhóm này, sự giảm tỷ lệ tử vong
là 38% trong khi tỷ lệ tử vong vẫn không thay đổi đối với các phụ nữ trên
70 tuổi có khối u âm tính với các thụ thể này». Ismail Jatoi, thuộc Trung
tâm Y Khoa Hải Quân Hoa Kỳ, người đã tiến hành công trình nghiên cứu với
sự cộng tác của các nhà chuyên khoa Ung Thư Học của Viện Ung Thư Quốc
Gia, đã phát biểu như vậy.
Các kết quả đã được công bố trong Journal of Clinical Oncology số
2/4. Các con số của Ismail Jatoi đưa ra được căn cứ trên 234.828
bệnh nhân nữ bị ung thư vú invasif và đã được theo dõi bởi Viện Ung Thư
Quốc Gia của Hoa Kỳ.
CẢI THIỆN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ.
Các nhà nghiên cứu phát hiện hai khuynh hướng quan trọng
cho phép họ giải thích các kết quả. Sử dụng kỹ thuật chụp quang tuyến
vú (mammographie) như là dụng cụ để phát hiện thứ hai và sự đưa vào sử
dụng tamoxène, một chất có tác dụng kềm hãm một cách đặc hiệu lên sự tăng
trưởng các tế bào ung thư nhạy cảm với oestrogènes». Tuy nhiên các nhà
nghiên cứu không thể giải thích tại sao tỷ lệ tử vong giảm ít nhanh hơn
ở các phụ nữ lớn tuổi hơn.
Có lẽ điều này có thể được giải thích là trong thực tế, một điều trị bổ
trợ (thérapie adjuvante) ở các phụ nữ lớn tuổi này được thực hiện chậm
hơn.
CÁC THUỐC MỚI
Ismail Jatoi dự kiến rằng những con số tỷ lệ tử vong này
sẽ tiến triển hoàn toàn khác trong 10 năm đến: sự thương mãi hoá mới đây
cũng như sự thử nghiệm các dược phẩm mới có thể mang lại lợi ích, nhất
là đối với các phụ nữ có ung thư vú âm tính đối với các thụ thể nhạy cảm
oestrogènes, là nhóm bệnh nhân ít được nghiên cứu cho mãi đến tận ngày
nay. Thật vậy, nhiều ung thư âm tính đối với các thụ thể nhạy cảm oestrogènes
lại dương tính đối với yếu tố tăng trưởng biểu bì (facteur de croissance
épidermique) HER2. Bắt đầu từ năm qua, các ung thư có HER2 dương tính
có thể được điều trị bổ trợ (traitement adjuvant) bằng trastuzumab, một
kháng thể monoclonal chống lại thụ thể của yếu tố tăng trưởng biểu bì
(HER2).
Vì lẽ công trình nghiên cứu của Viện Ung Thư Quốc Gia của Hoa Kỳ diễn
ra từ 1990 đến 2003, nên tác động của loại thuốc mới chống ung thư này
chưa được đánh giá rõ ràng.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 17/4/2007)
3/ SẢN XUẤT
TINH DỊCH TỪ CÁC TẾ BÀO GỐC?
Một nhóm nghiên cứu người Đức đã thành công trên người
một thí nghiệm đã được thực hiện ở loài chuột. Các áp dụng được dự kiến
để điều trị vài trường hợp vô sinh ở nam giới.
Các nhà nghiên cứu của Đại Học Đức Gottingen loan báo là
đã thành công chế tạo các tế bào tiền thân (précurseur) của tinh trùng
từ các tế bào gốc của tủy xương (cellules souches de moelle osseuse) lấy
ở những người tình nguyện nam. Nghĩa là những tế bào gốc trưởng thành.
Nếu như điều này được công nhận thì thông tin được công bố trong tạp chí
Reproduction: Gamete Biology số 13/4, sẽ mở ra những triển vọng đáng phấn
khởi để chữa vài trường hợp vô sinh nam giới, nhất là sau khi đã trải
qua hoá học trị liệu pháp.
Kỹ thuật này cũng có thể tạo khả năng cho các đồng tính
luyến ái nữ có thể sinh con đẻ cái mà không cần đến một người đàn ông
nếu có thể thu được các tế bào tiền thân của tinh trùng từ các tế bào
tủy xương lấy ở một phụ nữ »
Giáo Sư Karim Nayernia, tác giả chính của công trình nghiên cứu đã phát
biểu như vậy.
Nhà nghiên cứu này đã rời bỏ nước Đức để theo đuổi công trình nghiên cứu
tại North East England Stem Cell Institute(Nesci) ,ở Newcastle, Anh Cát
Lợi. Đây là lần đầu tiên người ta thành công thu được bằng phương pháp
nhân tạo các tế bào bào mầm (cellules germinales) như thế. Những nguyên
tinh bào (spermatogonie) là những tế bào tiền thân đầu tiên thân của các
tinh trùng. Để thực hiện điều này, các nhà nghiên cứu trước hết đã thành
công phân lập được các tế bào trung mô (cellules mésenchymateuses) của
tủy xương và cấy chúng trong môi trường. Mãi cho đến nay, các tế bào rất
đặc biệt này biến hóa thành rất nhiều loại tế bào cơ. Nhưng bây giờ đây,
bằng một hiện tượng gọi là chuyển biệt hóa (transdifférenciation), các
nhà nghiên cứu đã thành công làm các tế bào này tiến hoá thành các nguyên
tinh bào.
«Mục tiêu sắp đến của chúng ta sẽ là xem có khả nàng biến
đổi các tế bào tiền thân này thành các tinh trùng trưởng thành trong phòng
thí nghiệm hay không ». Karim Nayernia giải thích như vậy. Một công trình
nghiên cứu sẽ phải cần 3 đến 5 năm thí nghiệm. Chúng ta sẽ cộng tác với
các nhà khoa học khác của Nesci để đẩy nhanh những nghiên cứu này».
(LE FIGARO 18/4/2007)
4/ PHÁT HIỆN TRISOMIE
Một ngày nào đó xét nghiệm máu sẽ thay thế chọc dò màng
ối (amniocentèse) để phát hiện trisomie 21? Chúng ta đang tiến gần đến
điều đó, nếu tin vào các công trình của Ravinder Dhallan và các cộng sự
viên. Các nhà nghiên cứu này đã xác lập một phương thức cho phép phân
biệt trong máu mẹ các nhiễm sắc thể 13 và 21 của thai nhi (mang những
bất thường là nguyên nhân của chứng trisomie) và nhận biết các lệch lạc
nhiễm sắc thế (aberrations chromo -somiques). Được thử nghiệm trên 60
phụ nữ, kỹ thuật này đã cho phép phát hiện 3 trường hợp trisomie, trong
đó 2 trường hợp được xác nhận.Độ nhạy cảm của kỹ thuật là 66,2% và cần
phải được xác nhận trên một thử nghiệm có quy mô lớn hơn
(LA RECHERCHE 4/2007)
5/ 2,34
Đó là thừa số gia tăng của nguy cơ tai biến mạch máu não
trong trường hợp bệnh võng mạc do đái đường (rétinopathie diabétique),
theo các dữ kiện thu được trên 1600 bệnh nhận được theo dõi trong gần
8 năm. Bệnh võng mạc do đái đường là một bệnh của mao mạch võng mạc. Là
nguyên nhân đầu tiên gây mù loà trong các nước phát triển, bệnh võng mạc
do đái đường gây nên bởi tăng đường huyết kinh niên và không được điều
trị đúng cách. (SCIENCES ET AVENIR
4/2007)
6/ CAI THUỐC LÁ CÓ LỢI
Một nhóm nhà nghiên cứu Ái Nhĩ Làn đã khảo sát một nhóm
554 người bị cao huyết áp. Những người này lại được chia thành 3 nhóm:
nhóm 1 gồm 150 người nghiện thuốc, nhóm 2 gồm 268 người không bao giờ
hút thuốc và nhóm 3 gồm 136 người trước đây đã hút thuốc. Nhóm 3 lại được
chia thành 3 nhóm: những người nghiện thuốc đã dừng hút thuốc từ dưới
1 năm, từ 1 đến 10 năm ,t ừ hơn 10 năm. Bằng cách đo sóng của mạch động
mạch (onde du pouls artériel) (phản ánh tốt bề dày của động mạch), các
nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng thuốc lá làm dày thành động mạch
tỷ lệ với thời gian nhiễm độc thuốc lá nhưng thành động mạch này có thể
mỏng đi sau khi ngừng thuốc và ngay cả có thể trở lại bình thường trong
vòng 10 năm. (LA LIBRE MATCH ,19/4-26/4/2007)
7/ CÁ và OMEGA-3 NGĂN NGỪA BỆNH ALZHEIMER
Hai công trình nghiên cứu mới chứng tỏ rằng sự cung cấp
đầy đủ oméga-3 trong dinh dưỡng cho phép làm giảm sự suy thoái khả năng
nhận thức xảy ra khi tuổi càng cao
Bệnh Alzheimer là một trong trong mối đe dọa đối với sức
khỏe của người già và do đó đối với ngân sách của Y Tế Cộng Đồng. Thật
vậy người ta ước lượng rằng 20 đến 40% những người trên 80 tuổi có thể
bị bệnh này. Trong bối cảnh như thế, ta có thể tự hỏi xem liệu có những
phương tiện để phòng ngừa sự suy thoái của quá trình nhận thức xảy ra
trong bệnh này hay không. Cá và dầu cá giàu 2 chất acide béo oméga-3 có
khá nhiều hứa hẹn về điểm này, đó là acide-docosahéxaénoique (DHA) và
acide eicosapentaénoique (EPA).
Loại acide béo này chủ yếu được tìm thấy trong cá và tôm ốc ngao sò (fruits
để mer), nước ngọt hay nước mặn. DHA cũng có thể được tổng hợp từ acide
alpha-linolénique (ALA), hiện diện trong vài loại dầu thực vật, nhưng
sự tổng hợp này không được hiệu quả lắm. Ngoài ra, ở những người bị bệnh
Alzheimer, chất xám của thuỳ trán và của ngư mã (hippocampe) có nồng độ
DHA ít hơn so với người lành manh.
Ngay từ đầu những năm 90, các công trình nghiên cứu đã
được tiến hành để xem việc ăn cá có cho phép làm chậm lại sự suy thoái
của khả năng nhận thức của người già hay không. Trong ấn bản số tháng
4 của American Journal of Clinical Nutrition, William và Sonja Connor
thuộc Đaị Học Portland (Hoa Kỳ) cho biết rằng các nhà nghiên cứu vừa mới
chứng tỏ rằng các người có nồng độ DHA trong huyết thanh cao nhất ít có
nguy cơ bị sa sút trí tuệ (démence) hơn những người khác và rằng nếu ăn
cá 3 lần mỗi tuần thì khả năng nhân thức được bảo vệ hơn là chỉ ăn cá
một lần mỗi tuần mà thôi.
Một công trình được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu
Hoà Lan, Boutje Maria van Gelder và các công sự viên, nhằm vào sự liên
hệ giữa việc ăn cá và acide béo oméga-3 (EPA và DHA) và sự suy thóai khả
năng nhận thức trong vòng 5 năm. Các nhà nghiên cứu đã phân tích các dữ
kiện liên quan đến việc ăn cá của 210 người tham gia công trình nghiên
cứu này (tuổi từ 70 đến 89 tuổi vào năm 1990). Họ cũng đã đánh giá các
chức năng nhận thức vào năm 1990 và 1995. Các kết quả cho thấy rằng những
người thích ăn cá, trong vòng 5 năm đã ít bị suy thoái khả năng nhận thức
hơn nhiều so với những người không ăn cá.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 20/4/2007)
8/ NHỮNG HẬU QUẢ CỦA SỰ SUY DINH DƯỠNG TRONG
THỜI KỲ CÓ THAI
Bị nạn đói (famine) trong thời kỳ
thai nghén sẽ liên kết với sự gia tăng thể trọng và tình trạng tích mỡ
(adiposité) nơi các thế hệ về sau (nữ giới) khi chúng lớn lên.
Nạn đói phải chăng đóng một vai trò trên hậu duệ? Ít có
nghiên cứu đã phân tích những hậu quả của tình trạng kém dinh dưỡng của
phụ nữ có thai lên kích thước con cái mình lúc chúng trưởng thành. Một
nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ và Tân Tây Lan (Aryeh Stein và các cộng sự viên)
đã muốn biết xem sự giảm hấp thụ năng lượng của các phụ nữ có thai trong
thời kỳ nạn đói hoành hành ở Hoà Lan năm 1944-45 đã có những hậu quả lên
kích thước, thể trọng và các dấu hiệu tích mỡ của con cái họ lúc chúng
trưởng thành hay không.
Các nhà nghiên cứu đã tuyển mộ những người sinh ra ở miền Tây Hoà Lan
từ tháng giêng 1945 đến tháng ba 1946. Các bà mẹ của những người này đã
bị nạn đói (dưới 900 kcal / ngày) ngay trước khi thai nghén hoặc suốt
trong thời kỳ này).
Một nhóm thứ hai gồm những người sinh vào năm 1943 hay 1947 và những bà
mẹ của những người này không bị nạn đói trong lúc có thai.
Một nhóm thứ ba gồm những trẻ sinh đôi cùng giống tính mà các bà mẹ không
bị đói kém trong lúc thai nghén. Các kết quả, xuất hiện trong American
Journal of Clinical Nutrition cho thấy rằng bị đói kém trong thời
kỳ thai nghén liên kết với sự gia tăng (xảy ra ở nữ giới chứ không phải
nam giới) về thể trọng và lượng mỡ có thể cao hơn trong vài tổ chức mô.
Trái lại tình trạng đói kém không ảnh hưởng lên kích thước. Theo các tác
giả, sự kém dinh dưỡng có thể gây nên sự gia tăng tích mỡ trên hậu duệ
nữ khi chúng lớn lên. (LE JOURNAL
DU MEDCIN 20/4/2007)
9/ NHIỄM ĐỘC
THUỐC LÁ THỤ ĐỘNG (TABAGISME PASSIF) VÀ BỆNH LÝ TAI MŨI HỌNG CỦA TRẺ EM
Sự ảnh hưởng của nghiện thuốc
lá thụ động trên bệnh lý phổi đã được nghiên cứu tương đối tốt ở người
lớn và trẻ em. Ảnh hưởng của yếu tố nguy hại này lên bệnh lý tai mũi họng
của trẻ em trái lại ít được nghiên cứu đầy đủ.
Theo các dữ kiện của Trung Tâm Kiểm Tra và Phòng Bệnh (Centers
for Disease Control and Prevention) thì cứ 3 trẻ tuổi từ 2 tháng đến 5
năm sẽ có một trẻ tiếp xúc với nhiễm độc thuốc lá thụ động trong gia đình.
Ở các thiếu niên, nhiễm độc thuốc lá thụ động kèm theo
nguy cơ gia tăng các triệu chứng cấp tính và mãn tính của vùng mũi và
thường ho về đêm hơn.
Ở trẻ em 4-11 tuổi, cảm cúm và các triệu chứng của bệnh lý xoang (pathologie
sinusale) thường xảy ra hơn. Người ta cũng ghi nhận tỷ lệ viêm tai giữa
gia tăng trong 6 tháng đầu sau khi sinh với nguy cơ bị các vấn đề thính
giác.Có đến 2 triệu viêm tai mỗi năm được gán cho nhiễm độc thuốc lá thụ
động và đối với các trẻ sống trong một môi trường mà người ta hút hơn
3 gói thuốc mỗi ngày thì nguy cơ nhập viện để đặt « diabolo » được nhân
gấp 4 lần so với các trẻ không bị nhiễm.
Nhiễm thuốc lá thụ động cũng là nguyên nhân của viêm họng
(angine), nhất là viêm họng tái diễn và tỷ lệ cắt bỏ hạch hạnh nhân và
sùi vòm họng (adénoido-amygdalectomie) cao hơn.
Ở mọi lứa tuổi của trẻ em và thiếu niên, chứng ngáy lúc
ngủ thường xảy ra hơn. Điều này có lẽ là do gia tăng sức cản đối với luồng
khí vào đường mũi. (LE JOURNAL
DU MEDECIN 17/4/2007)
10/ BỆNH
PARKINSON, MỘT NGUY CƠ NGHỀ NGHIỆP
Nhà nông, thợ mỏ, thợ làm thùng xe (carrossier),
thợ hàn (soudeur) và giáo viên dễ có nguy cơ hơn mắc bệnh Parkinson. Những
người làm 4 nghề nghiệp đầu, trái với những nghề nghiệp khác, phải tiếp
xúc với các thuốc trừ sâu bệnh (pesticide) và các chất kim loại có độc
tính đối với thần kinh (métaux neurotoxiques). Còn những giáo viên thì
thường xuyên bị stress.
(LE GENERALISTE 19/4/2007)
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
(23/4/2007)
>>>back>>>
|
 |